Những Gì Biên Bản Chép Lại
Diệp Cô Thành lấy cuộn giấy từ hộp đá phía trong, không phải cuộn da thuộc mà giấy dày, loại giấy dùng cho văn kiện chính thức, đã vàng theo thời gian nhưng còn nguyên không mủn.
– Biên bản chính thức, hắn nói. Phiên thẩm vấn thứ năm, biên bản cuối trước khi phiên xử bị gián đoạn.
Hắn mở cuộn ra trên bàn đá. Giấy dày hơn da thuộc nên không cuộn tự nhiên mà phải dùng hai vật nặng, hộp đá nhỏ từ kệ, đặt hai đầu để giữ phẳng.
Thẩm Vô Thanh đứng trước bàn. Không ngồi. Nghe.
– Đọc đi.
Giọng Diệp Cô Thành khi đọc biên bản khác với khi đọc cuộn da thuộc, ít kiểm soát hơn một phần nhỏ, như thứ được viết trên giấy này đặt ra yêu cầu khác với thứ được ghi trên da.
– "Phiên thứ năm, hội đồng Kiếm Minh, người chủ trì: Thủ Tòa Tạ Hàn Sơn, người ghi chép: Lục Tri Thu, Thư Ký Trưởng Trần Ngọc Lam, ngày Nhâm Tý năm Ất Hợi."
Lục Tri Thu, đứng bên kệ hồ sơ, đặt tay xuống mép bàn.
– "Phiên này tiếp tục thẩm vấn các đối tượng trong vụ Mai Hoa Lệnh. Đối tượng số mười ba: Diệp Phong Minh, Sử Quan Kiếm Minh."
Người đạo sĩ già không cử động. Nhịp tim ông, theo Thẩm Vô Thanh nghe được: sáu mươi ba, không thay đổi. Ông đã biết tên mình sẽ xuất hiện trong tờ biên bản này.
– "Lời khai: đối tượng xác nhận đã nhận thông tin từ Tàng Danh Hội qua trung gian ba năm trước phiên xử, dưới hình thức văn kiện không có tên người gửi. Đối tượng xác nhận đã chuyển giao một phần thông tin cho Thư Ký Trưởng Trần Ngọc Lam. Đối tượng phủ nhận tham gia chủ mưu."
Diệp Cô Thành dừng đọc.
Thẩm Vô Thanh chú ý bàn tay người đạo sĩ già: không cử động. Nhịp tim ông: sáu mươi ba, không thay đổi. Ông đã biết từ trước. Không phải bây giờ mới nghe, hai mươi năm trước, ông đã tự mình đứng trước hội đồng và đọc lời khai đó thành tiếng.
Hắn nhìn về phía người đạo sĩ già và tiếp tục đọc.
– "Hội đồng ghi nhận lời khai. Phiên thẩm vấn đối tượng số mười ba tạm dừng. Tiếp tục đối tượng số mười bốn."
Đối tượng số mười bốn: Bạch Tử Yên.
Lời khai ngắn, người phụ nữ đó khai ít hơn những người khác, theo kiểu người quen không giải thích. Hắn đọc xong lời khai trong khoảng thời gian ngắn.
Đối tượng số mười lăm. Số mười sáu.
Rồi hắn đọc đến đối tượng số mười bảy, và dừng lại.
Lần này không phải dừng vì tên bị gạch. Dừng vì tên bị xóa.
Không phải gạch, xóa hoàn toàn, bằng mực đen phủ lên, đậm đến mức không còn thấy chữ bên dưới dù đưa nến lại gần. Xóa theo cách người ta xóa khi muốn không ai đọc được, không phải khi muốn ghi nhận sự thay đổi.
Mạc Dạ đứng dậy từ sàn, bước lại gần bàn:
– Ai đó không muốn tên này được đọc.
– Rõ ràng, Diệp Cô Thành nói.
– Tên bên dưới còn đọc được không?
