Người Viết Sử
Chương 49: Mười Lăm Năm
Chương 49

Mười Lăm Năm

Khu phía đông, sông ngầm.

Tiếng nước chảy dưới đất, nhẹ, liên tục, như ai đó thì thầm ở rất xa. Nhà thưa, ngõ hẹp, tường đất, mái tranh thấp. Tạ Yên đi chậm hơn bình thường. Không phải mệt. Mà vì chân cô không muốn đi nhanh.

Mười lăm năm.

Cô ba tuổi khi cha gửi cô đi. Không nhớ mặt cha. Nhớ giọng, mờ, kiểu giọng trong giấc mơ lặp lại nhiều lần nhưng mỗi lần bớt rõ một chút. Nhớ tay cha, to, ấm, nắm tay cô lần cuối. Nhớ ngọc bội, xanh nhạt, hình giọt nước, chữ "Tạ" khắc mặt sau. Cha đeo cho cô rồi nói gì đó cô không nhớ. Rồi cô ở với dì, rồi dì quên cha, rồi mọi người quên cha, và cô là người duy nhất nhớ rằng cha từng tồn tại, dù không nhớ mặt.

Mười lăm năm tìm cha. Từ thị trấn này sang thị trấn khác. Mỗi nơi, cô hỏi: có ai họ Tạ, sử quan, biến mất khoảng mười mấy năm trước? Không ai biết. Không ai nhớ. Cha đã bị xóa khỏi mọi ký ức, mọi sử ký, mọi hệ thống. Cô tìm bóng. Tìm khoảng trống mà cha để lại, vì bóng và khoảng trống là thứ duy nhất còn sót.

Bây giờ cô đứng trước nhà cuối ngõ. Cửa gỗ cũ. Đóng.

Tay cô nắm ngọc bội trong lòng bàn tay. Chặt.

Mười lăm năm.

· · ·

Cô gõ cửa.

Một lần. Hai lần. Tiếng gỗ kêu đục trong ngõ hẹp.

Cửa mở.

Người đàn ông. Năm mươi, có lẽ hơn một chút, nhưng tóc bạc sớm, bạc gần hết, chỉ vài sợi đen còn lại ở thái dương. Mắt sáng, giống mắt cô. Mặt thanh tú, có nếp nhăn sâu ở trán và khóe mắt, kiểu nếp nhăn của người đã lo lắng nhiều hơn cười. Tay có vết chai bút, ở ngón trỏ và ngón giữa tay phải, y như vết chai cô thấy trong gương mỗi sáng ở tay mình.

Ông nhìn cô.

Dừng.

Mắt ông, trong một giây, kinh ngạc. Rồi đau. Rồi vỡ.

– Yên nhi?

Giọng ông run. Kiểu run không giấu được, không muốn giấu. Giọng cũ, giọng trong giấc mơ lặp lại mười lăm năm, giọng cô không nhớ rõ nhưng CƠ THỂ nhớ, vì khi nghe, ngực cô siết lại, mắt cô nóng, và tay cô nắm ngọc bội chặt đến mức rìa đá ấn vào lòng bàn tay.

Cô đưa ngọc bội ra. Xanh nhạt, hình giọt nước, chữ "Tạ".

– Ông Chu đưa con. Cha để lại ở Thư Các.

Ông nhìn ngọc bội. Run. Tay ông đưa ra, chạm, ngón gầy lướt trên mặt đá nhẵn, trên chữ "Tạ" khắc mặt sau. Rồi ông nhìn cô. Lâu. Mắt ướt.

Rồi ông ôm cô.

Không nói. Chỉ ôm. Hai tay vòng quanh vai cô, chặt, run. Mùi gỗ cũ, mùi mực, mùi thứ gì đó mà cô không nhớ tên nhưng cơ thể nhận ra ngay, mùi cha. Mùi mười lăm năm không ngửi mà vẫn nhớ.

Tạ Yên không khóc.

Cô không khóc. Không phải vì không muốn. Vì cơ thể cô làm thứ khác: run. Toàn thân run, từ vai đến tay đến chân, kiểu run không kiểm soát, kiểu run khi thứ gì đó đã nén rất lâu trong ngực được thả ra đột ngột và cơ thể không biết phải phản ứng thế nào ngoài run.

