Người Viết Sử
Chương 37: Hai Trăm Năm Pha Trà
Chương 37

Hai Trăm Năm Pha Trà

Sáng hôm sau, Trầm Nguyệt đã dậy trước cả mặt trời.

Mặc Huyền thức vì tiếng nước đổ vào ấm, tiếng bếp củi kêu tách nhỏ, tiếng chén đặt lên quầy gỗ. Nhịp điệu đều, quen, kiểu người làm cùng một việc mỗi sáng suốt hai trăm năm cho đến khi động tác thành hơi thở.

Hắn nằm nghe. Không mở mắt. Tiếng quán trà buổi sớm, mùi trà mới hãm, mùi khói bếp lẫn sương. Quen thuộc. Cơ thể quen, đầu không nhớ vì sao.

Tạ Yên đã dậy, ngồi bên cửa sổ, sổ mở trên đùi, viết. Thói quen cô không thay đổi dù ở đâu: tỉnh dậy, viết, rồi mới nói chuyện với thế giới.

Họ ra quán. Trầm Nguyệt đặt ba chén trà trên bàn góc, ngồi đối diện. Không hỏi thăm, không chào. Bà đã đợi hai trăm năm, không cần xã giao.

– Hôm qua ta nói chuyện dài. Bây giờ kể.

Giọng bà đều, bằng phẳng, kiểu người kể chuyện đã kể nhiều lần, cho nhiều người nghe, và mỗi lần kể đều biết người nghe sẽ không quay lại.

· · ·

– Người viết ta tên Hứa Minh Đăng. Chấp Bút đời mười hai.

Bà rót trà. Tay vững, đều, không giọt nào rơi ngoài chén.

– Đàn ông, trung niên, tóc hoa râm, giọng nhỏ. Ông ấy không giống các đời khác. Không đánh nhau, không chạy trốn, không tìm cách phá hệ thống. Ông ấy pha trà.

Mặc Huyền nhìn bà. Bà nhìn chén trà trong tay, mắt sâu, kiểu người đang nhìn thấy thứ không ai khác thấy.

– Hứa Minh Đăng viết ta vào lịch sử. Không phải vô tình, không phải thí nghiệm. Có chủ đích. Ông ấy viết: "Tại ngã ba Hoàng Lương có một phụ nữ pha trà, hai trăm năm, không già, không quên."

Bà dừng. Uống trà, chậm rãi.

– Rồi ông bảo ta. Bảo thẳng. "Ngươi là mực trên giấy. Ta viết ngươi ra."

Im lặng. Tiếng gió ngoài hiên, tiếng lá rơi trên mái ngói.

– Ta hỏi: "Vậy ta không có thật?" Ông cười. Buồn. "Ngươi có thật hơn ta. Ta sẽ bị xóa. Nhưng ngươi thuộc về lịch sử. Ngươi bền hơn mực ta viết. Vì lịch sử bảo vệ những gì đã thành quá khứ."

Tạ Yên ngừng viết. Bút treo trên trang giấy, không chạm.

– Ông ấy biết mình sẽ bị xóa? cô hỏi, giọng nhẹ.

– Biết. Đời nào cũng biết. Sớm muộn, Sử Quan đến, hoặc Sử Hải nuốt. Hứa Minh Đăng chọn cách khác: viết ta, rồi đi. Không chạy. Không đánh. Đi vào Sử Hải tự nguyện.

Bà đặt chén xuống. Nhẹ.

– Ông ấy bảo: "Ta để lại ký ức cho ngươi. Mười một đời trước, ta giữ hết. Ngươi trao cho đời sau. Đó là cách duy nhất hệ thống này không mất gốc."

Mặc Huyền nhìn bà. Tay bà trên mặt bàn, thô ráp, chai sần, ngón tay ngắn, móng cắt gọn. Tay người pha trà hai trăm năm. Tay người không già nhưng vẫn mòn.

Bà biết. Từ ngày đầu tiên, bà đã biết mình là mực trên giấy. Lão kiếm khách không biết. Lão sống trong ký ức giả, tin đó là thật, và nỗi đau của lão cũng thật. Bà sống trong sự thật, biết mình giả, và nỗi đau vẫn thật.

Cái nào tốt hơn?

