TWIST: A Thất Không Được Mời
Câu hỏi của Thẩm Vô Thanh không đến từ tò mò.
Nó đến từ thứ gì đó kỹ hơn tò mò, thứ mà anh đã để dành từ đầu đêm và không đặt ra vì chưa đúng lúc, thứ của người quan sát khi nhận ra có một chi tiết không khớp và giữ nó lại, không hỏi, để xem liệu nó có khớp vào sau này không.
Thứ không khớp đó là A Thất.
Mười người được gọi đến. Mười thẻ tên trên bàn. Mười phòng trong quán. Phiên tòa Tạ Hàn Sơn thiết kế trong hai mươi năm, cơ quan lắp trong ba năm, ngòi nổ gắn vào từng vỏ kiếm. Tất cả đều có con số và con số đó là mười, không phải mười một.
A Thất không có thẻ tên. A Thất không có phòng trong danh sách. A Thất không được nhắc đến trong bất kỳ lời khai nào của Tạ Hàn Sơn về cách ông chuẩn bị cho đêm nay.
– Ông không mời A Thất đến đêm nay, Thẩm Vô Thanh nói. Không phải câu hỏi. Câu xác nhận đặt ra để nghe phản ứng.
Tạ Hàn Sơn nhìn về phía anh. Ánh đèn dầu đã yếu, in bóng ông lên tường như bóng của người lớn hơn, nhưng giọng ông vẫn giống giọng đầu đêm, không cao lên, không thấp xuống, đều đặn như tiếng nước trong đồng hồ.
– Không, ông nói.
Thẩm Vô Thanh để chữ đó nằm trong khoảng không trước khi hỏi tiếp.
Trong phòng, những người khác đang trong trạng thái khác nhau của chờ đợi và mệt mỏi, người đàn bà áo trắng ngồi rất thẳng nhưng mắt đã nặng hơn đầu đêm, Lục Tri Thu để đầu hơi nghiêng như người gần ngủ mà không ngủ được, tên trộm trẻ đã bắt đầu ngọ nguậy lại sau một lúc ngồi im. Liễu Vô Âm vẫn tỉnh, nhịp tim nàng bảy mươi tư, ổn định. Diệp Cô Thành ngồi với tay đặt phẳng trên bàn, chờ.
A Thất ngồi ở góc bàn, sổ tay đã đóng, và nhìn về phía Tạ Hàn Sơn theo cách cô nhìn ông hai mươi năm nay, chăm chú, không để lộ phản ứng, đôi mắt ghi chép.
– Tại sao, Thẩm Vô Thanh hỏi.
Lần này là câu hỏi thật.
Trong phòng, vài cái đầu quay về phía anh. Thứ câu hỏi này đặt ra không phải điều ai trong phòng chưa muốn hỏi, cả đêm nay A Thất đã là hiện diện mà không ai biết cách gọi tên, người không có thẻ bài, người không có trong danh sách khách, người ngồi ở vị trí không phải khách mà cũng không hẳn là chủ. Câu hỏi đó đã nằm trong phòng từ lúc cô bước ra khỏi tường.
Tạ Hàn Sơn im lặng một lúc trước khi trả lời, theo cách ông luôn im lặng trước câu hỏi quan trọng.
– Vì cô ấy không phải khách, ông nói.
Thẩm Vô Thanh chờ thêm. Biết rằng với Tạ Hàn Sơn, câu đầu tiên thường là một nửa câu trả lời.
Và quả nhiên ông tiếp tục.
– Phiên tòa này là cho khách. Mười người tôi mời đến, mười người có liên quan đến đêm hai mươi năm trước, mười người có tội hoặc có chứng, mười người cần có mặt để câu chuyện đó được đặt lên bàn đầy đủ. Tôi gửi thư, tôi chờ họ đến, tôi xếp thẻ tên theo chỗ ngồi. Đó là nghi thức của tòa án: người bị xét xử phải được triệu tập.
Ông dừng.
– A Thất không được triệu tập vì A Thất không phải người bị xét xử. Cô ấy không có tội trong đêm đó. Cô ấy là đứa trẻ ba tuổi nằm trong khe tường vì không có chỗ nào khác để nằm.
Thẩm Vô Thanh nghe nhịp tim A Thất: năm mươi tám. Không đổi khi nghe tên mình. Nhịp đó bình thản theo cách không phải nhịp của người không để ý, đó là nhịp của người đã biết điều vừa được nói từ lâu và không còn cần nghe lại để xác nhận.
– Cô ấy cũng không phải nhân chứng được triệu tập, ông tiếp tục, vì nhân chứng của tôi trong phiên tòa này không phải cô ấy. Nhân chứng của tôi là sổ tay của cô ấy. Hai thứ đó không giống nhau.
– Vậy cô ấy là ai trong đêm nay, Thẩm Vô Thanh hỏi.
