Người Viết Sử
Chương 112: Ngày Thứ Nhất
Chương 112

Ngày Thứ Nhất

Vân Đô nhỏ hơn trong trí nhớ.

Hắn đi cùng TY từ sáng, theo đường cũ, qua cầu Thanh Phong, dọc bờ sông phía nam rồi vào cổng đông. Đường quen nhưng lạ, kiểu quen khi hai năm không đi, kiểu lạ khi người đi đã khác. Cây liễu hai bên đường vẫn rủ, lá xanh đậm mùa hè, nhưng hắn nhìn thấy lớp thứ hai, lớp lịch sử gốc phủ lên mỗi gốc cây, mỗi viên gạch, mỗi mái ngói. Vân Đô có nhiều lớp hơn hắn nhớ. Hoặc hắn nhìn rõ hơn trước.

TY đi bên cạnh, sổ trong tay áo, bước đều. Cô không hỏi đường vì cô nhớ. Cô nhớ tất cả, từ ngày đầu tiên hắn bước vào quán cơm ven đường, đến ngày cuối cùng trước khi rời Vân Đô. Hắn thì không. Bốn tháng ký ức mất trong Sử Hải, rồi thêm bao nhiêu mảnh vỡ sau mỗi lần lặn. Nhưng cơ thể nhớ. Chân biết rẽ trái ở ngã ba đầu phường, tay biết đẩy cành liễu thấp ngang đầu, mắt biết tìm mái ngói đỏ của Thư Các sau hàng cây.

– Thay đổi nhiều không? TY hỏi. Nhẹ.

Hắn nhìn quanh. Phố chợ đông, người mua kẻ bán, mùi bánh nếp nướng và nước hầm xương từ quán đầu phố. Bình thường. Nhưng trên trời, chữ lịch sử sáng nhạt trong nắng sớm, và thỉnh thoảng có người ngước lên đọc, bàn nhỏ với người bên cạnh, kiểu bàn bình thản như bàn thời tiết. Vân Đô đã quen với chữ trên trời.

– Ít hơn ta nghĩ. Hắn nói.

Thư Các Vạn Quyển đứng cuối phố Tĩnh An, sau hàng liễu. Mười ba gốc. Hắn đếm khi đi qua, thói quen cũ, thói quen từ ngày phát hiện gốc thứ mười ba không ai trồng. Liễu vẫn xanh. Dấu niêm dưới tầng hầm vẫn giữ Sử Hải yên tĩnh ở nơi này, hắn cảm nhận được qua bút gãy trong tay áo, sợi mực đen lẫn xanh ở cổ tay ấm lên khi bước gần.

Ông Chu đứng trước cửa. Đang tưới liễu. Mười hai gốc. Dừng ở gốc thứ mười ba. Không tưới. Nhìn nó lâu rồi quay vào.

Hắn bước qua ngưỡng cửa. Tiếng chuông nhỏ treo ở mái hiên kêu khẽ, tiếng chuông quen, tiếng chuông hắn nghe lần đầu khi mới đến Vân Đô, không nhớ gì, chỉ có cây bút gãy trong tay.

Ông Chu quay lại. Nhìn hắn. Rồi nhìn TY. Rồi nhìn lại hắn.

Im lặng. Lâu.

Ông đặt bình tưới xuống. Lau tay vào vạt áo. Đi vào trong, lấy ấm trà, rót hai chén, đặt trên bàn quầy. Ngồi xuống ghế cũ, ghế ông ngồi bốn mươi năm nay, ghế mòn gỗ, lưng ghế ám mùi trà và mực cũ.

– Ngồi. Ông nói.

Hắn ngồi. TY ngồi cạnh, im, để hắn nói.

– Ông Chu. Hắn nói. Con trở lại.

