Lý Do Của Trăm Mảnh
Tùng Lâm mới trông giống thiên đường.
Bốn người vào thị trấn lúc sáng sớm, sương chưa tan, và điều đầu tiên Mặc Huyền nhận ra: phiên bản mới ĐẸP hơn. Đường rộng hơn, nhà ngay ngắn hơn, chợ sầm uất hơn. Không có tường thành, không có cổng kiểm soát, không có lính canh. Nông dân tự do, đúng như Bách Sử Nhân nói. Họ cày ruộng ngoài thị trấn, mang rau vào chợ bán, gọi nhau bằng tên, cười lớn. Không thuế triều Trần. Không luật triều Trần. Không ngục triều Trần.
Hứa đi cạnh Mặc Huyền, mắt quét khắp phố.
– Phải công nhận, hắn nói. Nhỏ, gần như thì thầm. Gã viết tốt.
Mặc Huyền không đáp. Hắn nhìn bằng mắt hai lớp.
Và hai lớp kể câu chuyện khác.
Lớp cũ: phố nhỏ hơn, chen chúc hơn, nhà gỗ thấp, biển hiệu sờn, có cổng đông và cổng tây với lính gác mặc áo triều Trần. Lớp mới đè lên, dày hơn, rõ hơn, gần như nuốt hẳn lớp cũ. Ở trung tâm thị trấn, lớp cũ mờ đến mức Mặc Huyền phải nheo mắt mới thấy. Ở rìa, hai lớp còn nhấp nháy nhưng lớp mới vẫn thắng.
Bách Sử Nhân đã viết gần xong. Tùng Lâm "mới" đang trở thành Tùng Lâm DUY NHẤT.
Tạ Yên đi cạnh hắn, sổ mở, bút sẵn sàng. Cô không nhìn hai lớp nhưng cô NGHE. Nghe giọng nói, nghe câu chuyện, nghe cách dân gọi nhau. Cô ghi: tên chợ, tên đường, tên người bán rau góc phố, tên bà lão bán bánh đầu ngõ. Ghi vì đó là việc của cô. Ghi vì không ai khác ghi.
Lục đi phía sau, tay trái trong tay áo, mặt phẳng. Hắn không nói gì từ khi vào thị trấn. Nhưng mắt hắn nhìn mọi thứ, kiểu nhìn của người từng xóa những thứ giống thế này.
Họ thuê phòng ở khách điếm gần chợ. Phòng sạch, giá rẻ, chủ điếm tốt bụng, cho thêm bát cháo nóng buổi sáng vì "mấy người đi đường xa, ốm lắm." Mặc Huyền nhìn bà chủ điếm bằng mắt hai lớp: lớp cũ, bà là vợ lính Trần, tóc búi, mặt lo, chồng đi trấn biên chưa về. Lớp mới, bà là chủ điếm góa, tóc búi kiểu khác, chồng mất vì bệnh, nuôi con một mình, cười nhiều hơn.
Hai cuộc đời. Hai nỗi khổ. Cùng một người.
Ba ngày đầu, Mặc Huyền đi khắp Tùng Lâm.
Hắn đi chợ, nghe dân nói chuyện. Đi miếu thờ ở rìa thị trấn, miếu thờ KHÁC: lớp cũ thờ tướng Trần Khánh Dư, lớp mới thờ thần đất, không tên, không mặt, chỉ bát hương và cây đa cổ. Đi cánh đồng phía tây, nhìn nông dân gặt lúa, lớp cũ gặt CÙNG lúa nhưng gánh gồng nặng hơn vì phải nộp thuế, lớp mới gánh nhẹ hơn vì tất cả là của mình.
Mỗi nơi hắn đi, hắn thấy: phiên bản mới TỐT HƠN. Ít khổ hơn. Ít bất công hơn. Ít máu hơn.
Bách Sử Nhân không nói dối. Vương tộc Trần là gánh nặng. Xóa Trần đi, dân nhẹ gánh.
Nhưng không chỉ có thế.
Ngày thứ tư, Mặc Huyền tìm thấy cô.
Góc chợ sáng, khuất sau hàng vải, có chỗ ngồi thấp giữa hai bức tường đất. Mặc Huyền đi ngang không để ý. Tạ Yên dừng lại.
– Có người khóc, cô nói.
