A Thất Và Tạ Hàn Sơn
Vô Thanh quay về phía Tạ Hàn Sơn.
Ông ngồi đầu bàn, nhịp 62, tay đặt phẳng trên gỗ (kiểu đặt tay mà anh đã nghe suốt đêm: không run, không siết, không nhấp, phẳng kiểu phẳng khi người ta đã quyết định tất cả trước khi ngồi xuống và bây giờ chỉ chờ). Đồng hồ nước ở đầu bàn phía ông, mực đỏ, nhỏ giọt chậm hơn đầu đêm vì mực nước thấp thì áp suất giảm, nhưng không ai trong phòng biết còn bao lâu. Trừ ông.
– A Thất, Vô Thanh nói. Giọng thấp, đều. Không phải câu hỏi.
Ông không đáp ngay. Nửa nhịp thở. Rồi:
– Con hỏi gì?
– Cô ấy là ai.
Tạ Hàn Sơn nhìn Vô Thanh. Anh biết ông nhìn vì hướng hơi thở ông thay đổi: quay từ phía bàn sang phía anh, cách bảy bước, giữa đại sảnh. Ông nhìn và anh không thấy, nhưng anh nghe: nhịp 62 vẫn đều, nhưng hơi thở ông sâu hơn một phần (kiểu sâu khi ông chuẩn bị nói nhiều hơn bình thường, và ông ít khi nói nhiều).
– A Thất là con gái của Châu Thất.
Ông nói. Giọng phẳng. Mỗi chữ đặt xuống như đặt viên đá.
– Châu Thất là người hầu trong trạm Hàn Mai. Trước khi trạm thành quán, trước khi ta đến, trước khi Kiếm Minh dùng nơi này làm phòng xử, Châu Thất đã ở đây. Nấu cơm. Rót trà. Quét sân. Một người phụ nữ không tên trong bất kỳ hồ sơ nào.
Ông dừng. Nửa nhịp. Gió ngoài quán rít qua mái, mang theo mùi tuyết mới phủ lên lớp tuyết cũ, lạnh khác kiểu lạnh lúc đầu đêm (lạnh lúc đầu là lạnh khô, lạnh bây giờ ướt, kiểu lạnh ngấm vào xương khi đêm kéo dài quá lâu). Rồi ông tiếp:
– Châu Thất sinh A Thất trong trạm. Không có cha. Không có tên đặt. Những người qua trạm gọi đứa trẻ "con bé thứ bảy" vì Châu Thất là người hầu thứ bảy, và đứa trẻ thành A Thất. Không phải tên. Là số.
Vô Thanh nghe: Liễu Vô Âm hít vào sâu (nàng biết thế nào là "không phải tên mà là số," nàng từng là số trong lâu). Lục Tri Thu nhịp 89 tăng 90 (ông nhớ đứa trẻ câm, ông đã thấy đứa trẻ đó khi kiểm tra xác trên đèo hai mươi năm trước, nhưng ông không biết đứa trẻ sống sót). Mạc Dạ nhịp 78, ngón gõ nhẹ vào cột.
– Đêm thảm sát, ông tiếp, giọng không thay đổi, Châu Thất chết ở bếp. Dao bầu trong tay. Nàng cố chặn lối bếp để sát thủ không vào phía trong, nơi có trẻ con. Nàng chặn được ba hơi thở.
Ông dừng lâu hơn. Hai nhịp thở. Và Vô Thanh nghe: khoảng cách giữa nhịp 62 thứ hai và thứ ba rộng ra. Kiểu rộng mà anh đã nghe ở ông nhiều lần trong đêm: kiểu rộng khi ông nói điều mà giọng giữ phẳng nhưng nhịp không giữ được hoàn toàn.
– Ba hơi thở, ông nói. Đủ để A Thất bò vào khe tường.
– Ông tìm thấy cô ấy khi nào, Vô Thanh hỏi.
– Sáng hôm sau. Trong khe tường phía đông đại sảnh. Cùng con.
