Diệp Cô Thành Bày Bàn Cờ
Diệp Cô Thành mở quạt.
Động tác nhỏ, nhẹ, kiểu người hít thở trước khi nói. Quạt mở ba phần tư, giấy trắng chưa vẽ, xương tre mỏng lạch tạch trong im lặng đại sảnh. Hắn đứng cạnh cửa sổ phía đông, nơi bóng tối dày nhất vì đèn dầu ở phía tây, và nhìn tám người quanh phòng bằng con mắt sắp xếp lại bàn cờ.
Bàn cờ cũ đã bị xáo trộn.
Trước cái chết Hàn Kinh Mặc: mười người mười vị trí, mỗi người một bí mật, và Diệp xếp họ theo tầng nguy hiểm (Bạch trên cùng, Tạ ở giữa, Mạc ở đáy). Nhưng sau bốn lời thú nhận liên tiếp (Tề Quan Hải: đứng nhìn thảm sát, Lục Tri Thu: cứu sát thủ, Mạc Dạ: bỏ đứa trẻ sống trong phòng xác, Chu Tuyết Sinh: xây pháp trường trên nền xương), bàn cờ không còn đúng. Mỗi lời thú nhận di chuyển quân, mở ô mới, đóng ô cũ, và Diệp cần vẽ lại trước khi người khác kịp vẽ.
Hắn gấp quạt. Bước ra giữa phòng.
---
– Tại hạ có một đề nghị.
Giọng Diệp nhẹ, lịch sự, kiểu thư sinh đề nghị uống trà chứ không phải bày bẫy. Bạch Tử Yên mở mắt từ góc (hắn biết nàng vẫn nghe dù nhắm mắt). Liễu Vô Âm ngẩng đầu. Mạc Dạ mở mắt (giả ngủ từ đầu, Diệp biết).
Tạ Hàn Sơn ngồi đầu bàn, không phản ứng. Nhưng cũng không cản.
– Chúng ta đã nghe bốn lời thú nhận, Diệp nói, mở quạt, phe phẩy chậm. Mỗi lời đều là một mảnh. Nhưng ghép bốn mảnh bên nhau, tại hạ nhận ra: chúng ta thiếu bản đồ.
Hắn dừng, để câu ngấm. Liễu nghiêng đầu, chén rượu trên tay.
– Bản đồ gì? nàng hỏi.
– Bản đồ thời gian, Diệp nói. Đêm thảm sát, ai ở đâu, lúc mấy giờ, làm gì. Bốn lời thú nhận vừa rồi có những khoảng trùng lặp: Tề tiên sinh nói ông ấy đến trước sáng, nhưng Liễu cô nương nói nhìn thấy ông ấy trước nửa đêm. Lục tiên sinh nói cứu sát thủ ở sân sau, nhưng Chu đạo trưởng nói đã khóa cổng sau bằng cơ quan từ trước khi sát thủ đến. Nghĩa là sát thủ vào bằng đường khác, hoặc cơ quan mở rồi đóng lại.
Im lặng. Diệp đếm: ba người nhịp tim thay đổi (Tề Quan Hải trên lầu, có thể nghe vọng xuống; Lục Tri Thu trên bậc cầu thang; Chu Tuyết Sinh nhắm mắt). Hai người không đổi (Bạch Tử Yên, Tạ Hàn Sơn). Bốn phản ứng: hợp lý. Người nói dối sẽ nhịp nhanh hơn khi biết sơ đồ sắp vẽ.
Nhưng Diệp không nghe nhịp tim. Hắn đọc mắt.
Lục Tri Thu: mắt nhìn xuống, tay nắm trên đùi, kiểu người sắp bị hỏi thêm và biết không tránh được. Mạc Dạ: mắt liếc sang Liễu, kiểu tìm đồng minh. Bạch Tử Yên: mắt mở, nhìn thẳng, nụ cười mỏng trở lại, kiểu người xem kịch tốt. Và Vô Thanh: đầu nghiêng nhẹ về phía Diệp, kiểu người nghe không chỉ lời mà cả ý.
*Người mù đang nghe ta bày bàn cờ. Và hắn biết ta bày bàn cờ.*
---
Diệp lấy từ trong áo ra tờ giấy gấp đôi (giấy mỏng, kiểu giấy viết thư, hắn luôn mang theo vì thói quen ghi chép). Mở ra, đặt trên bàn, dùng ngón tay vẽ trên mặt gỗ cạnh tờ giấy.