Mặc Huyền quay lại. Nhìn.
Người phụ nữ khoảng ba mươi tuổi, tóc buộc lỏng, áo nâu sạch nhưng bạc màu, ngồi ôm gối trên bậc đá thấp. Không khóc to. Khóc kiểu nước mắt chảy mà miệng im, kiểu khóc đã quá quen đến mức không cần tiếng nữa. Cạnh cô, thúng rau bỏ dở, vài bó cải xanh nằm nghiêng.
Mặc Huyền nhìn cô bằng mắt hai lớp.
Và thấy.
Lớp cũ: phụ nữ mặc áo xanh tốt hơn, tóc búi cao kiểu vợ lính, tay đeo vòng bạc nhỏ. Cạnh cô: đàn ông, áo lính triều Trần, vai rộng, tay chai vì cầm kiếm. Hắn đứng cạnh cô, một tay đặt trên lưng cô, kiểu đứng của người bảo vệ. Lớp mới: phụ nữ ngồi một mình. Không áo xanh, không vòng bạc. Không đàn ông cạnh. Chỗ đàn ông đứng là khoảng trống, trống đến mức ánh sáng lúc sáng sớm rọi thẳng vào tường sau lưng cô mà không gặp bóng ai cản.
Chồng cô ở lớp cũ. Lớp cũ đang mờ đi.
Tạ Yên ngồi xuống cạnh phụ nữ. Không hỏi. Chỉ ngồi. Rút khăn, đưa. Phụ nữ nhìn cô, mắt đỏ, hít mũi, cầm khăn.
– Cảm ơn, phụ nữ nói. Giọng khàn nhẹ. Ngại quá. Cứ khóc ở chợ, người ta tưởng điên.
– Không sao, Tạ Yên nói.
Im lặng. Phụ nữ lau mắt. Rồi nhìn Tạ Yên, nhìn lâu, kiểu nhìn của người đang cân nhắc có nên nói không.
– Cô có bao giờ nhớ thứ gì mà không ai nhớ không? phụ nữ hỏi. Nhỏ. Sợ bị cười.
Tạ Yên nhìn cô. Rồi gật. Chậm.
– Có.
Phụ nữ nhìn cô. Mắt sáng lên, kiểu sáng tuyệt vọng của người lần đầu nghe ai đó nói "có" thay vì "cô bị ảo tưởng."
– Chồng tôi, phụ nữ nói. Giọng run nhẹ. Tên Trần Hữu Ninh. Lính triều Trần. Đóng quân đồn biên giới phía bắc. Cưới tôi năm tôi mười tám, anh ấy hai mươi. Con gái chúng tôi năm tuổi.
Cô dừng. Nuốt.
– Nhưng không ai nhớ anh ấy. Không ai nhớ triều Trần. Con gái tôi, NHI NHI, năm tuổi, hỏi: "Mẹ, cha đâu?" Tôi nói: "Cha đi lính." Nó hỏi: "Lính gì?" Tôi nói: "Lính triều Trần." Nó nhìn tôi như tôi nói tiếng lạ.
Mặc Huyền đứng cách vài bước. Nghe. Mỗi chữ như búa gõ.
– Mọi người nói không có triều Trần, phụ nữ nói. Giọng thấp hơn, gần như thì thầm. Hàng xóm nói tôi đau đầu. Mẹ chồng, mẹ chồng CŨ của tôi, bà sống hai nhà cách đây, bà nhìn tôi như người lạ. Bà không nhớ con trai mình. Không nhớ cháu gái. Bà nghĩ bà sống một mình, chưa bao giờ có con trai nào tên Ninh.
Nước mắt lại chảy. Không tiếng.
– Anh ấy có thật, phụ nữ nói. Giọng cứng lại, kiểu cứng của người bám víu vào thứ duy nhất còn chắc chắn. Bàn tay anh ấy chai vì cầm kiếm nhưng ấm. Mỗi đêm anh ấy ôm tôi, ấm. Vai anh ấy có sẹo, trận giáp biên giới năm ngoái, sẹo dài bằng ngón tay út tôi. Anh ấy hay ngáy. Anh ấy thích ăn cháo cá buổi sáng. Anh ấy gọi con gái "sâu nhỏ" vì Nhi Nhi hay đào đất bắt giun.