"Cùng con." Vô Thanh nghe hai chữ đó và mảnh ký ức thứ tám rung mạnh hơn: bàn tay nhỏ nắm tay anh, kéo vào tường, mùi bạch đàn, gỗ lạnh. Anh bảy tuổi, cô ấy ba tuổi. Anh mù, cô ấy câm. Anh khóc, cô ấy nắm. Bây giờ anh nghe Tạ Hàn Sơn nói "cùng con" và nhịp 64 của anh tăng lên 65, nửa nhịp, kiểu tăng khi ký ức không còn là mảnh mà bắt đầu thành hình.
– Ta mang cả hai đến chùa Tĩnh Tâm, ông tiếp. Con ở đó mười năm. A Thất ở năm năm, rồi ta mang cô ấy về quán. Chùa không giữ được (sư già nói cô ấy không ngủ, đêm nào cũng nhìn cửa, kiểu nhìn người chờ ai đến đón). Ta đón về quán. Cho cô ấy ở trong tường.
Diệp Cô Thành hỏi, giọng phẳng:
– Tại sao trong tường.
Không phải câu hỏi thật. Hắn đã đọc sổ tay, hắn biết tại sao. Nhưng hắn hỏi để Tạ Hàn Sơn tự nói, để phiên tòa ghi nhận.
Tạ Hàn Sơn đáp:
– Vì cô ấy không chịu ở ngoài.
Im lặng. Và ông nói thêm, giọng thấp hơn:
– Ba năm đầu ở quán, ta mở phòng cho cô ấy. Phòng mười, cuối hành lang, yên nhất. Cô ấy không ngủ trong phòng. Mỗi đêm ta tìm, cô ấy ở trong khe tường. Cuộn tròn. Giống đêm thảm sát. Ta mang chăn vào khe. Mang cơm vào khe. Đợi. Ba năm, cô ấy không ra.
Vô Thanh nghe: Bạch Tử Yên nhịp 76, hơi thở nông hơn. Kiểu nông khi nàng nghe điều mà nàng hiểu nhưng không muốn hiểu. Nàng giết trẻ con đêm đó. Châu Thất chặn ba hơi thở để A Thất kịp bò vào tường. Nếu Châu Thất chậm nửa hơi thở, A Thất sẽ nằm trong danh sách sáu đứa trẻ chết, và Bạch Tử Yên sẽ mang thêm một sinh mạng nữa. Nàng biết điều này. Nàng nghe và nàng không cười. Tay trái nàng đặt trên bàn, ngón cái ấn vào mặt gỗ, kiểu ấn khi người ta muốn giữ tay mình yên vì nếu buông ra thì tay sẽ run.
Liễu Vô Âm mở miệng:
– Ba năm trong khe tường. Tám tuổi.
Nàng nói phẳng, nhịp 74, nhưng Vô Thanh nghe: giọng nàng khác hơn bình thường. Không phải giọng hỏi, không phải giọng kể. Giọng xác nhận. Kiểu xác nhận khi người ta nghe chuyện người khác mà thấy bóng mình.
– Tôi mười sáu tuổi khi thoát khỏi lâu, nàng nói. Tám năm. Cô ấy tám tuổi khi ra khỏi tường. Năm năm. Nhưng tường hẹp hơn lâu.
Không ai đáp. Vô Thanh nghe: Liễu Vô Âm nhịp giữ 74, nhưng ngón tay nàng gõ nhẹ vào bình rượu rỗng, kiểu gõ khi người ta nhớ thứ không muốn nhớ.
Vô Thanh hỏi:
– Ông dạy cô ấy gì.
Tạ Hàn Sơn đáp, chậm:
– Đọc viết. Ký hiệu tay. Cách đi trên xà gỗ mà không gây tiếng động.
Ông dừng. Vô Thanh chờ. Ông nói thêm:
– Cách nhìn. Cách ghi nhớ. Cách phân biệt ai nói thật ai nói dối bằng mắt (vì cô ấy không nghe được nhịp tim như con, nhưng mắt cô ấy đọc được thứ con không thấy: tay run, vai siết, mắt nhìn đi chỗ khác khi nói dối).
Diệp Cô Thành nghiêng quạt trên bàn. Nhẹ. Quạt xoay nửa vòng.
– Ông biến cô ấy thành gián điệp.
Không phải câu hỏi. Hắn nói phẳng, nhịp 66.
