Kẻ Không Tồn Tại
Họ tìm thấy nguồn vào chiều ngày thứ ba.
Không phải tìm. Nguồn tìm họ.
Bút gãy rung từ sáng. Rung khác mọi lần: trước đây bút rung hướng Sử Hải (ấm, gọi, kéo vào). Lần này rung hướng NGƯỢC. Ra ngoài. Đẩy. Kiểu bút cảm nhận thứ gì đó thuộc về Sử Hải nhưng đang ở SAI CHỖ, đang ở ngoài, đang ở nơi không nên ở.
Hắn đi theo bút. Bốn người đi. Qua đồng bằng, qua rừng thưa, qua một con sông nhỏ (nước trong, cá bơi, bình thường, chưa bị nỗi trống chạm). Bút rung mạnh hơn mỗi bước, mực trên tay lạnh hơn mỗi bước, kiểu gần một thứ cùng hệ nhưng LỆCH, kiểu nghe bản nhạc quen nhưng sai tông.
Chiều. Thung lũng nhỏ giữa hai quả đồi thấp. Cỏ vàng, gió nhẹ, nắng xiên. Đẹp. Bình thường.
Trừ ở giữa thung lũng.
Hắn nhìn bằng mắt thường: không có gì. Cỏ vàng, đất phẳng, gió thổi. Nhìn bằng mắt hai lớp: TRỐNG. Cả hai lớp lịch sử đều trống ở một vùng tròn, đường kính hai mươi bước, giữa thung lũng. Không phải trống kiểu bị xóa (xóa để lại vết). Trống kiểu CHƯA BAO GIỜ CÓ. Kiểu lỗ thủng trên vải, vải xung quanh nguyên vẹn nhưng chỗ thủng thì không có vải, không có gì, chỉ có lỗ.
Lỗ hổng. Giống hệt lỗ hổng ở trung tâm Sử Hải. Nhưng ở đây. Ngoài trời. Trên cỏ. Dưới nắng chiều.
– Ở đây. Hắn nói. Dừng.
TY nhìn. Cô không có mắt hai lớp nhưng cô có mắt khác: mắt ký ức gốc. Và mắt đó cũng thấy.
– Thung lũng này có tên trong ký ức gốc. Cô nói. Thung lũng Bạch Hà. Có đường mòn chạy qua. Có cây đa cổ thụ ở giữa.
Hắn nhìn. Không có cây đa. Không có đường mòn. Cỏ phẳng. Trống.
– Cây đa biến mất. Cô nói. Đường mòn biến mất. Trong ký ức gốc của ta, chỗ này cũng đang MỜ DẦN. Kiểu ký ức bị gặm nhấm từ trong ra ngoài.
Hứa đứng cách vùng trống mười bước. Không vào. Bản năng Tu Sử.
– Cảm nhận được. Hứa nói. Giọng thấp. Mực trong người ta cảm nhận. Lạnh. Hút. Kiểu đứng trước giếng sâu mà giếng không có đáy.
Lục đứng xa hơn. Nửa người phai RUN NHẸ. Run kiểu cơ thể phản ứng trước thứ giống mình, thứ TRỐNG giống phần người đang phai.
– Tại hạ không nên đến gần. Lục nói. Giọng đều nhưng tay trái nắm chặt. Nỗi trống đó... kéo phần trống của tại hạ.
· · ·
Hắn đi về phía vùng trống. Một bước. Hai bước. Ba bước.
Lạnh. Mỗi bước lạnh hơn. Không phải lạnh gió, lạnh từ bên trong, lạnh kiểu ở trung tâm Sử Hải, lạnh kiểu đứng trước lỗ hổng, lạnh kiểu nỗi trống chạm da.
Bốn bước. Năm bước.
Mực trên cẳng tay SÁNG. Sáng kiểu phản ứng, kiểu gặp thứ cùng nguồn. Mực đen của hắn là mảnh Sử Hải, và nỗi trống cũng từ Sử Hải. Gặp nhau. Nhận ra nhau.
Sáu bước. Bảy bước. Rìa vùng trống.
Và hắn thấy.
Không phải bằng mắt (mắt chỉ thấy cỏ vàng, đất phẳng, không có gì). Bằng bút. Bút gãy trong tay rung mạnh, rung kiểu chuông đánh, và qua rung động đó, hắn CẢM NHẬN. Hình dạng. Ở giữa vùng trống. Hình NGƯỜI.
Không phải người. Hình dạng người. Cao. Gầy. Đứng. Nhưng không có chi tiết, không có mặt, không có tóc, không có áo. Chỉ có HÌNH DẠNG. Kiểu bóng đổ trên tường nhưng không có ai đứng trước đèn. Kiểu khuôn rỗng. Kiểu lỗ hổng có hình người.
Kẻ Vô Danh.
Không phải người. Là ABSENCE CÓ Ý THỨC. Nỗi trống của Người Viết Đầu Tiên, sau mười nghìn năm thấm trong Sử Hải, đã trở thành THỰC THỂ. Không phải sống (không thở, không ăn, không ngủ). Là TỒN TẠI. Tồn tại kiểu lỗ thủng tồn tại: nó CÓ ĐÓ bằng cách KHÔNG CÓ GÌ.