Ông Chu nhìn tay hắn. Sợi mực đen lẫn xanh quấn quanh cổ tay, sẹo xám mờ lấp dưới ống tay áo. Ông nhìn bút gãy hắn đặt trên bàn, bút sáng nhẹ, sáng hơn mọi lần, kiểu sáng khi gần hoàn thành việc nó được tạo ra để làm.

– Ta biết. Ông nói. Bút đang sáng.

Dừng lại. Uống trà. Mắt ông già hơn hai năm trước, nếp nhăn sâu hơn, tóc bạc nhiều hơn, nhưng lưng vẫn thẳng, tay vẫn vững, kiểu vững của cựu Tu Sử đã giữ cổng bốn mươi năm.

– Con sắp đi. Hắn nói. Không giải thích thêm. Ông Chu hiểu. Bốn mươi năm giữ dấu niêm, bốn mươi năm canh Sử Hải từ bên ngoài, ông biết "đi" của kẻ cầm bút gãy nghĩa là gì.

Ông Chu đặt chén xuống. Nhìn hắn.

– Tạ Kỳ Sơn đến đây mười lăm năm trước, ông nói. Nhìn TY. Ở ba tháng. Nghiên cứu tầng hầm. Rồi dặn ta: sẽ có người đến, đừng ngăn. Rồi biến mất.

Ông quay lại nhìn hắn.

– Ngươi là người ông ấy dặn ta đợi. Ông nói. Bốn mươi năm giữ cổng, mười lăm năm chờ, cuối cùng ngươi đến.

Hắn biết chuyện này. TY đã kể. Nhưng nghe ông Chu nói, giọng thấp, chậm, kiểu kể khi biết đây là lần cuối, khác hơn nghe qua lời người khác.

– Sư phụ ngươi cũng từng đến. Ông Chu nói. Trước Kỳ Sơn. Cầm bút giống ngươi. Cầm chặt mà không gồng, kiểu cầm khi biết bút sẽ gãy mà vẫn viết.

TY nhìn hắn. Hắn không nhìn lại. Có những lúc cần nhìn thẳng người đang nói, không quay đi.

– Dấu niêm. Hắn nói. Khi con đi, ông không cần giữ nữa.

Ông Chu gật. Chậm.

– Ta biết. Ông nói. Bốn mươi năm, cuối cùng cũng xong.

Không vui, không buồn. Bình thản. Kiểu bình thản của người đã biết ngày này sẽ đến từ bốn mươi năm trước, khi rời hệ thống Sử Quan, chọn giữ cổng thay vì giữ quyền.

– Ông sẽ làm gì? Hắn hỏi.

Ông Chu nhìn quanh Thư Các. Giá sách cũ, ánh nắng xiên qua cửa sổ bụi, mùi giấy và mực khô bốn mươi năm tích trong gỗ.

– Ta sẽ bán sách. Ông nói. Như bốn mươi năm nay. Không giữ cổng nữa thì bán sách. Có khác gì.

Cười nhẹ. Cười hiếm, kiểu cười ông Chu.

Hắn đứng dậy. Cúi đầu. Sâu. Kiểu cúi đầu con cháu với người lớn tuổi, không phải kiểu cúi của Chấp Bút với cựu Tu Sử. Ông Chu xứng đáng kiểu cúi đầu thứ nhất.

– Cảm ơn ông, hắn nói. Giữ cổng cho con. Cho cha con. Cho mười sáu người trước.

Ông Chu vỗ vai hắn. Nhẹ. Tay khô, ấm, kiểu tay người già cầm sách nhiều hơn cầm bút.

– Đừng cảm ơn. Ông nói. Đi đi.

TY cúi đầu theo. Ông Chu nhìn cô.

– Cha ngươi dặn ta chuyện nữa. Ông nói. Nhưng không phải hôm nay.

TY nhìn ông. Gật. Không hỏi. Cô biết có những lời phải đợi đúng lúc.

