Luống Cải Thứ Ba
Nắng sớm.
Tạ Trường An thức dậy khi bình minh chạm mặt. Chạm nhẹ. Nắng chạm qua cửa sổ phòng nhỏ, chạm mặt, chạm mắt, chạm kiểu chạm khi nắng sớm Ẩn Sơn chạm mọi thứ đều nhẹ, vì nắng sớm Ẩn Sơn không vội. Nắng ở đây không bao giờ vội.
Gã mở mắt. Trần nhà gỗ tùng. Dầm cũ. Vết nứt quen (vết nứt ở dầm thứ ba từ trái, vết nứt mà mười ba năm gã nhìn mỗi sáng khi mở mắt, vết nứt không lớn hơn không nhỏ hơn, chỉ ở đó, quen). Mạng nhện góc trần (nhện nhỏ, nhện ở đây lâu rồi, gã không phá, nhện cũng cần nhà).
Gã ngồi dậy. Lưng nhức (kinh mạch, tuổi tác, ngủ trên giường gỗ cứng). Tay run. Chân mỏi. Nhưng ngồi dậy. Ngồi dậy kiểu ngồi dậy khi mỗi sáng ngồi dậy dù lưng nhức tay run chân mỏi, vì cải cần tưới, vì cháo cần nấu, vì đứa trẻ cần ăn.
Bước ra sân. Chân trần. Đá lạnh (đá sân Thiên Khuyết, đá mà mười ba năm chân gã chạm mỗi sáng, đá quen chân, chân quen đá). Lạnh. Nhưng lạnh quen.
Bầu trời mở. Rộng. Sáng. Nhìn lên thấy mây, thấy sao tàn (sao chưa tắt hẳn, vài ngôi sáng yếu ớt trong bình minh), thấy gió từ bên ngoài thổi vào, mang mùi hư không, mùi thế giới khác, mùi xa. Bầu trời mở từ khi Dương Khuynh giải khóa, bầu trời mở từ đó đến giờ, mở mãi, không đóng lại, không bao giờ đóng lại.
Nhưng Tạ Trường An không nhìn bầu trời.
Gã nhìn đất.
Nhìn luống cải. Luống cải thứ ba. Luống mà gã trồng lại sau khi chiến tranh vườn ươm tàn phá, luống mà Tiêu Cốt trồng cạnh, luống mà Điện Chủ trồng thêm mấy mầm (vụng, nhưng sống). Luống cải thứ ba đã cao. Cao ngang ngực. Cải xanh, lá to, thân chắc, rễ sâu trong đất Ẩn Sơn.
Gã nhìn cải. Nhìn lâu. Nhìn kiểu nhìn khi kẻ trồng vườn nhìn thứ mình trồng mà thứ mình trồng lớn, lớn hơn dự tính, lớn hơn kỳ vọng, lớn kiểu lớn khi mầm được trồng đúng đất, tưới đúng nước, không bị hái, thì lớn mãi.
Gã quỳ xuống. Đầu gối chạm đất. Đất ướt (sương đêm). Đất lạnh. Nhưng đất quen. Đất mà mười ba năm gã quỳ mỗi sáng để trồng, để nhổ cỏ, để tỉa, để chạm. Đất mà biết tay gã, biết đầu gối gã, biết mồ hôi gã.
Tay chạm lá cải. Lá to. Xanh. Sương đọng trên lá. Giọt sương lạnh chạm ngón tay run. Gã vuốt lá nhẹ. Vuốt kiểu vuốt khi chạm thứ sống, nhẹ, cẩn thận, vì thứ sống thì dễ tổn thương dù lớn.
· · ·
Bếp. Cháo sôi.
Gã nấu cháo. Gạo (gạo mới, mua từ thương nhân đi qua, bây giờ rào cản mở, thương nhân đến Thiên Khuyết, bán gạo, bán muối, bán vải, Thiên Khuyết không còn cô lập). Nước (nước suối Ẩn Sơn, suối trong, suối mà mười ba năm gã gánh nước mỗi sáng). Muối (ít, luôn ít, tay run cho ít, và ít thành thói quen, và thói quen thành vị Ẩn Sơn).
Cháo sôi. Hơi bay. Mùi gạo. Mùi nhạt. Mùi nhà.
Gã múc cháo vào bát. Bát sành mẻ (bát cũ, bát mười ba năm, bát mà ai ở Ẩn Sơn đều ăn bữa đầu tiên từ bát này). Múc đủ bát cho mọi người. Bảy bát. Không, chín bát. A Cẩu mang thêm hai đứa trẻ về tuần trước. Chín bát. Chín người.