Hắn đưa nến sát tờ giấy. Nhìn dưới góc nghiêng. Lắc đầu.
– Không. Mực phủ dày. Cố tình.
Thẩm Vô Thanh nghe không gian trong phòng. Nhịp tim bốn người: Lục Tri Thu tám mươi sáu, Mạc Dạ tám mươi hai, người đạo sĩ già sáu mươi ba, Diệp Cô Thành sáu mươi chín rưỡi. Không nhịp nào thay đổi bất thường khi nhìn vào chỗ tên bị xóa, không ai nhận ra tên đó qua vết xóa.
Hoặc nhận ra nhưng không để nhịp tim lộ.
– Đọc tiếp, ông nói.
Diệp Cô Thành đọc tiếp.
Và ký ức đến.
Không phải mảnh lẻ như những lần trước, mảnh đến rồi biến mất trong khoảnh khắc, để lại mùi hoặc âm thanh hoặc cảm giác mà không có hình dạng rõ ràng. Lần này khác: ký ức đến theo từng lớp, từng câu được đọc kéo theo một phần tương ứng từ bên dưới, như nước rút đi lộ ra nền đất bên dưới.
Giọng Diệp Cô Thành đọc tên một nhân chứng trong phiên thứ năm, và Thẩm Vô Thanh nghe tiếng mưa. Không phải mưa tuyết. Mưa thật, ấm, từ mùa nào đó khác với mùa của đêm nay.
Buổi họp sau thảm sát, ông nhận ra. Không phải đêm đó. Sau đó. Vài tháng sau.
Cùng với tiếng mưa là mùi, giấy ẩm, mực cũ, và thứ gì đó ngai ngái từ lớp vữa tường bị thấm nước. Mùi của một căn phòng không có cửa sổ. Mùi của nơi người ta nói chuyện và không muốn ai bên ngoài nghe.
Ta đã ở trong một căn phòng như thế, ông nghĩ. Không nhớ ở đâu. Nhưng mùi này, ta nhớ mùi này.
Hắn đọc tên nhân chứng thứ ba của phiên thứ năm, và ông nghe tiếng bước chân trên sàn gỗ. Không phải sàn của phòng này. Sàn khác, ở nơi khác, tiếng bước chân của người bước vào phòng và dừng lại trước khi ngồi xuống.
Ta đã ngồi trong phòng như thế này, ông nghĩ, không chắc chắn, mảnh ký ức không có hình dạng rõ đủ để chắc chắn, nhưng cơ thể biết. Cơ thể nhận ra cảm giác ngồi trước hội đồng và nghe người khác đọc tên mình.
Ta đã ở đây rồi. Không phải đêm nay.
Và có tiếng người hỏi, không rõ từ nào, giọng ai, nhưng câu hỏi đó hướng vào ông. Thẩm Vô Thanh nhớ cảm giác của câu hỏi hơn là nội dung: loại câu hỏi mà người ta hỏi khi đã biết câu trả lời và chỉ cần người được hỏi xác nhận. Loại câu hỏi của hội đồng.
Ta đã trả lời gì?
Không nhớ. Tường đá. Chỗ phong bế bên trong.
Hắn đọc đến đoạn cuối của phiên thứ năm, và ký ức dừng lại ở một chỗ mà ông không thể vào sâu hơn. Như tường đá. Như chỗ trong ký ức bị chặn lại không phải bởi thuốc của Lục Tri Thu mà bởi thứ gì đó khác, thứ ông tự đặt ra, theo những gì Tạ Hàn Sơn đã nói trong đêm: hai lớp phong bế.
– Phiên thứ năm kết thúc ở đây, Diệp Cô Thành nói. Tờ tiếp theo là phần ghi chú.
– Ghi chú gì?
– Ghi chú của người chủ trì về các quyết định sẽ thực hiện trong phiên tiếp theo. Chữ viết tay của Tạ tiên sinh.