Hắn đứng. Nhìn. Tim đập nhanh. Mực buốt. Bút rung.
Rồi Kẻ Vô Danh NÓI.
Không phải giọng. Kiểu giọng trong Sử Hải nhưng yếu hơn, mỏng hơn, xa hơn. Kiểu nghe qua ba lớp tường. Kiểu âm thanh đi ngược, từ im lặng ra thành tiếng thay vì từ tiếng đi vào im lặng.
"Ngươi... đến rồi."
Hắn nuốt. Khô. Nắng chiều trên mặt, gió thổi cỏ, và trước mặt: nỗi trống có hình người đang nói.
– Ngươi là ai? Hắn hỏi. Giọng khàn.
Im lặng. Dài. Rồi giọng, yếu, xa:
"Ngươi biết."
Đúng. Hắn biết. Đã chạm lỗ hổng trong Sử Hải. Đã viết câu chuyện cho nó. Đã nghe dư vân kể. Đã viết lời hứa trên trang gốc. Hắn biết.
– Người Viết Đầu Tiên. Hắn nói.
"Không." Giọng rõ hơn một chút. Kiểu cố. "Không phải. Người Viết Đầu Tiên tự xóa. Hết. Ta là... cái còn lại. Dấu vết. Nỗi trống. Cái mà ngươi gọi là lỗ hổng."
Ngừng. Thở (không phải thở, kiểu cảm giác thở, kiểu nỗi trống co giãn nhẹ).
"Ngươi chữa vết thương ta trong Sử Hải. Viết câu chuyện. Cho ta được nhớ. Tốt."
Giọng thay đổi. Nặng hơn. Chậm hơn.
"Nhưng ta ĐÃ TRÀN RA."
Im lặng. Gió thổi qua thung lũng. Cỏ vàng nghiêng. Và ở giữa vùng trống, hình dạng người rung nhẹ, kiểu nến trong gió, kiểu thứ không bền đang cố giữ hình.
"Ta không kiểm soát được." Giọng yếu đi. Buồn. Kiểu buồn cũ, buồn ngàn năm, buồn của thứ đã đau quá lâu mà không ai biết. "Nỗi trống của ta... khi ở trong biển, bị giữ, bị nén. Bây giờ ranh giới vỡ. Ta tràn. Chạm đâu... xóa đó. Tên. Rồi danh tính. Rồi..."
Ngừng. Kiểu không muốn nói phần tiếp.
"Rồi tồn tại."
· · ·
TY đứng sau hắn. Năm bước. Sổ mở, bút trên giấy, ghi. Cô ghi từng lời. Chính xác. Kiểu cô ghi lời dư vân trong Sử Hải: tôn trọng, cẩn thận, biết mỗi chữ là bằng chứng.
Hắn nhìn hình dạng người. Hình dạng rung. Mờ. Sáng nhẹ ở rìa (sáng kiểu ánh sáng khi không có gì cản, kiểu sáng của hư vô).
– Ngươi biết cách dừng không? Hắn hỏi.
Im lặng. Dài. Rồi:
"Hai cách."
Hắn chờ.
"Một: ai đó THAY THẾ ta." Giọng nặng. "Đứng vào chỗ trống. Giữ nỗi trống không lan. Giữ giấc mơ ổn. Như ta đáng lẽ phải giữ. Nhưng ta bỏ đi. Và bây giờ cần ai đó đứng vào."
Hắn nghe. Tim lạnh. Cái giá quen. Cái giá mười sáu đời trước không ai chấp nhận.
"Hai: để ta tràn hết." Giọng nhẹ đi. Xa đi. Kiểu giọng khi nói phần không muốn nói nhưng phải nói. "Nỗi trống lan đến cùng. Mọi thứ mất danh tính. Mọi người quên mình. Và cuối cùng... im lặng. Tự do tuyệt đối."
Hắn đông cứng.
"Ta biết ngươi nghĩ gì." Giọng Kẻ Vô Danh, yếu, buồn. "Nghĩ ta muốn xóa thế giới. Không. Ta không MUỐN. Ta chỉ... không dừng được."
Ngừng. Lâu. Rồi giọng, mỏng hơn, xa hơn, kiểu dồn sức cuối:
"Chỉ khi không tồn tại, mới thật sự tự do. Không tên. Không ký ức. Không đau. Đó là giải thoát ta từng tìm."
Giọng ngừng. Lâu.
"Nhưng ta không muốn ÉP."
Giọng run. Run kiểu giọng trong Sử Hải khi dư vân kể tội lỗi. Run kiểu thứ đã làm sai biết mình sai nhưng không sửa được.
"Ta chỉ... tràn. Vì ta không còn hình. Không còn ranh giới. Không còn cái gì giữ ta lại."
Hình dạng người mờ đi. Rung mạnh hơn. Kiểu nến sắp tắt.