Cô nhìn Tạ Yên. Mắt đỏ, nhưng giọng không run nữa.
– Cô nói cô cũng nhớ. Thì cô nói cho tôi biết. TÔI ĐIÊN hay THẾ GIỚI SAI?
Tạ Yên im. Lâu. Rồi mở sổ. Lấy bút.
– Tên chồng cô là Trần Hữu Ninh, cô nói. Giọng nhẹ, chắc, kiểu giọng cô dùng khi ghi vào sổ, giọng của người đang giữ lại sự thật. Lính triều Trần. Đóng quân đồn biên giới phía bắc. Có sẹo vai. Thích cháo cá. Gọi con gái "sâu nhỏ."
Cô viết. Từng chữ. Chậm. Rõ.
– Anh ấy có thật, Tạ Yên nói. Nhìn phụ nữ. Mắt cô sáng, kiểu sáng của lửa nhỏ giữ trong đêm lạnh. Trong sổ này, anh ấy có thật. Cô không điên.
Phụ nữ nhìn cô. Rồi khóc. Lần này có tiếng. Tiếng khóc nhỏ, run, kiểu khóc của người lần đầu tiên được ai đó tin.
Mặc Huyền đứng nhìn. Ngực hắn nặng.
Trần Hữu Ninh. Lính triều Trần. Bàn tay chai, vai có sẹo, thích cháo cá, gọi con gái "sâu nhỏ."
Bách Sử Nhân xóa triều Trần. Ba trăm mười bảy năm. Trong ba trăm mười bảy năm đó: bao nhiêu người như Trần Hữu Ninh? Bao nhiêu đôi bàn tay chai? Bao nhiêu sẹo? Bao nhiêu đêm ôm vợ? Bao nhiêu buổi sáng ăn cháo cá?
Gã nói: "Xóa sạch, bắt đầu lại." Gã nói: "Đau nhưng thật."
Đau cho ai?
Cho cô ấy. Cho Nhi Nhi năm tuổi. Cho bà mẹ chồng sống một mình hai nhà cách đây, không nhớ mình từng có con trai.
Chiều hôm đó, Mặc Huyền và Tạ Yên ngồi trên bờ tường thấp rìa thị trấn. Phía trước: cánh đồng, nông dân gánh lúa về, hoàng hôn nhuộm đỏ bông lúa chín. Đẹp. Yên bình. Tùng Lâm mới.
Hứa đứng dựa cây, ngậm cọng cỏ, mắt nhìn xa.
– Bao nhiêu? Mặc Huyền hỏi.
Tạ Yên lật sổ. Ba ngày qua, cô đi khắp Tùng Lâm, hỏi, nghe, ghi.
– Bảy người, cô nói. Bảy người nhớ phiên bản cũ. Trong thị trấn khoảng hai nghìn dân.
Bảy trên hai nghìn. Ít. Rất ít. Bách Sử Nhân viết sạch đến mức chỉ bảy người lọt lưới.
– Kể, Mặc Huyền nói.
Tạ Yên mở sổ. Giọng gọn, kiểu giọng đọc báo cáo, không thêm cảm xúc vì cảm xúc đã nằm trong từng dòng chữ cô viết:
– Một: Lưu Thị Hà, ba mươi tuổi, vợ lính Trần Hữu Ninh. Nhớ chồng, con không nhớ cha. Mẹ chồng không nhớ con trai.
Cô lật trang.
– Hai: ông Mã, sáu mươi bảy tuổi, thợ gốm. Làm gốm cho lò nung triều Trần bốn mươi năm. Phiên bản mới không có lò nung triều. Ông vẫn nhớ cách nung men xanh kiểu Trần, nhưng không ai đặt, không ai mua. Ông ngồi trước cửa nhà, nặn bát bằng tay, nặn xong đập vỡ, nặn lại. Hàng xóm nói ông lẫn.
– Ba: con gái mười hai tuổi tên Diệp. Nhớ trường học triều Trần, nhớ thầy giáo tên Phạm Đức, nhớ bạn học. Phiên bản mới không có trường triều. Thầy Phạm Đức chưa từng tồn tại. Bạn học vẫn có nhưng không nhớ từng học chung. Diệp nghĩ mình mơ, nhưng giấc mơ QUÁ rõ, quá dài, quá chi tiết.