Câu hỏi đó đơn giản hơn tất cả những câu hỏi anh đã đặt ra từ hoàng hôn, và có lẽ vì vậy nó nằm trong phòng theo cách khác.
Tạ Hàn Sơn không trả lời ngay.
Ông nhìn về phía góc bàn nơi A Thất ngồi. Ánh nhìn đó không phải nhìn đánh giá, không phải nhìn của người đang tính toán. Là nhìn của người đang thấy thứ gì đó mà họ đã thấy nhiều lần và mỗi lần thấy lại vẫn không có từ đủ để mô tả.
– Cô ấy là người của quán này, ông nói.
Bốn chữ. Rất thật thà, không hoa mỹ.
Thẩm Vô Thanh giữ câu đó.
– Người của quán này, anh nhắc lại, chậm, theo cách anh nhắc lại thứ cần được nghe nhiều hơn một lần.
– Phải, Tạ Hàn Sơn nói. Không phải người hầu. Người hầu đến rồi đi, người hầu có tên trong sổ chi tiêu, người hầu được trả công vào cuối tháng và có thể bỏ đi nếu muốn. A Thất không phải người hầu. Cô ấy không có tên trong bất kỳ sổ nào vì từ đầu cô ấy không nằm trong bất kỳ hạng mục nào tôi có tên.
Ông dừng lại, rồi nói tiếp với giọng của người đang đặt từng chữ vào chỗ của nó.
– Cô ấy đến đây trước khi quán này tồn tại theo nghĩa hiện tại. Cô ấy đến đây trong đêm thảm sát, khi đây còn là trạm dừng đèo cũ, khi chưa có cơ quan trong tường, chưa có tầng hầm được xây lại, chưa có luật nào của đêm nay. Khi tôi dựng lại quán này từ đống hoang tàn đó, cô ấy đã ở đây rồi, trong tường, ba tuổi, không tiếng, không tên trong bất kỳ hồ sơ nào của tôi vì làm sao tôi viết vào hồ sơ một đứa trẻ câm không có ai để hỏi tên họ.
Ông nhìn về phía A Thất.
– Cô ấy không đến đêm nay vì tôi mời. Cô ấy đang ở đây khi đêm nay xảy ra. Đó là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
Thẩm Vô Thanh ngồi im và nghe cái khác nhau đó nằm xuống trong đầu mình.
Mười người được triệu tập. Mười thẻ bài. Mười phòng. Một phiên tòa được dựng lên cẩn thận trong hai mươi năm, từng chi tiết được tính toán, ai ngồi đâu, ai biết gì, ai sẽ phản ứng thế nào khi nghe ai khai điều gì.
Và trong tất cả sự tính toán đó, có một người Tạ Hàn Sơn không cần tính toán vì người đó đã ở đây từ trước khi có gì để tính toán.
Cô ấy không cần được mời. Cô ấy đang ở nhà.
Anh để suy luận đó nằm yên mà không kiểm tra thêm, vì anh biết đó không phải suy luận sai.
Đây là quán trọ. Có tên trên biển hiệu. Có mười phòng được đặt cho mười người khách. Có chủ quán già ngồi đầu bàn phán xét. Có luật chơi được treo lên và đồng hồ nước đếm ngược.
Nhưng trước khi tất cả những thứ đó tồn tại, trước khi biển hiệu được treo và cơ quan được lắp và ngòi nổ được gắn, trước tất cả những điều đó, có một đứa trẻ câm sống trong tường, học cách viết từ mực và giấy cũ người ta bỏ lại, ghi chép từng người đi qua trong hai mươi năm.
Quán trọ là quán của Tạ Hàn Sơn. Nhưng những bức tường thì là của A Thất.
Liễu Vô Âm lên tiếng, giọng nàng không cao lên nhưng rõ trong phòng lặng.
– Nghĩa là cô ấy có thể ở lại, nàng nói. Hay cô ấy cũng bị ràng buộc bởi ba luật của ông?
Tạ Hàn Sơn quay về phía người phụ nữ.
– Ba luật của tôi là cho khách. Tôi đã nói.
– Ông vừa nói cô ấy không phải khách.
– Phải, ông xác nhận.
Một khoảnh khắc im lặng. Liễu Vô Âm ngồi lại, không hỏi thêm, không phải vì hài lòng với câu trả lời mà vì đã nghe đủ để biết câu trả lời tiếp theo sẽ là gì.
Tên trộm trẻ quay về phía A Thất, nhìn cô với cái nhìn lần đầu tiên anh ta nhìn thẳng vào cô từ đầu đêm.
– Vậy cô có thể đi ra ngoài, anh ta nói. Bây giờ. Nếu muốn.
Không phải hỏi Tạ Hàn Sơn. Hỏi A Thất.