Họ bước ra. Nắng trưa. Hàng liễu rủ bóng trên đường, mười ba gốc xanh đều, gốc thứ mười ba vẫn lạ, vẫn khác, vẫn không ai biết ai trồng. Nhưng hắn biết. Và sau khi hắn tan, sẽ không ai cần biết nữa. Cây sẽ là cây. Liễu sẽ là liễu. Không còn lớp nào phải giấu.

Quán Cố Nhân nằm ở góc phố, cách Thư Các năm phút đi bộ. Biển hiệu cũ, chữ phai, mái ngói lệch ba viên chưa ai sửa. Bên trong, bàn gỗ thấp, ghế đẩu, mùi rượu gạo lẫn khói bếp.

Bà Châu đang lau bàn.

Tóc bạc hơn. Lưng hơi còng. Nhưng tay lau nhanh, dứt khoát, kiểu lau của người mở quán ba mươi năm, biết từng vết bẩn trên từng mặt bàn.

– Hai chỗ? Bà hỏi. Không nhìn lên. Kiểu hỏi tự động khi có khách bước vào.

– Dạ. Hắn nói.

Bà Châu ngước lên. Nhìn hắn. Nhíu mày. Kiểu nhíu khi cố nhớ điều gì đó nằm ngoài tầm với, kiểu nhớ mà không có gì để nhớ vì hắn đã bị xóa khỏi ký ức mọi người.

– Quen quen, bà nói. Đã đến đây chưa?

Nhiều lần. Hắn nghĩ. Ta ngồi bàn góc, uống trà với lão kiếm khách, bà rót rượu kể chuyện chồng đẽo gỗ hay cãi nhau. Ta nhìn lão hát dưới trăng trước quán. Ta viết lão vào lịch sử, bà nhớ lão ba mươi năm mà không biết ba mươi năm đó do ta viết. Rồi lão bị xóa. Bà quên. Tất cả quên.

– Lần đầu. Hắn nói. Cười nhẹ.

Bà Châu gật, dẫn họ đến bàn. Bàn góc. Hắn chọn, không giải thích. TY nhìn hắn, hiểu, im.

Bàn góc. Nơi lão kiếm khách ngồi. Gỗ mòn, kiểu mòn do khuỷu tay đặt nhiều năm, vết chai nhẵn thấy rõ. Hắn đặt tay lên mặt bàn, giống sáng nay ở quán Trầm Nguyệt, nhưng khác. Bàn này mòn vì kẻ hắn viết ra. Kẻ sống ba mươi năm trong câu chuyện hắn tạo, rồi bị xóa như chưa từng có.

Bà Châu mang trà. Đặt xuống. Nhìn hắn ngồi bàn góc, nhíu mày lần nữa.

– Lạ, bà nói. Bàn này ít ai ngồi. Mà sao ta thấy... ai đó hay ngồi đây. Không nhớ ai. Chỉ thấy quen.

Cơ thể nhớ. Hắn nghĩ. Tay bà lau bàn này kỹ hơn bàn khác, không biết tại sao. Mắt bà liếc góc này mỗi sáng mở cửa, không biết tìm ai. Ba mươi năm dệt vào cuộc đời bà, xóa hết trên bề mặt, nhưng cơ thể không quên.

– Có thể, hắn nói. Có thể ai đó đã ngồi đây.

Bà Châu lắc đầu, cười, kiểu cười khi bỏ qua chuyện nhỏ. Đi vào bếp. Trở ra với đĩa bánh nếp nướng.

– Mới làm sáng nay, bà nói. Không tính tiền. Thư sinh đi xa về, ăn lót dạ.

Hắn cảm ơn. Ăn bánh. Bánh nóng, nếp dẻo, nhân đậu phộng giã nhỏ. Hắn không nhớ đã ăn lần nào, nhưng vị quen. Cơ thể nhớ.