Cô lật tiếp. Bốn, năm, sáu, bảy. Mỗi người một câu chuyện. Mỗi người nhớ thứ gì đó từ phiên bản cũ mà thế giới mới gọi là "không có." Ông lão nhớ con sông nhỏ chảy qua phố phường Đông, phiên bản mới con sông đổi dòng, phố phường Đông không có sông. Bà bán thuốc nhớ bài thuốc gia truyền ba đời dưới triều Trần, phiên bản mới gia đình bà chưa bao giờ làm thuốc. Người đàn ông trung niên nhớ cha mình chết trong đám cháy ở doanh trại Trần, phiên bản mới cha ông sống đến già và mất vì bệnh, nhưng ông nhớ mùi cháy, nhớ tiếng cha gọi, nhớ khói đen.
– Bảy người, Tạ Yên gập sổ. Tất cả đều bị gọi là lẫn, điên, hoặc mơ nhiều. Không ai tin họ. Họ không biết nhau. Mỗi người nghĩ mình là người duy nhất.
Hứa nhổ cọng cỏ. Nhìn Mặc Huyền.
– Hai nghìn dân bớt khổ, hắn nói. Bảy người thêm khổ. Nếu ngươi là Bách Sử Nhân, ngươi tính thế nào?
Mặc Huyền nhìn hắn.
– Không tính.
– Hả?
– Nỗi đau không tính được, hắn nói. Một nghìn chín trăm chín mươi ba người bớt khổ không bù được cho bảy người mất chồng, mất cha, mất ký ức. Không có phép tính nào cân bằng.
Hứa nhìn hắn. Lâu. Rồi gật chậm.
– Ta biết. Ta chỉ muốn nghe ngươi nói ra.
Đêm. Khách điếm.
Mặc Huyền ngồi bên cửa sổ, nhìn Tùng Lâm về đêm. Phố vắng, đèn dầu nhấp nháy sau cửa gỗ, mùi cơm chiều còn lảng vảng. Yên bình.
Tạ Yên ngồi đối diện, sổ trên bàn, không viết. Nhìn hắn.
– Ngươi nghĩ gì? cô hỏi.
Mặc Huyền im. Lâu. Rồi:
– Bách Sử Nhân không sai, hắn nói. Phiên bản mới tốt hơn. Ít khổ hơn. Ít bất công hơn. Hai nghìn dân nhẹ gánh hơn. Nếu ta không nhìn được hai lớp, nếu không có bảy người nhớ, ta sẽ nói: Tùng Lâm mới ĐÚNG.
Cô đợi.
– Nhưng "tốt hơn" không có nghĩa là "đúng," hắn nói. Trần Hữu Ninh có thật. Bàn tay chai của gã có thật. Sẹo vai có thật. Năm năm ôm vợ mỗi đêm có thật. "Tốt hơn" không xóa được cái "có thật" đó. Nó chỉ giả vờ như cái "có thật" chưa từng xảy ra.
– Và "đúng" không có nghĩa là "nên," Tạ Yên nói. Nhẹ.
Mặc Huyền nhìn cô.
– Đúng, hắn nói. Phiên bản cũ (triều Trần, thuế, lính, ngục) cũng không "nên." Sử Quan viết triều Trần vào bốn trăm năm trước không phải để dân tốt hơn, mà để kiểm soát. Nhưng ba trăm mười bảy năm đã qua. Dân đã sống, đã cưới, đã đẻ, đã chết, đã nhớ. "Không nên" không xóa được "đã sống."
Hắn dừng. Nhìn ra ngoài. Đèn dầu nhà đối diện tắt, ai đó đi ngủ.
– Bách Sử Nhân nói: xóa sạch, bắt đầu lại. Hàn Mộ nói: giữ nguyên, đừng động. Cả hai đều sai. Xóa sạch thì Trần Hữu Ninh chưa từng tồn tại. Giữ nguyên thì triều Trần tiếp tục đè dân. Cả hai đều chọn THAY dân. Không ai hỏi dân.
– Con đường thứ tư, Tạ Yên nói.
– Ừ. Nhưng hình thù nó thế nào thì ta vẫn chưa biết.
Im lặng. Gió đêm thổi qua cửa sổ, mang mùi cỏ khô và đất ẩm. Mặc Huyền nhìn bàn tay mình. Mực trên ngón tay sáng nhẹ trong bóng tối, nhịp đập chậm, kiểu nhịp của bút gãy khi hắn nghĩ về Sử Hải.