Lục Tri Thu: – Đọc đi.
Hắn đọc phần ghi chú:
– "Phiên sáu, tiếp tục đối tượng số mười bảy, đã liên lạc, xác nhận sẽ đến, lần này không để trốn thoát, cần có mặt người phụ tá của đối tượng để xác nhận lời khai, người phụ tá: [bị xóa]."
Phòng im lặng.
Chỗ trống sau dấu gạch ngang: cũng bị xóa bằng mực đen. Cùng loại mực với chỗ tên đối tượng số mười bảy bị xóa trong biên bản chính thức. Cùng một bàn tay.
– Đối tượng số mười bảy có người phụ tá, Thẩm Vô Thanh nói, không phải câu hỏi.
– Đúng. Và người phụ tá đó bị xóa cùng tên đối tượng.
– Tạ tiên sinh không xóa. Ông ấy viết xuống, người xóa là người khác.
Diệp Cô Thành: – Căn cứ vào đâu?
– Căn cứ vào việc Tạ tiên sinh giữ tờ giấy này trong tầng hầm hai mươi năm mà không tiêu hủy. Người muốn che giấu không giữ bằng chứng. Người giữ bằng chứng không phải người che giấu.
Lục Tri Thu từ góc phòng: – Nhưng người xóa phải vào được đây. Cơ cấu cầu thang, chỉ mở từ bên trong hoặc bằng chìa khóa đồng. Ai có quyền đó ngoài Tạ tiên sinh?
Không ai trả lời ngay.
Người đạo sĩ già, đứng ở góc phòng, không quay đầu lại. Nhịp tim ông: sáu mươi ba, bằng phẳng như mặt hồ trong ngày không gió.
Ông biết, Thẩm Vô Thanh nhận ra. Ông biết ai đã xuống đây. Và ông chọn không nói.
Nhưng người xóa tên không có quyền vào tầng hầm này, ông nghĩ thêm, nửa câu chưa nói thành lời. Hoặc không phải không có quyền. Chỉ là chúng ta chưa nghĩ đến người có quyền đó.
Mạc Dạ: – Tên đối tượng số mười bảy là ai?
– Bị xóa.
– Nhưng ông biết không?
Câu hỏi hướng đến Thẩm Vô Thanh.
Ông nghe câu hỏi và xử lý nó trong vài nhịp thở. Biết theo nghĩa gì? Biết rằng đối tượng số mười bảy trong danh sách phiên thứ năm của Kiếm Minh là người có vai trò cụ thể trong Án Hàn Mai, người mà Tạ Hàn Sơn cần đưa đến phiên sáu, và phiên sáu không bao giờ diễn ra vì thảm sát xảy ra trong đêm trước.
Biết tên, không.
Biết tên bị xóa có thể là tên của mình, có.
Người phụ tá của đối tượng số mười bảy, ông nghĩ. Kiếm Thính. Người nghe. Người được giao đến để xác nhận lời khai của đối tượng mà chính ông cũng là nhân chứng.
Nhưng đây là suy luận. Không phải ký ức.
– Tôi không chắc, ông nói.
Câu đó đúng. Ông không chắc.
Diệp Cô Thành nhìn ông một lúc theo cách hắn nhìn khi đang đánh giá mức độ thành thật trong câu trả lời. Nhịp tim hắn: sáu mươi chín rưỡi, không tăng.
Hắn chấp nhận câu trả lời đó.
– Còn tờ tiếp theo.
Tờ tiếp theo ngắn hơn, một trang, không phải cuộn. Chữ nhỏ, viết vội, thiếu khoảng cách đều nhau giữa các dòng theo kiểu người viết trong khi đứng hoặc trong khi vội.
– Đây là ghi chú bên lề, Diệp Cô Thành nói. Không phải biên bản chính thức. Chữ khác với phần còn lại, không phải chữ của Tạ tiên sinh, không phải chữ của Lục tiên sinh.