TY ăn chậm, mắt nhìn quanh quán. Cô nhớ tất cả. Nhớ lão kiếm khách ngồi bàn góc, thanh kiếm dựa bên ghế, bao kiếm sờn nhưng lưỡi sáng. Nhớ bà Châu rót rượu cho lão, gọi lão "ông già," kể chuyện chồng mất. Nhớ MH ngồi đối diện lão, nghe lão kể chuyện biên ải, mắt sáng kiểu sáng khi gặp kẻ mình viết ra mà kính trọng.

– Bà Châu. Cô gọi. Nhẹ.

Bà quay lại.

– Quán này có ai uống rượu một mình mỗi chiều không? TY hỏi. Ông già, tóc bạc, ngồi góc.

Bà Châu đứng yên. Mắt bà chớp. Tay cầm khăn dừng giữa chừng.

– Không, bà nói. Chậm. Không ai cả.

Dừng lại. Nhìn bàn góc.

– Mà sao... bà nói. Sao hỏi vậy?

– Đoán thôi, TY nói. Cười nhẹ. Quán có vẻ như loại quán ông già hay ngồi.

Bà Châu cười theo. Nhưng mắt bà vẫn nhìn bàn góc. Lâu. Kiểu nhìn khi cố nhớ điều gì nằm ở rìa ý thức, gần lắm mà không chạm tới.

Hắn nhìn TY. Cô nhìn lại. Mắt tĩnh, nhưng buồn. Kiểu buồn khi biết kẻ bị xóa vẫn để lại dấu, nhưng dấu không đủ để trở thành tên, thành mặt, thành người.

Nếu ta thành. Hắn nghĩ. Sử Hải phân tán vào mọi người. Mọi người sẽ nhớ được. Bà Châu sẽ nhớ lão. Không phải vì ai viết, mà vì bà nhớ thật. Ba mươi năm uống trà cùng nhau, kể chuyện cùng nhau, mỗi chiều một chén rượu gạo. Bà sẽ nhớ.

Nhưng sẽ không ai nhớ ta.

Hắn uống trà. Đắng. Khác trà Trầm Nguyệt, khác trà TY, đắng kiểu quán nhỏ pha trà rẻ, nhưng quen. Vân Đô quen. Mọi thứ ở đây quen kiểu không nhớ mà vẫn biết. Kiểu cơ thể nhớ khi đầu đã quên.

Họ ngồi lâu. Không vội. Nắng qua cửa sổ dịch chuyển trên mặt bàn, chậm, kiểu chậm khi buổi chiều ở Vân Đô kéo dài hơn nơi khác.

Trước khi đi, hắn quay lại nhìn bàn góc lần cuối. Vết mòn trên gỗ, hình khuỷu tay, ba mươi năm. Lão kiếm khách. Kẻ hắn viết ra, kẻ sống thật hơn nhiều thứ có thật, kẻ bị xóa mà vẫn để lại vết mòn trên gỗ.

Lão xứng đáng được nhớ. Hắn nghĩ. Hơn ta.

Đêm. Ngõ hẻm cuối phố Tân Phong.

Phòng trọ cũ vẫn ở đó. Cửa gỗ mục, then cài lỏng, bên trong tối. Không ai thuê từ khi hắn rời đi, hoặc không ai nhớ nơi này từng có người ở. Cả hai đều có thể.

Hắn đứng trước cửa. TY đứng sau, cách hai bước, không chen vào khoảnh khắc này.

Nơi đây. Hắn nghĩ.

Bốn năm trước. Hắn tỉnh dậy trên giường gỗ, trần nhà thấp, trời mờ sáng. Không nhớ gì. Không tên. Không quá khứ. Không biết mình là ai, ở đâu, tại sao nằm đây. Chỉ có cây bút gãy trong tay, hai chữ mờ trên thân, và cảm giác mơ hồ rằng mình đã quên điều gì đó quan trọng.

Hắn đẩy cửa. Then lỏng, cửa mở. Bên trong, giường gỗ, bàn nhỏ, cửa sổ nhỏ nhìn ra ngõ hẹp. Bụi phủ mọi thứ. Mạng nhện ở góc trần. Không ai ở đây lâu rồi.