Tạ Hàn Sơn nhìn Diệp. Và lần đầu tiên trong đêm, ông đáp bằng hơn một câu:
– Ta không biến. Ta dạy cô ấy sống. Cô ấy câm, cô ấy không ra ngoài, cô ấy không có gia đình, không có tên, không có chỗ đứng trong giang hồ hay ngoài giang hồ. Thứ duy nhất cô ấy có là mắt và trí nhớ. Ta dạy cô ấy dùng thứ cô ấy có. Gọi đó là gián điệp hay gọi là sinh tồn, tùy người nghe.
Ông dừng. Rồi nói thêm, giọng thấp hơn, gần như chỉ Vô Thanh nghe:
– Nhưng cô ấy ghi không phải vì ta bảo. Cô ấy ghi vì cô ấy muốn nhớ. Khác nhau.
Vô Thanh nghe: nhịp 62, nhưng hơi thở ông nặng hơn ở cuối câu. Kiểu nặng khi ông nói thật nhưng biết lời thật không đủ để bào chữa. Ông nuôi đứa trẻ trong tường, dạy đứa trẻ theo dõi, dùng đứa trẻ làm đôi mắt cho phiên tòa ông chuẩn bị hai mươi năm. Gọi đó là nuôi con hay gọi là đào tạo công cụ, câu trả lời nằm ở đâu đó giữa hai thứ, và Tạ Hàn Sơn biết mình không có quyền chọn đáp án.
Chu Tuyết Sinh mở miệng. Lần đầu tiên kể từ khi bước ra hành lang.
– Tôi lắp cơ quan mười hai phòng. Mười lăm năm trước. Khi tôi ở lại quán một tuần để bảo dưỡng, cô ấy mang trà đến. Mỗi sáng. Tôi không hỏi tên. Tôi để lại bản lề đồng.
Ông dừng. Tay phải run nhẹ.
– Tôi tưởng cô ấy là con gái chủ quán. Tôi không hỏi vì tôi không muốn biết quá nhiều (biết nhiều thì khó quay lưng, kiểu khó mà thợ cơ quan ai cũng biết). Bây giờ tôi biết: cô ấy không phải con gái. Cô ấy là đứa trẻ sống sót. Và bản lề tôi để lại, cô ấy giữ hai mươi năm.
Vô Thanh nghe: nhịp Chu Tuyết Sinh 65, tay phải run, nhưng giọng đều. Kiểu đều khi người ta nói điều đã nghĩ lâu rồi mới nói ra. Ông là Diệp Phong Minh, sử quan Kiếm Minh, người ghi chép phiên tòa. Cô ấy là A Thất, người ghi chép quán trọ. Hai người ghi chép, hai mươi năm, trong cùng một ngôi nhà, và ông không biết cô ấy ghi cho đến khi Mạc Dạ mở sổ trước mặt tất cả.
Lục Tri Thu đứng dậy. Chậm. Hòm thuốc trên tay, nhịp 90.
– Đứa trẻ mù mà tôi cứu trên đèo hai mươi năm trước, ông nói, giọng run (giọng run, không chỉ tay). Tôi nhớ. Bảy tuổi. Mắt đã mất. Tôi nói "đứa trẻ này không bao giờ nhìn thấy nữa."
Ông nhìn Vô Thanh (Vô Thanh nghe hướng nhìn ông: thẳng, kiểu nhìn mà mắt thầy thuốc nhìn bệnh nhân cũ).
– Nhưng tôi không biết có đứa trẻ thứ hai. Không ai nói. Tạ Hàn Sơn mang đứa mù đến sân sau chùa, tôi băng bó. Không nhắc đứa câm.
Tạ Hàn Sơn đáp, giọng phẳng:
– Không phải giấu. A Thất ở trong tường. Khi ta mang con đến chùa, cô ấy đã tự bò lại vào khe. Ta không kéo cô ấy ra.
Không kéo cô ấy ra. Vô Thanh lặp trong đầu. Ông không kéo. Ông chờ. Ba năm. Ông mang cơm vào khe và chờ. Kiểu chờ của phán quan: không ép, không kéo, chỉ đặt chứng cứ lên bàn và chờ bị cáo tự mở miệng. Ông nuôi cô ấy bằng kiểu chờ đó. Và cô ấy ra, năm thứ tư. Tự ra.