– Chữ của ai?
Lục Tri Thu bước lại gần nhìn:
– Chữ Trần Ngọc Lam. Thư Ký Trưởng.
Người phụ nữ đã viết cáo trạng số bảy và đưa cho người đạo sĩ già trước thảm sát sáu tháng. Người phụ nữ đã viết thư triệu tập với nét chữ mà người đạo sĩ già nhận ra.
– Đọc đi.
Hắn đọc:
– "Người phụ tá của đối tượng mười bảy đã xác nhận lời khai qua ghi chép riêng. Tôi giữ bản ghi đó. Nếu phiên sáu không diễn ra được, bản ghi này sẽ đến tay người phụ tá đó vào đúng thời điểm. Hắn sẽ nhớ, hoặc hắn sẽ nhớ lại. Thời gian không phải điều tôi lo."
Không ký tên. Không ngày tháng. Một đoạn văn ngắn, như thứ người ta viết khi biết mình có thể không còn thời gian để giải thích đầy đủ và chọn cách nói ngắn nhất có thể.
Phòng im lặng đủ lâu để tiếng nước chảy trong tường trở thành thứ duy nhất ai cũng nghe thấy.
Hắn sẽ nhớ, hoặc hắn sẽ nhớ lại.
Thẩm Vô Thanh đứng trước bàn đá và không nói gì.
Người phụ tá của đối tượng số mười bảy. Người đã xác nhận lời khai qua ghi chép riêng. Người mà Trần Ngọc Lam, Thư Ký Trưởng Kiếm Minh, người biết trước thảm sát có thể xảy ra, đã chuẩn bị trao lại bản ghi vào đúng thời điểm.
Đứa trẻ bảy tuổi trong tủ sách không phải là tất cả những gì ta từng là, ông nghĩ.
Và điều đó, đứng trong phòng đá dưới lòng đất với bốn người khác và tiếng nước chảy và hai mươi năm hồ sơ trên kệ, nặng hơn tất cả những thứ khác trong đêm nay cộng lại.
– Bản ghi riêng đó ở đâu, Mạc Dạ hỏi.
Không ai biết. Trần Ngọc Lam đã chết trong thảm sát đèo Bắc Sơn, chết cùng Tạ Hàn Sơn, cùng mười bảy người khác trong đêm Mai Hoa Lệnh. Bản ghi bà giữ theo lời hứa, nếu có, đã không đến tay người phụ tá đó vào đúng thời điểm bà muốn.
Nhưng người đạo sĩ già, đứng ở góc phòng với bàn tay vẫn đặt trên cạnh kệ, nhìn về phía hộp gỗ khóa ba chốt và không nói một lời.
Thẩm Vô Thanh quay về phía ông. Không hỏi. Chỉ chờ.
Nhịp tim người đạo sĩ già: sáu mươi ba. Sáu mươi ba. Sáu mươi ba.
Ông quyết định rồi, ông nghĩ. Ông quyết định từ trước khi xuống đây. Câu hỏi là quyết định đó là gì.
Diệp Cô Thành nhìn cha mình và không nói gì thêm. Lần đầu tiên trong đêm, hắn để im lặng làm việc của nó mà không cố điền vào.
Mạc Dạ ngồi xuống sàn đá, tựa lưng vào kệ hồ sơ, mắt nhìn lên trần phòng theo cách người ta nhìn lên trần khi đang sắp xếp lại những thứ vừa biết.
– Bản ghi riêng đó ở đây, hắn nói, không phải câu hỏi. Giọng hắn phẳng, như người đặt ra giả thiết để nghe phản hồi của phòng chứ không phải của người.
Không ai phản bác.
Tiếng nước trong tường chảy đều, không vội, theo lịch riêng của nó, như thứ không biết và cũng không cần biết có bao nhiêu người đang ngồi bên dưới đọc những gì người chết để lại.