Hắn bước vào. Ngồi xuống giường. Bụi bay lên trong ánh trăng lọt qua cửa sổ.

TY vào theo. Đứng ở cửa.

– Đây là nơi ta tỉnh dậy lần đầu. Hắn nói. Nhẹ.

– Ta biết. Cô nói.

Im lặng.

Hắn nhìn quanh. Phòng nhỏ, tối, bụi. Bốn năm trước, hắn sợ. Sợ cái trống trong đầu, sợ không biết mình là ai, sợ cây bút gãy trong tay có ý nghĩa gì đó mà hắn không hiểu. Bây giờ hắn biết tất cả. Biết mình là Mặc Huyền, Chấp Bút đời mười bảy, kẻ bị xóa rồi được sư phụ cứu, kẻ viết lịch sử, kẻ chọn tan để mọi người nhớ.

Từ sợ đến chọn. Hắn nghĩ. Bốn năm.

Hắn lấy cuốn #17 ra. Mở. Mực xanh nhạt của Sử Hải vẫn ấm trên trang, Sử Hải vẫn ở đó, chờ, kiểu chờ mười nghìn năm nhưng lần đầu có ai lắng nghe.

Hắn viết. Bút gãy trên giấy, mực đen:

"Ngày... ta không biết ngày nào. Vân Đô. Phòng trọ cũ.

Nơi ta bắt đầu. Kẻ bị xóa. Kẻ không ai nhớ. Bốn năm, ta đã tìm được tên thật, tìm được sư phụ, tìm được TY, tìm được mười người cùng đi. Ngày mai ta sẽ trở về thung lũng. Rồi ta sẽ bước vào Sử Hải lần cuối.

Ta bắt đầu ở đây. Ta sẽ không kết thúc ở đây. Nhưng ta muốn nhớ nơi này. Giường gỗ, bụi, cửa sổ nhỏ, mùi gỗ mục lẫn ẩm. Ta muốn mang theo.

Nếu tan rồi vẫn còn gì đó, ta muốn nó có mùi của phòng trọ này. Mùi bắt đầu."

Hắn đóng sách. Nhìn TY.

Cô ngồi xuống cạnh hắn trên giường gỗ cũ. Bụi bay. Trăng qua cửa sổ rọi nửa mặt cô, nửa sáng nửa tối, kiểu sáng tối chia đều trên mặt kẻ nhớ mọi thứ mà biết sẽ phải nhớ thêm một cuộc ra đi.

– Ông Chu sẽ ổn, cô nói. Bà Châu sẽ ổn. Vân Đô sẽ ổn.

Hắn gật.

– Còn ngươi? Hắn hỏi.

TY mở sổ. Viết. Không đọc cho hắn nghe. Gấp lại.

– Ta sẽ nhớ. Cô nói. Câu đó. Vẫn câu đó. Nhưng mỗi lần cô nói, nặng hơn, thật hơn, gần hơn với ngày hắn tan.

Hắn không nói thêm. Có những đêm không cần lời. Có những phòng trọ cũ chỉ cần hai người ngồi trong bụi và trăng, nghe gió qua ngõ hẻm, nghe Vân Đô thở đều trong giấc ngủ, nghe bốn năm nén lại thành một đêm.

Trên trời, chữ lịch sử sáng qua cửa sổ nhỏ. Mười nghìn năm ký ức chiếu vào phòng trọ bốn năm. Chữ nhỏ, đều, rõ, kiểu rõ khi thế giới đã quen với việc nhớ.

Ngày mai, hắn nghĩ, ta về thung lũng. Rồi bước vào biển.

Nhưng đêm nay, ta ở đây. Nơi ta bắt đầu. Với người ta tin nhất.

Đủ.

Ch.112/115
2.588 từ