Quán Trà Không Có Trên Bản Đồ
Ngã ba Hoàng Lương hiện ra vào buổi chiều ngày thứ mười bốn.
Hai ngày rời đường rừng, đi nhanh, ít nghỉ. Tạ Yên không hỏi tại sao vội, cô biết: Trương Vô Tích rút lui nhưng không biến mất. Hắn đang ở đâu đó phía sau, đang viết báo cáo, đang đợi tiếp viện. Thời gian không đứng về phía họ.
Hoàng Lương nhỏ hơn Bình Hà. Giao lộ ba hướng: bắc về Vân Đô, nam xuống biên giới, tây lên núi. Phố chợ ngắn, vài quán trọ, quán ăn, tiệm vải. Dân ít, phần lớn là khách qua đường dừng chân rồi đi. Thị trấn ngã ba, sống nhờ người ghé, không nhờ người ở.
Mặc Huyền dừng bước ở đầu phố. Nhìn kỹ.
Mắt hai lớp mở, tự nhiên, không gắng sức. Quen rồi, hai tuần trên đường, hắn đã học cách nhìn mà không cố, như người mở mắt thấy mọi thứ cùng lúc mà không cần tập trung.
Lớp hiện tại: phố chợ, mái ngói, khói bếp.
Lớp gốc: phố chợ, mái ngói, khói bếp.
Hai lớp giống nhau. Hoàn toàn.
Hắn chớp mắt. Nhìn lại. Vẫn vậy. Không sai biệt, không bóng mờ, không chồng lấn. Phố này, nhà này, cây này, đường này, lớp gốc và lớp hiện tại trùng khớp hoàn hảo. Không ai sửa. Không ai viết. Lịch sử Hoàng Lương sạch.
Lạ. Từ Vân Đô đến đây, nơi nào cũng có ít nhất vài sai biệt giữa hai lớp. Cây liễu, giếng, biển hiệu, cầu đá. Nhưng ở đây, không.
– Ngươi thấy gì? Tạ Yên hỏi, quen rồi, hỏi mỗi khi hắn dừng nhìn.
– Không thấy gì. Hai lớp giống nhau. Hoàn toàn.
Cô nghiêng đầu, nghĩ.
– Thị trấn không bị sửa?
– Không bị sửa. Sạch.
– Hoặc được bảo vệ, cô nói, giọng nhẹ nhưng mắt sắc. Ai đó giữ cho nơi này không bị chạm vào.
Giống vùng yên tĩnh quanh ông Chu. Dấu niêm bốn mươi năm giữ cổng Sử Hải ổn định. Ở đây, ai đó đã niêm cả thị trấn.
Họ đi vào phố. Bình thường. Dân nhìn, gật đầu, quay đi. Hai người lạ qua đường, không có gì lạ ở ngã ba.
· · ·
Quán trà cuối phố.
Không tên trên biển hiệu. Biển hiệu có, nhưng chữ mòn đến mức chỉ còn vết khắc, đọc không ra. Mái ngói rêu xanh, cửa gỗ mòn, hiên hẹp, bậc đá vào cửa lõm giữa vì bao nhiêu bước chân đã đi qua.
Tạ Yên dừng trước cửa. Nhìn quán, rồi nhìn hắn, rồi nhìn quán lại. Mắt cô chớp, nhanh, kiểu người nhận ra thứ gì đó không muốn nhận ra.
– Quán này, cô nói, thấp giọng. Giống quán Cố Nhân.
Hắn nhìn. Mái ngói rêu, cửa gỗ mòn, hiên hẹp. Quen thuộc. Quen kiểu cơ thể nhớ, kiểu chân muốn bước vào trước khi đầu quyết định, kiểu tay muốn kéo ghế ngồi bàn góc.
Bàn góc.
Hắn không biết tại sao nghĩ đến bàn góc. Không nhớ quán Cố Nhân, không nhớ lão kiếm khách ngồi bên ghế, không nhớ bà Châu pha trà. Nhưng nhìn quán này, thứ đầu tiên hiện lên trong đầu là bàn góc.
Cơ thể nhớ. Lại cơ thể nhớ.
Họ bước vào.
Quán nhỏ, năm bàn gỗ, ghế thấp, đèn dầu treo trên xà. Mùi trà cũ, mùi trầm hương, mùi gỗ ẩm. Ấm và quen, kiểu không giải thích được, kiểu đi vào nơi chưa từng đến mà cảm giác đã đến rồi.