– Sau Hứa Minh Đăng, Mặc Huyền nói, giọng chậm. Các đời sau đến đây?

Trầm Nguyệt gật. Rót trà thêm. Tay vẫn vững.

– Đời mười ba, Lâm Thúc Dạ. Đàn bà, trẻ, giọng to. Đến Hoàng Lương mùa đông, tóc ướt tuyết. Ta trao ký ức Hứa Minh Đăng cho cô ấy. Cô ấy nghe, ghi chép, uống hết ba ấm trà, rồi đi. Bảy tháng sau, bị Sử Quan xóa ở biên giới phía bắc. Ta cảm thấy mực tắt.

Giọng bà không đổi. Đều. Như đọc danh sách.

– Đời mười bốn, Hoàng Tử Kiên. Đàn ông, già, lưng còng. Đến đây mùa xuân. Uống trà, nghe, ghi chép. Đi. Hai năm, không tin tức. Rồi mực biến mất. Không tắt, biến mất. Không phải bị xóa. Chỉ là không còn.

Bà nhìn Mặc Huyền.

– Ta không biết ông ấy đi đâu. Mười sáu đời, chỉ có đời mười bốn là ta KHÔNG BIẾT chuyện gì xảy ra. Mực mất mà không tắt. Như người ra khỏi phòng mà không đóng cửa.

Tạ Yên viết nhanh. Bút cô chạy trên giấy, ghi từng tên, từng chi tiết. Sổ ghi chép cô là thứ duy nhất giữ được tất cả, vì ký ức cô miễn nhiễm mọi loại mực.

– Đời mười lăm, Trầm Nguyệt tiếp. Diệp Tố Vân. Đàn bà, trung niên, mắt sáng. Mạnh nhất trong các đời ta gặp, mạnh hơn cả Hứa Minh Đăng. Cô ấy đến, uống trà, cười. Bảo: "Bà đợi lâu quá, tội nghiệp." Rồi đi thẳng vào Sử Hải.

Bà dừng. Lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu, giọng bà hơi đổi. Nhẹ hơn. Mềm hơn.

– Diệp Tố Vân không bị nuốt. Cô ấy TỰ vào. Biết sẽ không ra. Vào vì muốn xem Sử Hải từ bên trong là gì. Ta hỏi: "Nếu không ra thì vào làm gì?" Cô ấy bảo: "Hiểu. Chỉ cần hiểu."

Im lặng dài. Trầm Nguyệt rót trà lần nữa. Ấm cạn, bà đứng dậy, đi lấy ấm mới. Nhóm bếp. Nước sôi. Pha. Hai trăm năm, mỗi lần ấm cạn, bà pha mới. Không bao giờ để quán hết trà.

Bà quay lại.

– Đời mười sáu. Sư phụ ngươi.

Mặc Huyền ngồi thẳng. Tay vô thức đặt lên cán bút gãy giắt hông.

– Ông ấy đến cách đây hai mươi mốt năm. Trẻ hơn ngươi bây giờ. Mất ký ức, giống ngươi. Mắt mới, giống ngươi. Ngồi bàn góc, giống ngươi. Tay tìm vết xước trên bàn, giống ngươi.

Bà nhìn hắn, mắt buồn nhẹ, kiểu buồn đã thành nếp.

– Mười sáu đời, tiểu tử. Các người giống nhau đến mức ta đôi khi nghĩ, có phải cùng một người không. Mất ký ức, mang bút gãy, ngồi bàn góc, uống trà, rồi đi.

– Sư phụ ta... kể gì? Mặc Huyền hỏi.

– Ông ấy kể ít. Hỏi nhiều. Hỏi về Sử Hải, về các đời trước, về cách xóa lịch sử và cách chống xóa. Ta trao ký ức. Ông ấy gật, uống trà, viết vào cuốn sách bìa da. Cuốn sách không tên.

Cuốn sách không tên. Cuốn ta đang mang.

– Ông ấy ở bao lâu? Tạ Yên hỏi.

– Bảy ngày. Ngày thứ tám, ông ấy đi. Bảo: "Cháu đang tìm, cháu phải quay lại." Ta hỏi: "Tìm ai?" Ông ấy: "Một đứa học trò. Ta giấu nó đi. Bây giờ phải về xem nó có ổn không."