– Lưu Thị Hà hỏi: "Tôi điên hay thế giới sai?" hắn nói. Ta không trả lời được. Vì cả hai đều đúng một phần. Cô ấy không điên, nhưng thế giới cũng không "sai" theo nghĩa đơn giản. Thế giới bị VIẾT LẠI. Và viết lại không phải sai hay đúng, viết lại là BẠO LỰC. Dù người viết nghĩ mình đang làm đúng.
Tạ Yên gật. Chậm.
– Ta ghi được tên Trần Hữu Ninh, cô nói. Và sáu người khác. Bảy câu chuyện. Sổ này giữ được. Nhưng bảy không phải tất cả. Ba trăm mười bảy năm có bao nhiêu Trần Hữu Ninh?
Mặc Huyền nhìn cô. Và lần đầu tiên, hắn thấy Tạ Yên mệt. Không phải mệt thể xác. Mệt kiểu người ghi chép quá nhiều nỗi đau trong thời gian quá ngắn. Mắt cô vẫn sáng nhưng dưới mắt có bóng tối, và tay cô đặt trên sổ không phải tay cầm bút mà tay giữ, kiểu giữ vật nặng.
– Đủ, hắn nói.
– Hả?
– Ngươi ghi đủ rồi. Nghỉ.
Tạ Yên nhìn hắn. Rồi, rất nhẹ, cười. Nụ cười nhỏ, mệt, nhưng ấm.
– Ngươi lo cho ta bao giờ vậy?
– Từ khi ngươi lo cho ta.
Cô cười thêm một chút. Rồi gập sổ, đặt xuống bàn, tựa lưng vào tường. Nhắm mắt. Không ngủ, chỉ nghỉ, kiểu nghỉ của người đặt gánh xuống một lúc rồi sẽ nhấc lại.
Sáng hôm sau, Mặc Huyền đi gặp ông Mã.
Ông ngồi trước cửa nhà, hiên gỗ thấp, tay nặn bát đất. Bàn tay ông chai, ngón to, móng ngắn, kiểu tay thợ gốm cả đời. Trước mặt ông: mười cái bát nặn xong, xếp hàng, men chưa phết, đất còn ướt. Cạnh mười cái bát: đống mảnh vỡ.
Ông nặn xong cái thứ mười một. Ngắm. Rồi bóp nát trong lòng bàn tay. Đất dính ngón, ông lau vào áo, lấy cục đất mới.
– Sai, ông nói. Không ai nghe. Hoặc nói với chính mình. Sai hết. Men không đúng. Lò không đúng. Đất không đúng.
Mặc Huyền ngồi xuống cạnh ông. Ông nhìn hắn, mắt già nhưng sáng.
– Mua bát không, chú? ông hỏi. Rồi cười, kiểu cười buồn. Không bán đâu. Nặn chơi thôi. Không ai cần gốm Trần nữa.
– Ông nhớ lò nung triều Trần? Mặc Huyền hỏi. Nhẹ.
Ông Mã nhìn hắn. Mắt đổi, từ buồn sang sắc, kiểu sắc của người vừa nghe ai đó nhắc tên cấm.
– Chú cũng nhớ?
– Tôi biết, Mặc Huyền nói. Không nói cách nào biết. Lò nung triều Trần. Men xanh. Bốn mươi năm.
Ông Mã đặt cục đất xuống. Chậm. Tay run nhẹ.
– Bốn mươi ba năm, ông nói. Từ năm mười lăm. Cha dạy. Ông nội dạy cha. Lò nung phường Tây, hai bầu lửa lớn, chạy bằng than đá từ mỏ phía bắc. Men xanh triều Trần, kiểu men chỉ có ở Tùng Lâm, phải pha với đất sét đỏ ven suối Ngọc Thành, nung bảy ngày bảy đêm, lửa phải giữ đều, không được tắt, không được quá. Khi mở lò, nếu men đúng, ánh sáng xanh lọc qua bát, trong như ngọc.
Ông dừng. Mắt ướt.
– Không ai nhớ. Lò nung không có. Mỏ than không có. Suối Ngọc Thành có nhưng không ai lấy đất sét đỏ. Tôi nặn bát bằng tay, bằng đất vườn, không lò, không men. Nặn xong biết là sai. Nên đập.