Mạc Dạ rời cột. Bước đến gần bàn.
– Cô ấy bao nhiêu tuổi.
– Hai mươi ba, Tạ Hàn Sơn đáp.
Im lặng. Mạc Dạ nhẩm: ba tuổi khi thảm sát, hai mươi năm trong quán, hai mươi ba. Hắn hai mươi chín. Hắn chín tuổi khi bò vào quán lục xác, cô ấy ba tuổi khi bò vào tường trốn chết. Sáu năm chênh lệch, cùng một sàn gỗ, cùng một đêm tuyết. Hắn chạy ra. Cô ấy ở lại.
– Hai mươi ba, hắn nói lại, nhịp 78. Hai mươi năm trong tường.
Không nói thêm. Nhưng Vô Thanh nghe: hơi thở hắn nặng hơn, kiểu nặng khi tên trộm đếm lại số năm và thấy mình đã lấy tự do bằng hai chân, còn cô ấy chờ tự do bằng bút.
Vô Thanh đứng dậy. Chậm. Kiếm gỗ trên đùi trượt xuống bàn, đặt nhẹ. Anh quay mặt về phía tây nam, hướng nhịp 58, và anh nói, giọng thấp, kiểu giọng mà anh chưa bao giờ dùng trong đêm (không phải giọng hỏi, không phải giọng phán đoán, giọng của người đang nói với người mà mình bắt đầu nhớ):
– A Thất.
Nhịp 58. Không đổi. Cô ấy nghe.
– Bàn tay trong khe tường. Đứa trẻ mù và đứa trẻ câm. Tôi bắt đầu nhớ.
Nhịp 58. Rồi 59. Tăng một nhịp, trọn một nhịp, lần thứ năm trong đêm. Và lần này, Vô Thanh nghe thêm: sau khi nhịp tăng, trước khi nhịp giảm lại, có tiếng nhẹ. Rất nhẹ. Tiếng tay chạm gỗ. Cô ấy đặt tay lên tường phía bên kia, đối diện chỗ anh đứng.
Hai bàn tay trên hai mặt tường. Giữa: ba lớp ván gỗ bách. Giống hai mươi năm trước: hai bàn tay nắm nhau trong khe tối. Chỉ khác: bây giờ có tường ngăn, anh không còn bảy tuổi, cô ấy không còn ba tuổi, và khoảng cách giữa họ không phải khe hẹp mà là hai mươi năm quên.
Nhưng nhịp 59 rồi trở về 58. Nhanh. Kiểu trở về mà anh đã nghe nhiều lần: kiểu trở về của người không cho phép mình hy vọng lâu vì hy vọng lâu thì đau hơn.
Cô ấy hai mươi ba tuổi. Cô ấy sống trong tường hai mươi năm, ghi tám trăm trang, theo dõi ba trăm bốn mươi hai người, luyện đi trên xà gỗ mà không gây tiếng, học ký hiệu tay, học đọc viết, và chờ. Chờ anh. Và khi anh đến, cô ấy rót trà, nhịp 58, và không nói gì. Vì cô ấy không nói được. Vì cô ấy chưa bao giờ nói được.
Anh ngồi xuống. Tay trên bàn. Nhịp 65 giảm về 64. Và anh chờ phần tiếp theo của phiên tòa, phần mà Tạ Hàn Sơn sẽ nói hoặc không nói, vì đồng hồ nước đang cạn và ông biết: trước khi nước hết, tất cả phải được nói ra.
Gió rít ngoài mái. Đồng hồ nước nhỏ giọt. Chậm hơn. Kiểu chậm khi gần hết: mỗi giọt xa hơn giọt trước, mỗi khoảng im dài hơn khoảng im trước, kiểu đếm ngược mà chính đồng hồ cũng không muốn đến số cuối. Nến trên bàn chớp một lần rồi lại đứng, sáp chảy dài xuống đế đồng, và Vô Thanh nghe: tiếng sáp rơi, nhẹ, kiểu nhẹ mà chỉ đêm im thế này mới nghe được.