Hắn đứng im. Lòng bàn tay ấm, nơi cán bút tựa vào da.

Sư phụ đến Hoàng Lương. Nhận ký ức. Rồi quay lại vì ta. Vì đứa học trò ông giấu.

Ta.

Tạ Yên nhìn hắn. Biết hắn đang nghĩ gì. Không nói. Có những thứ nói ra sẽ biến thành thông tin, và thông tin thì lạnh. Cô để hắn tự cảm nhận.

· · ·

Chiều. Nắng nghiêng vào quán qua cửa sổ hẹp, rọi lên mặt bàn gỗ mòn, lên vết xước dài mà ngón tay hắn đã tìm đúng hôm qua.

Mặc Huyền hỏi. Câu hỏi hắn nghĩ suốt đêm.

– Bà biết mình được viết ra. Lão kiếm khách không biết. Bà nghĩ, cái nào tốt hơn?

Trầm Nguyệt nhìn hắn lâu. Mắt sâu, không đọc được, kiểu mắt người đã sống hai trăm năm và đã trả lời mọi câu hỏi ít nhất một lần.

– Biết, bà nói. Không do dự.

– Tại sao?

– Vì khi biết, mỗi ngày sống là chọn. Lão kiếm khách của ngươi sống vì không biết cách chết. Ta sống vì chọn không chết. Khác nhau.

Bà rót trà. Chén thứ ba, hay thứ bốn, hay thứ hai trăm nghìn. Bà không đếm.

– Sáng nào ta cũng dậy. Rửa ấm. Nhóm bếp. Pha trà. Hai trăm năm, mỗi sáng đều giống nhau. Nhưng mỗi sáng ta đều biết: ta có thể không làm. Có thể nằm yên, đóng cửa, để quán mục. Không ai bắt ta pha trà. Hứa Minh Đăng viết ta thành người pha trà, nhưng ông ấy không viết "phải pha mãi". Ta pha vì ta chọn.

Bà nhìn tay mình trên bàn. Ngón dài, thô, vết phỏng cũ ở mu bàn tay trái, vết dao ở đốt giữa ngón trỏ.

– Hai trăm năm. Mồ hôi trên tay ta thật. Vết phỏng do nước sôi thật. Mùi trà mỗi sáng thật. Hư cấu hay không, cái giá ta trả là thật. Và cái ta chọn cũng thật.

Mặc Huyền không nói. Nhìn bà. Nhìn tay bà, mặt bàn, chén trà, khói mỏng bay lên. Nghĩ đến lão kiếm khách, người hắn không nhớ nhưng cơ thể nhớ mùi cháo đậu phộng mỗi sáng.

Lão kiếm khách sống hồn nhiên trong ký ức giả. Trầm Nguyệt sống tỉnh táo trong sự thật. Cả hai đều thật, vì nỗi đau thật, vì mồ hôi thật, vì hai trăm năm rửa ấm là hai trăm năm rửa ấm bất kể ai viết.

Nhưng bà chọn được. Lão không.

Cái nào tốt hơn? Bà nói đúng. Biết tốt hơn. Vì biết thì mỗi sáng pha trà là một quyết định, không phải quán tính.

Tạ Yên viết. Bút cô trên giấy, ghi từng chữ. Cô không bình luận, không hỏi thêm. Cô ghi, vì đó là cách cô giữ mọi thứ: viết xuống, không để ký ức nào rơi.

· · ·

Gần tối, Mặc Huyền hỏi thêm một câu.

– Lão kiếm khách. Bà có cảm nhận được hắn?

Trầm Nguyệt gật. Chậm.

– Hai năm trước, ta cảm thấy có đồng loại mới. Ở phía bắc, xa. Ấm. Kiểu ấm của mực tươi, mới viết, còn ướt. Ai đó đã viết một người vào lịch sử, và người đó bắt đầu sống.

Bà dừng. Nhìn chén trà.

– Rồi vài tháng trước, biến mất. Đột ngột. Như nến bị thổi tắt.

Im lặng nặng. Tiếng gió ngoài phố, tiếng trẻ con cười xa, tiếng ấm nước rì rào trên bếp.

– Ai đó xóa hắn, Tạ Yên nói, giọng thấp.