Phụ nữ đứng sau quầy. Trung niên, tóc đen dài có sợi bạc, mắt sâu, kiểu mắt người đã nhìn quá nhiều thứ trong quá nhiều năm. Tay thô ráp, tay người làm việc bằng tay hai trăm năm. Áo xám lam, giản dị, sạch.
Bà nhìn họ bước vào. Bình thường. Hai khách mới. Rót trà, đặt lên quầy.
Rồi mắt bà dừng.
Ở bút gãy giắt hông hắn.
Bà nhìn bút. Lâu. Mắt bà thay đổi. Không đột ngột, không kịch tính, chỉ là chuyển, chậm, từ vẻ bình thản của người pha trà mỗi ngày sang thứ gì đó cổ hơn, sâu hơn, mệt mỏi hơn, nhẹ nhõm hơn. Như người đã đợi rất lâu, lâu đến mức quên mình đang đợi, và bây giờ nhớ lại.
– Bút trúc đen. Nứt dọc. Hai chữ mờ.
Bà nói. Không phải câu hỏi. Giọng bằng phẳng, đọc như đọc sử ký. Giống cách ông Chu nói, giống cách người thuộc hệ thống nói: chính xác, không thừa, không thiếu.
– Ngươi là đời thứ mười bảy.
Mặc Huyền đứng im. Tay vô thức đặt lên cán bút.
– Bà biết?
– Đời thứ mười hai bảo ta đợi.
Bà rót trà thêm. Tay không run. Hai trăm năm pha trà, tay bà vững hơn đá.
– Hai trăm năm rồi.
Im lặng. Tiếng nước sôi trong bếp, tiếng gió ngoài hiên, tiếng chén đặt lên quầy gỗ. Bình thường. Nhưng không bình thường, vì người phụ nữ đứng trước mặt hắn vừa nói hai trăm năm bằng giọng người nói hai ngày.
Tạ Yên bước lên, giọng nhanh hơn bình thường:
– Bà là ai? Đợi bằng cách nào? Hai trăm năm?
Cố Trầm Nguyệt nhìn cô. Mắt sâu, buồn nhẹ, kiểu buồn đã thành nếp.
– Ngồi. Uống trà. Chuyện dài hai trăm năm, không kể bằng một chén.
Cô rót thêm hai chén, đặt lên bàn gần nhất. Bàn góc.
Mặc Huyền ngồi xuống. Tay chạm mặt bàn gỗ, sờn, cũ, mòn. Quen. Quen đến mức ngón tay tự tìm vết xước dài ở mép bàn, tìm đúng, dù hắn chưa bao giờ ngồi ở bàn này.
Hoặc đã ngồi. Ở một bàn góc khác, trong một quán khác, giống quán này. Mà ta không nhớ.
Tạ Yên nhìn hắn ngồi bàn góc. Mắt cô chớp, nhanh, rồi bình thường. Cô biết. Biết hắn đang cảm nhận quán Cố Nhân qua quán này, biết cơ thể hắn nhớ lão kiếm khách ngồi bên ghế, bà Châu rót trà, mùi trà chiều. Biết nhưng không nói, vì nói ra sẽ biến cảm giác thành thông tin, và thông tin thì lạnh.
Cố Trầm Nguyệt mang ấm trà lớn đến bàn. Ngồi đối diện. Nhìn cả hai, chậm, kỹ, kiểu người đã nhìn mười sáu đời Chấp Bút ngồi ở cùng chỗ này.
– Đời mười bảy, bà nói, giọng đều. Hắn không nhớ gì.
Không phải câu hỏi. Là nhận xét.
– Sao bà biết? Mặc Huyền hỏi.
– Mắt ngươi. Đời mười sáu, sư phụ ngươi, lần đầu đến đây cũng mất ký ức. Mắt người mất ký ức khác: nhìn mọi thứ đều mới, nhưng cơ thể phản ứng kiểu cũ. Ngươi ngồi bàn góc, tay tìm vết xước. Đầu không nhớ, tay nhớ.
Hắn nhìn tay mình trên mặt bàn. Ngón trỏ đặt đúng vết xước dài.
Sư phụ ta. Đời mười sáu. Cũng mất ký ức. Cũng ngồi bàn góc.
Cũng đến đây.
– Cuối cùng cũng đến, Trầm Nguyệt nói, giọng nhẹ hơn, mềm hơn, kiểu người thở ra sau khi nín lâu. Hai trăm năm. Mười sáu đời. Cuối cùng cũng có đời thứ mười bảy.
Bà rót trà. Trà nóng, khói bay, mùi thơm nhẹ, không phải trà thường. Mùi sâu hơn, ấm hơn, kiểu trà đã được pha bằng hai trăm năm thói quen.