Lâu. Gió thổi qua ngõ. Tiếng sông ngầm dưới đất.

Rồi ông buông. Lùi lại một bước. Nhìn cô, từ đầu đến chân. Mắt vẫn ướt, nhưng cười, kiểu cười của người vừa được trả lại thứ gì đó tưởng mất vĩnh viễn.

– Vào nhà. Ông nói. Giọng vẫn run. Vào nhà, con.

· · ·

Nhà nhỏ. Sạch. Một phòng, bàn gỗ, ghế, giường tre, giá sách nhỏ. Sách ít, cuộn giấy nhiều. Nghiên mực trên bàn, bút tre cạnh, chồng giấy viết dở. Cha viết gì đó, mỗi ngày, dù ở trong lề, dù không ai đọc.

Ông rót nước. Tay vẫn run nhẹ. Đặt chén trước mặt cô.

– Con lớn rồi, ông nói. Nhìn cô, mắt không rời. Hai mươi. Giống mẹ. Mắt giống ta.

Cô ngồi thẳng. Nhìn cha. Người đàn ông cô tìm mười lăm năm. Ngồi đây, trong nhà nhỏ, trong thành phố không tồn tại, cách thế giới bên ngoài một nếp gấp mỏng.

– Cha bị xóa, cô nói. Giọng bằng. Kiểu giọng cô dùng khi đang nén rất nhiều. Mười lăm năm trước. Vì cố cứu Người Viết Sử đời thứ mười sáu.

Ông gật. Chậm.

– Vương Tĩnh Trạch. Sư phụ hắn. Ông nhìn xuống tay. Vết chai bút. Ta là sử quan cấp thấp, theo dõi, ghi chép. Khi biết Hàn Mộ ra lệnh xóa Vương Tĩnh Trạch, ta cố can thiệp. Thất bại. Vương Tĩnh Trạch tự vào Sử Hải. Và ta bị xóa.

– Cha biết sẽ bị xóa.

– Biết. Ông nhìn cô. Nhưng không thể không làm. Vương Tĩnh Trạch là người tốt. Ông ấy xóa ký ức đứa trẻ để cứu mạng nó. Ông ấy biết mình sẽ vào Sử Hải mà không ra. Và trước khi đi, ông nói với ta: "Nếu có ai hiểu Sử Hải, là đứa trẻ này. Nó không viết để thay đổi. Nó viết vì muốn hiểu."

Đứa trẻ. Mặc Huyền. Mặc Chiêu Ninh.

Cô nuốt khan.

– Cha gửi con đi trước khi bị xóa.

– Gửi con cho dì. Ông gật. Và "gỡ" con khỏi Sử Hải. Ta là sử quan, ta biết cách. Gỡ con ra, để khi ta bị xóa, con không bị kéo theo. Nhưng gỡ có giá: con sẽ miễn nhiễm. Sẽ nhớ những gì thế giới quên. Sẽ thấy khoảng trống mà không ai thấy. Sẽ sống ngoài mọi hệ thống.

– Con biết.

– Ta biết con biết. Ông cười. Buồn. Vì con đến đây.

Im lặng. Sông ngầm dưới đất chảy, nhẹ, liên tục.

· · ·

– Cha có thể ra ngoài không?

Câu hỏi cô đã biết câu trả lời trước khi hỏi. Nhưng cần hỏi. Cần nghe cha nói.

– Không. Ông lắc đầu. Ta đã bị xóa hoàn toàn. Ra ngoài, ta sẽ phai trong vài ngày. Lề giữ ta sống.

Đau. Kiểu đau không ở bề mặt. Sâu. Lặng. Cô biết: cha ở đây. Sống. Khỏe. Nhưng ở đây mãi. Trong thành phố không tồn tại, trong lề mỏng, trong khoảng trống giữa bị xóa và được viết.

– Vậy cha ở đây... bao lâu?

Ông nhìn xa. Qua cửa sổ. Ánh đèn lồng vàng ở phố xa.

– Cho đến khi phai hẳn. Hoặc cho đến khi ai đó viết ta lại vào lịch sử.

Nhìn cô. Biết điều đó gần như bất khả. Nhưng không nói.