– Hàn Mộ? Trầm Nguyệt hỏi, không ngạc nhiên.

Tạ Yên gật. Trầm Nguyệt thở ra, nhẹ, kiểu thở của người đã nghe tin xấu quá nhiều lần để còn bị bất ngờ.

– Vậy đời mười bảy đã gặp Đại Sử Quan rồi.

Không phải câu hỏi. Là xác nhận. Bà nhìn Mặc Huyền, mắt sâu hơn, nặng hơn.

– Hắn không nhớ, bà nói với Tạ Yên. Nhưng cơ thể hắn nhớ. Ta thấy, hôm qua. Cách hắn ngồi bàn góc. Cách tay hắn đặt trên bàn, kiểu người đã từng ngồi với ai đó quan trọng ở một quán trà khác. Hắn không nhớ lão kiếm khách. Nhưng tay hắn nhớ bàn lão ngồi.

Mặc Huyền nghe. Không nói gì. Vì bà nói đúng, và hắn biết bà nói đúng, vì ngón tay hắn lúc này đang đặt trên vết xước dài ở mép bàn gỗ, chính xác như hôm qua, chính xác như mỗi lần ngồi bàn góc ở mỗi quán trà hắn không nhớ đã ngồi.

· · ·

Đêm. Phòng trọ sau quán. Tạ Yên viết bên cửa sổ, đèn dầu lay nhẹ.

Mặc Huyền mở cuốn sách không tên. Trang mới. Viết:

"Ngày 15. Cố Trầm Nguyệt. Hai trăm hai mươi năm. Do NVS đời mười hai viết ra có chủ đích. Bà biết mình là mực trên giấy từ ngày đầu tiên."

Dừng. Nghĩ. Viết thêm:

"Mười sáu đời Chấp Bút đã đến quán này. Tất cả bị xóa hoặc biến mất. Bà pha trà và đợi. Hai trăm năm. Mỗi sáng bà dậy, rửa ấm, nhóm bếp. Không ai bắt. Bà chọn."

Viết thêm:

"Ta hỏi: biết mình là hư cấu, có thay đổi gì không? Bà nói: thay đổi mọi thứ. Vì khi biết, sống không còn là quán tính. Là quyết định."

Dừng bút. Nghĩ lâu. Viết dòng cuối:

"Vết phỏng trên tay bà, thật. Mùi trà mỗi sáng, thật. Hai trăm năm rửa ấm, thật. Có lẽ đó mới là thật. Không phải ai viết, mà ta sống thế nào."

Gấp sách. Nằm xuống.

Từ phía quán, tiếng Trầm Nguyệt quét sàn. Chậm, đều, nhịp điệu của người đã quét cùng mặt sàn này hai trăm năm. Tiếng chổi tre trên gỗ, tiếng bụi rơi xuống bậc cửa. Bà không cần quét, sàn không bẩn. Nhưng bà quét, vì đó là thói quen, và thói quen của bà là cách bà sống: mỗi động tác nhỏ, mỗi ngày, là bằng chứng bà vẫn chọn ở đây.

Hắn nhắm mắt. Nghĩ đến lão kiếm khách hắn không nhớ, đến mùi cháo đậu phộng hắn không giải thích, đến quán trà Cố Nhân hắn không biết tên nhưng cơ thể nhớ góc ngồi.

Hai người được viết ra. Lão không biết, bà biết. Lão sống vì không biết cách chết, bà sống vì chọn không chết. Cả hai đều thật.

Và ta, người viết ra lão, lại là kẻ không nhớ gì.

Trong ba người, ai sống thật nhất?

Không trả lời. Nhắm mắt. Ngủ.

Bên ngoài, tiếng chổi dừng. Trầm Nguyệt đứng ở hiên, nhìn trăng. Hai trăm năm, bà đã nhìn trăng từ hiên này nhiều hơn bất kỳ ai còn sống. Trăng không đổi. Bà cũng không đổi. Chỉ có những người uống trà ở bàn góc đổi, đời này sang đời khác, cùng một chiếc bút, cùng một câu hỏi.

Bà quay vào. Đóng cửa. Tắt đèn.

Ngày mai sẽ pha trà. Như mỗi ngày. Vì bà chọn.

Ch.37/115
2.327 từ