A Thất ngồi yên. Không gật. Không lắc. Chỉ nhìn về phía anh ta theo cách nhìn của người đã nghe câu hỏi và quyết định không trả lời không phải vì không có câu trả lời, mà vì câu hỏi dựa trên một giả định sai.
– Cô ấy không có lý do để ra ngoài, Thẩm Vô Thanh nói, thay cô. Đây là nhà của cô ấy.
Tên trộm trẻ im lặng, nhìn về phía người mù, rồi nhìn lại A Thất như thể đang đối chiếu hai người ngồi ở hai đầu bàn và nhận ra họ hiểu nhau theo cách không ai trong phòng hiểu.
Mạc Dạ không nói thêm. Nhưng cách anh ta ngồi lại thay đổi: lưng thẳng hơn, không tựa cột nữa. Thứ gì đó trong cách anh ta nhìn về phía cô gái câm ở góc bàn đã thay đổi, không hẳn là tôn trọng vì anh ta không phải kiểu người dễ tôn trọng, nhưng gần với điều đó.
Thẩm Vô Thanh quay về phía góc bàn nơi A Thất ngồi.
Cô đang nhìn anh. Không phải nhìn ngẫu nhiên, anh nghe tiếng cô ngồi không thay đổi, nghe hơi thở cô không đổi nhịp, nhưng anh biết cô đang nhìn anh bởi vì đó là điều anh đã học được từ đầu đêm: khi A Thất chú ý đến ai, cô đặt trọng lượng cơ thể về phía người đó theo cách không tạo tiếng động mà vẫn cảm nhận được.
Anh không gật đầu, không nói. Anh chỉ hướng mặt về phía cô, theo cách anh hướng mặt về phía thứ cần được nghe.
Cô không di chuyển. Không gật đầu lại, không làm gì. Chỉ ngồi.
Và trong sự im lặng đó, Thẩm Vô Thanh nhận ra thêm một điều nữa, điều mà anh nghĩ sẽ không nhận ra đêm nay: rằng trong căn phòng đầy ắp những người có bí mật, có tội, có tên trong hồ sơ hai mươi năm cũ, A Thất là người duy nhất ở đây mà không cần giải thích lý do mình có mặt. Không cần thư mời. Không cần tên trên thẻ bài. Không cần ai chứng minh rằng cô thuộc về chỗ này.
Cô thuộc về chỗ này vì hai mươi năm trước cô đã chọn ở lại khi có thể ra đi.
Hoặc không phải chọn, anh nghĩ. Có thể cô đơn giản là không biết đi đâu. Một đứa trẻ câm ba tuổi không có lựa chọn nào khác ngoài cái tường nơi cô đã nằm đêm đó.
Anh không biết cái nào đúng hơn. Và A Thất, người duy nhất có thể trả lời, không nói được.
Nhưng anh nghĩ, và đây là suy luận anh không chắc, rằng với một đứa trẻ ba tuổi sống sót qua đêm tuyết đó, sự phân biệt giữa "chọn ở lại" và "không có nơi nào để đi" có thể không còn quan trọng sau hai mươi năm. Sau hai mươi năm, cả hai trở thành một thứ: ở lại vì đây là nơi duy nhất mà cô biết là nơi của mình.
Không phải vì ai giữ cô ở đây. Vì đây là nhà.
Đồng hồ nước nhỏ. Mực nước chạm ngưỡng đỏ.
Tạ Hàn Sơn nhìn đồng hồ nước với cái nhìn không phải lo lắng và không phải thỏa mãn, nhìn của người đã nhìn đồng hồ đó mỗi đêm trong hai mươi năm và biết chính xác còn bao nhiêu thời gian mà không cần đo thêm.
Phòng im trong khoảnh khắc đó theo kiểu im của người đang đứng ở chỗ bao giờ cũng im, ở cửa ngưỡng giữa đêm và sáng, khi không khí chưa đổi màu nhưng gió đã bắt đầu thay hướng.
Thẩm Vô Thanh ngồi và nghe mười một nhịp tim trong phòng. Không phải mười, mười một. Con số đó đã đúng từ đầu đêm nhưng anh mất đến canh này mới có câu trả lời cho thứ khiến nó thành mười một thay vì mười.
Mười người được mời đến vì Tạ Hàn Sơn gửi thư. Một người không cần thư.
Trong hai mươi năm phiên tòa này được dựng lên, có thứ gì đó Tạ Hàn Sơn không thiết kế, không tính toán, không đưa vào sơ đồ: cô gái câm ngồi góc bàn với sổ tay đóng trong tay, người duy nhất trong phòng không cần ai giải thích lý do mình ở đây.
Không phải vì tội. Không phải vì bằng chứng. Không phải vì lá thư hay con dấu hay tên trên thẻ bài.
Vì đây là nhà của cô.
Bình minh còn xa. Nhưng không còn xa như lúc bắt đầu.