Cô không nói. Nắm ngọc bội. Nhìn cha. Mười lăm năm ông ngồi đây, viết gì đó mỗi ngày trên giấy mà không ai đọc, nhớ triều chính mà không ai nhớ, đợi con gái mà không biết con gái có đến được không. Mười lăm năm. Một mình.

– Con ở đây mấy ngày? Ông hỏi.

– Ba ngày.

– Với ai?

– Mặc Huyền. Cô nói. Chấp Bút đời thứ mười bảy.

Ông im. Nhìn cô. Lâu. Rồi gật, chậm, kiểu gật của người vừa xếp xong mảnh ghép cuối cùng.

– Đứa trẻ mà Vương Tĩnh Trạch cứu. Ông nói. Nhỏ. Đã lớn. Đã cầm bút. Và con đi cùng hắn.

– Hắn cần con. Con miễn nhiễm. Sử Hải không thay đổi được con. Hắn muốn con vào Sử Hải cùng, làm neo.

Ông nhìn cô kỹ. Mắt sáng, kiểu mắt sử quan, phân tích, suy luận.

– Ngươi... Ông dừng. Sửa. Con. Con quyết chưa?

– Chưa. Khi đến lúc, con sẽ quyết.

Ông gật. Không ép. Không khuyên. Nhìn con gái, hai mươi tuổi, ngồi thẳng, giọng bằng, mắt giống mình, tay có vết chai bút giống mình, sổ ghi chép thò ra ngoài túi da giống sổ ông từng mang.

– Con giống ta, ông nói. Nhẹ.

– Con tìm cha mười lăm năm, cô nói. Giọng run ở cuối, lần đầu. Không phải vì ai bảo. Vì con nhớ.

Ông cầm tay cô. Tay to, gầy, vết chai bút, ấm.

– Ta biết. Ông nói. Vì ta cũng nhớ con. Mỗi ngày.

· · ·

Chiều muộn. Cô ra cửa. Ông đứng ở bậc, nhìn cô.

– Ngày mai con quay lại. Cô nói.

– Ta ở đây. Ông cười. Nhẹ, buồn, ấm. Luôn ở đây.

Cô gật. Quay đi. Đi dọc ngõ, qua khu đông, qua chợ chiều vắng, qua quảng trường. Bước đều. Lưng thẳng. Mắt nhìn phía trước. Tay nắm ngọc bội trong túi.

Đến gần nhà trọ, cô thấy Mặc Huyền ngồi ở bậc cửa. Chờ. Bút gãy trên đùi. Mắt nhìn sương.

Hắn ngẩng lên khi nghe bước chân cô. Nhìn. Không hỏi. Chờ.

Cô ngồi xuống cạnh. Im. Một lúc.

Rồi nói, giọng thấp:

– Cha con còn sống. Khỏe. Tóc bạc sớm. Mắt giống con. Tay có vết chai bút. Giọng giống trong giấc mơ.

Dừng. Nuốt.

– Cha con biết sư phụ ngươi. Vương Tĩnh Trạch. Cha nói: "Nếu có ai hiểu Sử Hải, là đứa trẻ này. Nó viết vì muốn hiểu."

Hắn nhìn cô. Không nói. Biết: lúc này không cần nói. Cần ở đó.

– Cha con không ra ngoài được, cô nói. Phai trong vài ngày. Lề giữ cha sống. Nhưng lề có thời hạn.

Im.

– Con sẽ tìm cách, cô nói.

Không nói tìm cách gì. Không cần. Hắn hiểu.

Hai người ngồi ở bậc cửa. Gió thổi. Sương cuộn. Đèn lồng vàng rung nhẹ.

Cô mở sổ. Viết. Nét chữ run ở dòng đầu, rồi bằng lại, đều, gọn. Kiểu viết của người đã lấy lại bình tĩnh bằng mực.

"Ngày 28. Gặp cha. Tạ Kỳ Sơn. Còn sống. Mười lăm năm. Tóc bạc. Mắt giống con. Vết chai bút giống con. Cha nhớ con mỗi ngày."

Dừng. Nhìn ra phố. Đèn vàng. Người đi lại. Im.

"Cha không ra ngoài được. Nhưng cha ở đây. Và con đã đến."

Ch.49/115
1.708 từ