Gã bưng cháo ra sân. Đặt lên bàn gỗ tùng. Bàn cũ. Vết dao (Diệp Hàn khắc, năm đầu, khi kiếm ý chưa kiểm soát, cắt mặt bàn một vết dài). Vết mực (Ninh Tiểu Nguyệt đổ, năm thứ ba, khi viết sổ ban đêm, mực đổ, không lau kịp). Vết cháy nhẹ (Bạch Ly, năm thứ năm, yêu lực bùng khi tức giận, cháy mặt bàn một chỗ). Vết bàn cũ.
Gã nhìn nồi cháo. Cháo sôi. Bọt nhỏ nổi trên mặt, nổi rồi vỡ, vỡ rồi nổi, lặp đi lặp lại. Gã nhìn cháo sôi kiểu nhìn khi mười ba năm nhìn cháo sôi mỗi sáng, và cháo sôi mỗi sáng đều giống nhau, và giống nhau đó không nhàm, giống nhau đó ấm. Vì biết cháo sẽ sôi mỗi sáng nghĩa là biết ngày mai vẫn có. Và biết ngày mai vẫn có là xa xỉ mà kẻ trồng vườn kinh mạch rạn không dám xin nhiều hơn.
Gã khuấy cháo. Muôi gỗ. Muôi cũ (muôi mười ba năm, cán mòn, đầu muôi sẫm màu vì cháo nóng). Khuấy nhẹ. Cháo không vón. Cháo Ẩn Sơn không bao giờ vón vì gã khuấy đều, khuấy chậm, khuấy kiểu khuấy khi tay run mà khuấy chậm thì không sao, chậm thì đều, đều thì cháo mịn.
· · ·
Bàn ăn.
Điện Chủ ngồi chỗ cũ. Ghế gỗ. Chân trần (hắn không mang giày, không mang từ khi đến Ẩn Sơn, chân trần chạm đá lạnh, quen rồi). Bát cháo trong tay. Ăn chậm. Ăn quen. Không khóc (nước mắt hết từ lâu rồi). Ăn kiểu ăn khi bốn nghìn năm ăn cháo mà quen, mà biết vị, mà biết nhạt là muối ít, mà biết nóng là bếp vừa tắt, mà biết.
Mắt hắn khác. Mắt bốn nghìn năm kiểu mắt khi trống mà bớt trống, khi lạnh mà bớt lạnh, khi nhìn mà thấy. Thấy kiểu thấy khi nhìn bát cháo mà thấy bát cháo chứ không phải mầm, nhìn đứa trẻ mà thấy đứa trẻ chứ không phải tài nguyên. Mắt chưa ấm (bốn nghìn năm lạnh thì ấm chậm), nhưng bớt lạnh.
Tiêu Cốt ngồi đối diện. Bát cháo. Ăn. Ăn kiểu ăn khi kẻ bốn nghìn năm ăn bình, ăn quen, ăn kiểu ăn khi cháo là cháo, sáng là sáng, không cần gì thêm.
Vong Nguyên ngồi góc bàn. Ăn chậm (răng yếu). Cười (mỗi sáng cười, cười vì nắng, cười vì cháo, cười vì sống). Phàm nhân hai trăm năm, mỗi sáng cười là xa xỉ mà ông lão cho phép mình.
Đứa trẻ mới (A Cẩu mang về từ Vườn 31, đứa bé bảy tuổi, gầy, bẩn, sợ) ngồi cạnh hai đứa trẻ cũ hơn. Cũ hơn kiểu cũ khi đến trước vài tuần. Ba đứa trẻ ngồi cạnh nhau. Ăn cháo. Ăn im lặng. Nhưng bớt sợ. Bớt kiểu bớt khi ở Ẩn Sơn vài tuần thì bớt, vì không ai đánh, không ai lấy, chỉ có cháo.
Hai đứa trẻ mới nhất (tuần trước, A Cẩu mang từ Vườn 44) ngồi xa hơn. Sợ hơn. Chưa quen. Nhưng ăn. Ăn vì đói. Ăn vì cháo nóng. Ăn vì bát sành mẻ trước mặt không đổi gì.
Chín người. Bàn gỗ tùng. Cháo nhạt. Nắng sớm.
Gã ngồi bậc thềm bếp. Bát cháo trên tay. Nhìn chín người ăn. Nhìn Điện Chủ ăn quen, nhìn Tiêu Cốt ăn bình, nhìn Vong Nguyên cười, nhìn năm đứa trẻ ăn im lặng. Nhìn bàn ăn. Nhìn ghế thừa. Nhìn và biết: ghế thừa sẽ đầy. A Cẩu sẽ mang đứa trẻ tiếp. Và đứa trẻ tiếp sẽ sợ. Và gã sẽ đưa bát cháo. Và đứa trẻ sẽ ăn. Và ghế sẽ bớt thừa. Rồi A Cẩu mang tiếp. Và cần thêm ghế.