Mặc Huyền nhìn mười cái bát xếp hàng. Đất thô, hình không đều, nhưng đường nét có. Nét tay bốn mươi ba năm không mất được, dù lò nung biến mất.
– Tay ông vẫn nhớ, hắn nói.
Ông Mã nhìn tay mình. Gật.
– Tay nhớ. Đầu nhớ. Nhưng thế giới quên.
Hắn nặn cục đất mới. Chậm. Kiên nhẫn. Kiểu kiên nhẫn của người biết sẽ đập vỡ nhưng vẫn nặn, vì nặn là sống.
Mặc Huyền đứng dậy. Bước đi. Không ngoái lại vì nếu ngoái lại hắn sẽ thấy ông Mã bóp nát cái bát thứ mười một, và hắn chưa biết phải làm gì với nỗi đau đó.
Trưa. Bờ tường rìa thị trấn. Mặc Huyền ngồi một mình.
Bút gãy trong tay áo rung nhẹ. Không rung hướng nào cụ thể. Rung đều, kiểu rung của vật cảm nhận được chủ nhân đang nghĩ nặng.
Bách Sử Nhân nói: thế giới sai từ gốc, xóa sạch bắt đầu lại.
Hàn Mộ nói: giữ nguyên, đừng động.
Cả hai đều chọn thay dân. Cả hai đều nghĩ mình biết tốt nhất.
Nhưng Lưu Thị Hà không cần ai chọn hộ. Cô chỉ cần ai đó tin: chồng cô có thật.
Ông Mã không cần ai khôi phục lò nung. Ông chỉ cần ai đó nhìn mười cái bát đất và nói: ông không điên.
Con đường thứ tư không phải viết hay xóa. Không phải khôi phục hay giữ nguyên.
Con đường thứ tư là: cho họ BIẾT. Cho họ sự thật. Rồi để họ chọn.
Bảy người nhớ. Một nghìn chín trăm chín mươi ba người quên. Nhưng "quên" không phải "chọn quên." Họ bị viết lại mà không ai hỏi. Cả Bách Sử Nhân viết mới lẫn Sử Quan viết cũ đều viết mà không hỏi.
Nếu hỏi thì sao? Nếu cho mỗi người ở Tùng Lâm nhìn hai lớp, nhìn hai phiên bản, rồi để HỌ chọn nhớ gì, quên gì, sống thế nào?
"Mở thế nào?" Bách Sử Nhân hỏi. "Cho ai chọn?"
Cho tất cả. Cho hai nghìn dân. Cho Lưu Thị Hà lẫn bà chủ điếm. Cho ông Mã lẫn nông dân gánh lúa.
Nhưng LÀM THẾ NÀO?
Hắn không biết. Chưa biết. Nhưng lần đầu tiên, câu hỏi có hình thù. Không còn là "mở" mơ hồ. Mà là: làm sao để mỗi người nhìn được hai lớp, làm sao để họ biết sự thật, và làm sao để sự thật không giết họ.
Tạ Yên đến. Ngồi cạnh. Đưa hắn bát cháo.
– Ăn đi, cô nói. Rồi nghĩ tiếp.
Hắn cầm bát. Cháo nóng, mùi gạo mới, mùi Tùng Lâm mới. Hắn ăn. Và nghĩ.
Sổ Tạ Yên, trang mới nhất:
"Ngày thứ bảy mươi ba. Tùng Lâm.
Bảy người nhớ phiên bản cũ. Hai nghìn người quên. Bảy người bị gọi là điên.
Lưu Thị Hà: chồng Trần Hữu Ninh, lính Trần, tay chai, sẹo vai, thích cháo cá, gọi con gái 'sâu nhỏ.' Ông Mã: thợ gốm 43 năm, nặn bát rồi đập, 'tay nhớ, thế giới quên.' Diệp 12 tuổi: nhớ thầy giáo chưa từng tồn tại.
MH nói: 'Tốt hơn không có nghĩa là đúng. Đúng không có nghĩa là nên.'
Viết lại là bạo lực. Dù người viết nghĩ mình đúng.
Sổ này giữ bảy cái tên. Nhưng ba trăm mười bảy năm có bao nhiêu cái tên?
Không đủ trang."