"Ngươi viết ta quay lại. Trong biển. Viết ta có câu chuyện. Tốt. Nhưng ở đây, ngoài biển, ta chỉ là nỗi trống. Và nỗi trống... không có chuyện để kể."
Giọng tắt. Hình dạng mờ. Vùng trống vẫn đó, tròn, hai mươi bước, cỏ phẳng, không cây đa, không đường mòn. Lỗ hổng ngoài trời, dưới nắng chiều, giữa thung lũng đẹp.
· · ·
Hắn đứng. Im. Lâu.
TY đến cạnh. Không nói. Đứng. Vai chạm vai. Sổ ghi chép đóng, bút cài sau tai. Cô đã ghi hết. Ghi hết lời Kẻ Vô Danh, ghi hết sự thật, ghi hết nỗi đau.
Hứa đứng xa, mắt nhìn vùng trống, mặt nghiêm. Lục xa hơn, nửa người phai, tay nắm chặt, mắt nhìn xuống.
Hắn nhìn vùng trống. Nhìn chỗ Kẻ Vô Danh vừa đứng (không còn hình dạng, đã mờ, đã tản, nhưng nỗi trống VẪN ĐÓ, vẫn hút, vẫn xóa). Và hắn nghĩ.
Hai lựa chọn. Thay thế: đứng vào, giữ, mất bản thân mãi mãi. Hoặc: để tràn, mất tất cả.
Nhưng hắn đã nói: con đường thứ tư. Cần tất cả. Không phải một người đứng vào lỗ hổng. Nhiều người. Mỗi người giữ một mảnh.
Và bây giờ hắn hiểu rõ hơn. Kẻ Vô Danh nói: "nỗi trống không có chuyện để kể." Ở trong biển, hắn viết câu chuyện cho lỗ hổng, và lỗ hổng NGHE, lỗ hổng thở, lỗ hổng sáng lên. Nhưng nỗi trống đã tràn ra ngoài, và ở ngoài biển, câu chuyện hắn viết chưa chạm tới.
Cần viết câu chuyện cho Kẻ Vô Danh. Không phải trong biển. Ở đây. Ngoài trời. Trong thực tại. Và cần nhiều người cùng kể. Cùng nhớ. Cùng giữ.
"Cần tất cả."
Hắn quay lại. Nhìn ba người đồng minh. Nhìn bầu trời, chữ cổ bắt đầu sáng trong hoàng hôn sớm. Nhìn mực trên tay. Nhìn bút gãy.
– Ta biết phải làm gì. Hắn nói. Giọng nhẹ. Nhưng vững.
TY nhìn hắn. Chờ.
– Cần người. Nhiều người. Cần Hàn Mộ. Cần Bách Sử Nhân. Cần tất cả những ai có mực, có ký ức, có khả năng nhìn hai lớp. Cùng viết. Cùng kể. Cùng cho Kẻ Vô Danh câu chuyện mà nỗi trống không xóa được.
Hứa nhìn hắn.
– Hàn Mộ. Hứa nói. Ngươi định mời KẺ THÙ giúp.
– Hàn Mộ không phải kẻ thù. Hắn nói. Hàn Mộ là Sử Quan. Sử Quan được tạo để giữ giấc mơ ổn. Nếu giấc mơ đang vỡ, Hàn Mộ sẽ phải chọn: giữ hệ thống cũ hay giữ giấc mơ.
Im lặng.
– Và ngươi tin ông ta sẽ chọn giấc mơ? Hứa hỏi.
Hắn không trả lời ngay. Nhìn trời. Nghĩ về Hàn Mộ ở hẻm Tàng Thư Lâu, mắt rạn khi Cảnh Vô Ký nói "đáng được nhớ." Nghĩ về ông già mệt mỏi ở bên kia cuộc chiến, ông già bốn mươi năm giữ thứ ông tin là đúng.
– Không biết. Hắn nói. Nhưng nếu ông ấy thấy mười hai người mắt trống ngồi góc phố, không biết mình là ai...
Không nói hết. Để lửng. Vì hắn tin: Hàn Mộ, dù gì, là người THẤY. Ông thấy thứ khác người thường thấy. Ông chỉ nhìn sai hướng bốn mươi năm. Nếu quay đầu lại, nhìn đúng hướng...
TY gật. Nhẹ.
– Vậy tìm Hàn Mộ. Cô nói. Trước Đại Niêm. Trước khi ông ấy đóng thứ không nên đóng.
Bốn người đứng trong thung lũng. Hoàng hôn. Nắng tắt. Chữ cổ sáng dần trên trời tối. Và ở giữa thung lũng, vùng trống tròn, lỗ hổng ngoài trời, nỗi trống không có chuyện để kể.
Hắn nhìn vùng trống lần cuối. Và trong lòng, nhẹ, hắn hứa, kiểu hắn hứa với lỗ hổng trong Sử Hải:
Ta sẽ quay lại. Với câu chuyện. Với tất cả mọi người.
Quay lưng. Đi.