Vòng lặp. Xoắn ốc. Rộng.
Gã uống cháo. Nhạt. Nóng. Bụng ấm.
Cháo vẫn nhạt. Mười ba năm rồi. Vẫn nhạt.
Nhạt. Nhưng ấm.
· · ·
Tạ Trường An ăn xong. Đặt bát. Đứng dậy. Bước ra sân.
Nhìn bảng tên.
"Ẩn Sơn Tông."
Bảng gỗ. Cũ. Nứt. Nứt từ khi chiến tranh vườn ươm, nứt vì sóng chiến, nứt vì linh lực bùng. Ghép lại bằng trâm gỗ (trâm mà gã dùng cài tóc, ngày xưa, khi còn tóc dài, bây giờ tóc ngắn, trâm ghép bảng). Ghép xiêu vẹo. Bảng xiêu. Chữ mờ.
Nhưng vẫn đọc được. "Ẩn Sơn Tông." Ba chữ. Ba chữ mà mười ba năm gã viết lên bảng bằng mực tự mài, ba chữ mà mưa bão nắng gió làm mờ mà gã viết lại, ba chữ mà nứt mà ghép mà xiêu mà vẫn ở đó.
Gã nhìn bảng tên. Nhìn lâu. Nhìn ba chữ mờ trên gỗ nứt. Nhìn và không sửa. Không viết lại. Không thay bảng mới. Vì bảng nứt là bảng thật. Bảng nứt kiểu nứt khi nhà bị bão mà đứng, bị chiến tranh mà đứng, bị bốn nghìn năm mà đứng. Nứt mà đứng. Đủ.
Gã bước qua bảng tên. Ra sân. Bước đến luống cải.
Luống cải thứ ba.
Đã cao lắm rồi. Cao ngang ngực. Cải xanh. Lá to. Thân chắc. Rễ sâu. Mầm mà Tiêu Cốt trồng ở đầu luống đã thành cây con. Mầm mà Điện Chủ trồng ở giữa luống đã nhú lá thứ tư. Mầm mà gã trồng ở cuối luống đã cao nhất, cao vì trồng lâu nhất, vì đất quen tay gã nhất.
Cải cao. Lá xanh. Nắng chạm lá. Sương tan. Giọt sương rơi từ lá xuống đất, rơi nhẹ, rơi kiểu rơi khi nước trả về đất, vòng lặp, nước lên lá rồi về đất rồi lên lá, vòng lặp mà không ai bảo nước đi đâu, nước tự đi.
Gã đứng trước luống cải. Nhìn. Nhìn cải cao ngang ngực. Nhìn lá xanh. Nhìn nắng trên lá. Nhìn sương tan. Nhìn đất ướt.
Luống cải thứ ba đã cao lắm rồi.
Nhưng vẫn chưa đến mùa thu hoạch.
Vì ở Ẩn Sơn, không ai thu hoạch.
Ở Ẩn Sơn, chỉ trồng.
· · ·
Gã ngồi xuống.
Ngồi bên luống cải. Ngồi trên đất. Đất ướt. Đất lạnh. Nhưng đất quen. Đất Ẩn Sơn.
Ngồi kiểu ngồi khi kẻ trồng vườn ngồi nghỉ. Lưng nhức. Tay run. Kinh mạch rạn. Tuổi tác. Mệt. Nhưng ngồi. Ngồi giữa cải, giữa nắng, giữa sương tan, giữa đất ướt.
Nắng sớm chạm mặt gã. Chạm má. Chạm trán. Chạm vết nhăn (nhiều hơn mười ba năm trước, nhiều kiểu nhiều khi trồng vườn dưới nắng mười ba năm thì nhăn, và nhăn thì đẹp kiểu đẹp khi đất cũ đẹp hơn đất mới vì đất cũ có vết). Nắng ấm. Nhẹ. Không vội.
Gã không nhìn bầu trời mở.
Bầu trời mở ở trên. Rộng. Sáng. Các thế giới lơ lửng ngoài kia. Sáu đệ tử ở sáu hướng. Mười hai đệ tử ở sáu hướng. Thiên Phú Viện. Trường kiếm. Dược Viện. Cầu nối yêu tộc. Mầm tự do. Thời đại mới. Tất cả ở ngoài kia. Tất cả rộng. Tất cả lớn.
Nhưng gã không nhìn bầu trời.
Gã nhìn đất.
Nhìn đất ướt dưới tay. Nhìn đất Ẩn Sơn. Đất mà mười ba năm gã xới, bón, tưới, trồng. Đất mà biết tay gã. Đất mà gã biết. Đất đơn giản. Đất nhỏ. Đất không rộng bằng bầu trời. Nhưng đất thật. Đất dưới tay. Đất chạm được.
