Vườn 47
Vườn 47 không có gió.
Không phải lặng gió. Không có. Gió cần linh lực, và Vườn 47 không còn linh lực. Hai mươi năm trước, Viên Chủ hái sạch, và khi hái mầm, linh lực đi theo. Mầm là nguồn, và nguồn mất thì sông cạn.
Tạ Trường An đứng trên đỉnh đồi trọc. Nhìn xuống.
Đồng bằng rộng, khô, nứt nẻ, kiểu nứt khi đất mất nước mười năm. Không cây, không cỏ, không linh thảo. Chỉ có đất, đá, và xa xa, vài cụm nhà đất, thấp, nhỏ, mái lá.
Phàm nhân.
Vài trăm người, rải rác, sống trên đất chết. Không có tu sĩ, không có yêu tu, không có linh thú. Tất cả thiên phú đã bị hái. Hai mươi năm trước, Vườn 47 có mười vạn tu sĩ, hàng triệu phàm nhân, bốn đại tông, mười hai thành. Bây giờ còn vài trăm phàm nhân và đất nứt.
– Đây là sau hai mươi năm. Hứa Vạn Thọ nói, đứng cạnh. Giọng bằng, không vui, không buồn. Vườn 47 là vườn nhỏ. Chỉ có mười vạn mầm. Hái xong, vườn kiệt. Ta để nó phục hồi tự nhiên, nhưng... hắn nhìn quanh. Hai mươi năm chưa đủ.
– Bao lâu thì đủ?
– Nghìn năm. Có thể hai nghìn. Linh lực phải tái sinh từ đất, và đất phải tự chữa.
Tạ Trường An nhìn đồng bằng nứt. Nhìn những cụm nhà xa. Hắn muốn đi xuống, nhưng kinh mạch đau, tay trái run, mắt trái vẫn mờ. Hắn ngồi xuống.
Tiêu Cốt đứng bên, mắt bạc nhìn xuống, và hắn nhớ.
– Ta đã đến đây. Hắn nói. Giọng khàn, kiểu khàn khi ba trăm năm ký ức từ từ lắng xuống. Không phải vườn này. Vườn khác. Nhưng giống.
– Vườn nào?
– Ta không nhớ số. Chiết cành cắt ký ức, cắt nhiều, cắt lâu, còn lại là mảnh. Hắn nhìn đất nứt. Nhưng ta nhớ: đất giống thế này. Sau khi hái. Và ta nhớ: có người quỳ.
Im lặng.
– Quỳ xin ta đừng hái. Tiêu Cốt nói. Ta hái. Vì có lệnh.
Hắn không nói thêm. Không biện minh. Không xin tha. Chỉ nói, vì lần đầu trong ba trăm năm, hắn có thể nói mà không bị Mạng Viên nén.
Tạ Trường An nhìn hắn. Nhìn Liêm phản, Hạ Liêm, kẻ yếu nhất trong mười hai, kẻ chọn đứng bên Ẩn Sơn, kẻ đang nhớ lại tội mình.
– Ta cũng từng hái. Tạ Trường An nói.
Tiêu Cốt quay sang. Mắt bạc mở rộng.
– Giám Sát Viên không hái. Hắn nói.
– Giám Sát Viên đánh dấu. Tạ Trường An nói. Ta đánh dấu mầm nào chín, báo Liêm đến hái. Ta không cầm liềm, nhưng ta chỉ hoa.
Hắn nhìn xuống kiếm Vạn Mầm. Ký hiệu vòng tròn trên thân kiếm, ký hiệu Giám Sát Viên số bảy, ký hiệu mà hắn dùng để đánh dấu mầm suốt năm năm.
– Năm năm. Hắn nói. Ta đánh dấu năm năm trước khi bỏ. Năm năm đó, ta đánh dấu bao nhiêu mầm, ta không đếm, nhưng nhiều.
Tiêu Cốt nhìn hắn. Lâu. Rồi ngồi xuống cạnh. Hai người ngồi trên đồi trọc, nhìn Vườn 47 chết, và cả hai đều biết: mình từng là một phần của cái máy đã giết vườn này.