Hắn uống. Ngon. Ngon thật, không phải ngon vì cơ thể nhớ, mà ngon vì trà ngon. Trà này đã được pha hàng nghìn lần, mỗi lần tốt hơn lần trước, cho đến khi hoàn hảo trở thành thói quen.
Hai trăm năm pha trà. Nếu đó là hư cấu thì hư cấu cũng mệt.
Bà nhìn hắn uống. Mắt bà mềm đi, thoáng, rồi cứng lại. Kiểu người không cho phép mình mềm lâu.
– Ngươi đến từ Vân Đô? bà hỏi.
– Vân Đô. Ông Chu bảo đến đây.
– Chu Tĩnh Thủy. Lão ấy vẫn giữ cổng.
Không phải câu hỏi. Bà biết.
– Bà quen ông Chu? Tạ Yên hỏi.
– Quen. Bốn mươi năm trước, lão đến đây uống trà trước khi nhận nhiệm vụ giữ cổng. Lão hỏi ta: "Nên giữ hay nên đi?" Ta nói: "Giữ. Vì đi thì ai canh?" Lão gật, uống hết chén, rồi đi Vân Đô. Không quay lại.
Bà rót trà thêm. Tay vững, đều, không giọt nào rơi ngoài chén.
– Và cô nương, bà nhìn Tạ Yên. Mắt cô miễn nhiễm. Con gái Tạ Kỳ Sơn?
Tạ Yên cứng người.
– Bà biết cha ta?
– Kỳ Sơn đến đây mười bảy năm trước. Trước khi đến Vân Đô, trước khi lặn. Ông ấy hỏi ta về Sử Hải, về đường vào, về cách cứu NVS mười sáu. Ta nói: không ai vào mà ra được. Ông ấy nói: "Không phải chuyện ra được. Là chuyện phải vào."
Giọng bà dừng một nhịp. Nhẹ.
– Giống ngươi, bà nhìn Mặc Huyền. Đời mười sáu cũng nói y hệt. "Không phải chuyện quay lại. Là chuyện phải thử." Các người đều giống nhau. Mười sáu đời, câu nào cũng na ná.
Bà mỉm cười. Lần đầu tiên. Nụ cười nhỏ, mệt mỏi, nhưng thật.
– Uống trà đi. Ngày mai ta kể.
· · ·
Đêm. Phòng trọ phía sau quán. Nhỏ, sạch, hai giường, cửa sổ nhìn ra sân sau, cây mận già, lá rụng gần hết.
Tạ Yên ngồi bên cửa sổ, sổ trên đùi, bút trong tay. Viết. Thói quen.
Mặc Huyền nằm, nhìn trần gỗ. Nghĩ.
Cố Trầm Nguyệt. Hai trăm năm. Đợi mười sáu đời Chấp Bút. Pha trà và đợi.
Bà nhận ra bút gãy ngay lập tức. Bà biết ông Chu. Bà biết cha Tạ Yên. Bà biết sư phụ ta. Bà biết tất cả, vì bà ĐỢI tất cả.
Và bà giống lão kiếm khách. Cả hai đều được viết ra. Nhưng lão không biết, bà biết. Lão sống trong ảo tưởng, bà sống trong sự thật.
Cái nào tốt hơn?
Hắn mở cuốn sách không tên. Trang mới. Viết:
"Ngày 14. Hoàng Lương. Gặp Cố Trầm Nguyệt. Hai trăm năm pha trà. Được viết ra bởi NVS #12. Bà biết mình là mực trên giấy. Nhưng tay bà thô ráp vì hai trăm năm rửa ấm. Trà bà pha ngon. Nụ cười bà mệt nhưng thật."
Dừng bút. Nghĩ. Viết thêm:
"Quán này giống một nơi nào đó ta không nhớ. Bàn góc, vết xước, mùi trà. Cơ thể biết. Đầu không biết. Ta bắt đầu tin cơ thể hơn đầu."
Gấp sách. Tắt đèn.
Trong bóng tối, từ phía quán, tiếng ấm trà đặt lên bếp. Trầm Nguyệt vẫn thức. Hai trăm năm, bà thức khuya hơn bất kỳ ai, vì bà không cần ngủ nhiều. Người được viết ra không ngủ theo lịch sinh học bình thường, bà ngủ theo thói quen, và thói quen hai trăm năm là thức khuya pha trà cho chính mình.
Tiếng ấm trà. Đều. Quen.
Hắn nhắm mắt. Lần này, ngủ dễ hơn mọi đêm trên đường.
Vì nơi này, dù hắn không nhớ, cơ thể hắn nhận ra là nhà.