Gã nhìn đất. Và cười. Cười nhẹ. Mệt. Tay run. Nhưng cười.
Cười vì đất. Vì cải. Vì cháo nhạt. Vì bảng tên nứt. Vì đèn cổng vàng. Vì chín người ăn cháo buổi sáng. Vì sáu cái tên ở sáu hướng. Vì mầm lớn rồi. Vì cây không cần vườn ươm. Vì vườn ươm vẫn ở đây.
Nắng sớm. Đất ướt. Cải xanh. Tay chạm đất.
Kẻ trồng vườn ngồi bên luống cải, dưới bầu trời mở, không nhìn trời.
Nhìn đất.
Đất ướt dưới tay. Mầm nhỏ cạnh mầm lớn. Cải cũ cạnh cải mới. Rễ cũ cạnh rễ mới. Tất cả trong cùng một mảnh đất, mảnh đất nhỏ trên ngọn núi nhỏ ở rìa đại lục Thiên Khuyết, mảnh đất mà mười ba năm trước chỉ có một kẻ phàm nhân Kim Đan kinh mạch rạn, bây giờ có chín người, có cải, có cháo, có đèn cổng vàng, có bảng tên nứt ghép bằng trâm gỗ.
Mảnh đất nhỏ. Nhưng đủ. Đủ kiểu đủ khi nhỏ mà đủ, vì đủ không phải lớn, đủ là có.
Ở phía cổng, Tiêu Cốt đang tưới cải (vẫn tưới nhiều, nhưng cải quen rồi, cải Ẩn Sơn quen nước nhiều). Đèn cổng chưa sáng (ban ngày). Bảng tên nứt. Gió nhẹ.
Ở phía bếp, Điện Chủ đang rửa bát (hắn tự rửa, quen rồi, tay bốn nghìn năm cầm kiếm chiết cành bây giờ cầm bát sành mẻ rửa dưới nước lạnh, vụng nhưng rửa). Nước xào xạo. Bát chạm bát. Tiếng nhỏ. Tiếng nhà.
Ở phía sân, Vong Nguyên phơi nắng. Mắt nhắm. Cười. Cười vì nắng. Đơn giản.
Ở phía góc, năm đứa trẻ ngồi. Nhìn quanh. Mắt bớt sợ. Mắt bắt đầu tò mò. Tò mò kiểu tò mò khi đứa trẻ bị bỏ rơi bắt đầu nhận ra: nơi này không đánh, nơi này cho cháo, nơi này có cải và nắng và đèn vàng. Nơi này khác. Nơi này là nơi mà ai đó nói "ăn trước đã" và thật sự chỉ là ăn, không phải đổi.
Tạ Trường An ngồi bên luống cải. Nghe tiếng nước rửa bát. Nghe tiếng gió. Nghe tiếng Vong Nguyên cười nhẹ. Nghe tiếng im lặng năm đứa trẻ (im lặng cũng có tiếng, tiếng kiểu tiếng khi im lặng an toàn khác im lặng sợ, và im lặng an toàn thì nghe ấm).
Gã nghe. Và cười.
Rồi gã đưa tay. Tay run. Chạm đất. Đất ướt. Đất lạnh. Đất quen.
Ngón tay run xới nhẹ đất cạnh gốc cải. Xới kiểu xới khi trồng mầm mới. Lỗ nhỏ. Nông. Vừa đủ rễ.
Gã lấy mầm cải từ chậu nhỏ cạnh chân (chậu ươm, mầm mới nhú, mầm mà sáng nay Tiêu Cốt ươm, mầm nhỏ bằng ngón tay). Đặt mầm vào lỗ. Lấp đất. Nhẹ. Đất vừa đủ. Mầm hở. Hở kiểu hở khi mầm cần sáng, cần thở, cần lớn.
Trồng xong. Một mầm. Mầm mới. Mầm nhỏ cạnh cải lớn. Nhỏ cạnh lớn. Mới cạnh cũ.
Gã nhìn mầm mới trồng. Nhìn mầm nhỏ trong đất ướt. Nhìn và biết: mầm này sẽ lớn. Sẽ cao. Sẽ xanh. Sẽ có lá to. Sẽ có rễ sâu. Sẽ lớn cạnh cải cũ. Sẽ lớn vì đất Ẩn Sơn, vì nước suối Ẩn Sơn, vì nắng Ẩn Sơn, vì tay run nhưng nhẹ.
Và sẽ không bị hái. Vì ở Ẩn Sơn, không ai hái.
Ở Ẩn Sơn, chỉ trồng.
Nắng sớm. Đất ướt. Mầm mới. Tay run. Cải xanh. Cháo nhạt. Đèn vàng.
Ẩn Sơn.
Và trồng tiếp.