Hứa Vạn Thọ đứng sau, nhìn hai người ngồi, không nói. Mắt hắn nhìn Vườn 47 kiểu người trồng vườn nhìn luống hoa đã héo: tiếc, nhưng chấp nhận, vì vườn có mùa, và mùa có tàn.
· · ·
Họ đi xuống đồi.
Tạ Trường An đi chậm, vì kinh mạch hao, vì muốn nhìn. Tiêu Cốt đi cạnh, mắt bạc quét quanh, bản năng Liêm vẫn còn dù dây đã đứt.
Gặp người đầu tiên ở chân đồi.
Bà lão. Già, gầy, lưng còng, tay cầm rổ, trong rổ có vài củ gì đó, nhỏ, xám, khô. Bà nhìn lên, thấy ba người, run.
– Xin đừng lấy. Bà nói. Giọng khàn, kiểu khàn khi nói bằng ngôn ngữ mà hai mươi năm không có ai để nói. Chỉ có chừng này. Xin đừng lấy.
Tạ Trường An dừng. Nhìn bà. Nhìn rổ. Nhìn vài củ xám khô.
– Chúng tôi không lấy. Hắn nói.
Bà lão nhìn hắn. Nhìn kiếm trên tay, nhìn áo tu sĩ, nhìn linh lực quanh người. Rồi lùi. Nhanh. Kiểu lùi khi phàm nhân thấy tu sĩ ở thế giới mà tu sĩ đã lấy đi tất cả.
– Không phải tu sĩ lấy. Tạ Trường An nói, hiểu. Nhưng bà không nghe. Bà đã chạy, nhanh nhất có thể với lưng còng và chân yếu, chạy về phía cụm nhà, rổ củ ôm chặt, kiểu ôm khi thứ trong rổ là tất cả.
Tiêu Cốt nhìn bà chạy. Rồi nhìn xuống tay mình. Tay bạc, tay Liêm, tay đã hái.
– Ba trăm năm. Hắn nói nhỏ. Ta hái ba trăm năm. Có bao nhiêu bà lão giống thế?
Tạ Trường An không đáp. Vì đáp án quá lớn.
Họ đi tiếp. Qua đồng bằng nứt, qua tàn tích thành, tường đổ, cổng gãy, đường lát đá vỡ. Hai mươi năm trước đây là thành, tu sĩ qua lại, phàm nhân buôn bán, linh thảo mọc ven đường. Bây giờ là phế tích.
Giữa phế tích, có miếu nhỏ.
Miếu đất, thấp, nhỏ, bên trong có bàn thờ, trên bàn thờ có bát hương, trong bát hương có tro. Trước miếu có bia đá, khắc chữ, mờ, nhưng đọc được.
Tạ Trường An quỳ xuống đọc.
"Mười vạn người đã mất. Ngày 17 tháng 3 năm Bính Dần. Trời lấy đi tất cả."
Mười vạn. Bia đá ghi mười vạn mầm bị hái là "trời lấy đi." Vì phàm nhân không biết Thiên Viên Hội. Không biết vườn ươm. Không biết ai hái. Chỉ biết: một đêm, tất cả tu sĩ biến mất, tất cả linh thú biến mất, tất cả người có thiên phú biến mất. Và đất chết.
Họ gọi đó là trời.
Tạ Trường An đứng dậy. Mắt đỏ, nhưng không khóc. Hắn đã khóc đủ hai mươi năm trước, đêm hắn bỏ đi. Bây giờ không cần khóc. Cần nhớ.
– Đi vườn tiếp theo. Hắn nói.
Hứa Vạn Thọ nhìn hắn. Nhìn mắt đỏ, nhìn tay nắm kiếm, nhìn lưng thẳng.
– Vườn 31. Hắn nói. Lâu hơn. Năm trăm năm.
Ba bóng bay lên, xuyên qua rào cản yếu, rời Vườn 47, hướng về Vườn 31.
Và phía sau, bà lão nhìn từ cửa nhà đất, thấy ba bóng bay đi, ôm rổ củ, run.
Hai mươi năm. Bà vẫn sợ bóng bay.