– Tại hạ đề nghị: mỗi người xác nhận vị trí của mình đêm thảm sát theo thứ tự thời gian. Trước hoàng hôn. Hoàng hôn. Nửa đêm. Trước sáng. Chỉ cần nói: tôi ở đâu lúc đó. Không cần giải thích. Không cần lý do.
Hắn dừng, nhìn quanh, rồi mỉm cười nhẹ (nụ cười có tính toán, kiểu thư sinh biết mình đang gài).
– Vì giải thích là nơi người ta giấu nói dối. Thông tin ngắn khó dối hơn thông tin dài.
Liễu Vô Âm cười. Ngắn, nhẹ, kiểu người nhận ra chiêu thức của đối phương và thưởng thức.
– Cậu muốn ai khai trước? nàng hỏi.
– Tại hạ khai trước.
Diệp gấp quạt, đặt trên bàn, tay chỉ vào tờ giấy.
– Trước hoàng hôn: tại hạ ở phía bắc đèo Bắc Sơn, cách trạm Hàn Mai ba dặm, trong rừng thông. Hoàng hôn: đang leo đèo, nghe tiếng sáo đồng từ phía trạm. Nửa đêm: đến nơi, trạm đang cháy, sát thủ đã rời đi, xác khắp sàn. Trước sáng: tại hạ ở bên ngoài trạm, phía giếng cạn, chờ sáng.
Im lặng. Diệp biết: thông tin hắn vừa đưa ra có ba điểm mới mà không ai biết. Một: hắn nghe tiếng sáo đồng (xác nhận Trần Duy thổi sáo gọi sát thủ). Hai: hắn đến khi trạm đang cháy (nghĩa là đến giữa hoặc sau thảm sát, không phải trước). Ba: hắn chờ ở giếng cạn (nơi A Thất để dấu chân một chiều hai mươi năm sau).
Ba điểm, mỗi điểm đều có thể bị hỏi, bị bắt bẻ, bị dùng làm bằng chứng. Nhưng Diệp đưa ra trước, tự nguyện, để thiết lập chuẩn mực: tại hạ khai hết, các vị cũng phải khai hết.
*Khai trước không phải vì thành thật. Mà vì người khai trước kiểm soát khuôn khổ.*
---
Lục Tri Thu đứng dậy từ bậc cầu thang, chậm, tay vịn tường, kiểu người già mệt nhưng không từ chối.
– Trước hoàng hôn: ta ở trong trạm, phòng dược, kiểm tra thuốc. Hoàng hôn: nghe tiếng sáo, nghĩ là khách. Nửa đêm: đang khâu vết thương cho người bị chém ở sân sau. Trước sáng: đang kiểm tra xác, đếm. Ba mươi bảy.
Ngắn. Gọn. Kiểu người kể bệnh án. Diệp ghi nhận: Lục Tri Thu ở trong trạm từ trước hoàng hôn, nghĩa là ông ta là cư dân trạm Hàn Mai, không phải khách. Điều này hắn đã nghi nhưng chưa xác nhận.
Liễu Vô Âm tiếp, giọng nhẹ, kiểu kể chuyện cũ không liên quan:
– Trước hoàng hôn: ta ngồi trong quán Ngọc Thanh ở chân đèo, hát cho khách uống rượu. Hoàng hôn: vẫn hát. Nửa đêm: nghe tiếng động trên đèo, ra ngoài nhìn, thấy lửa cháy trên cao. Trước sáng: leo lên đèo, đến trạm, thấy xác. Nhìn bảy người rời đi bằng đường phía nam.
Diệp gật. Khớp với lời kể trước đó. Không mâu thuẫn.
Mạc Dạ mở mắt, ngồi thẳng, giọng nhanh:
– Trước hoàng hôn: ta ở chân đèo phía đông, bên dưới vách đá, ngủ trong hang cạn. Hoàng hôn: nghe tiếng lạ trên đèo, nghĩ có chuyện. Nửa đêm: leo lên, đến trạm, vào bằng cửa sổ bếp. Trước sáng: chạy ra cửa sổ bếp, xuống đèo, không quay đầu.
Diệp nhìn Mạc Dạ. Tên trộm nói nhanh nhưng không dối: mắt nhìn thẳng, tay không nắm, kiểu người kể sự thật vì sự thật đã kể rồi thì không cần giấu nữa.
Nhưng hắn nói "nửa đêm." Chu đạo trưởng nói cơ quan cổng sau khóa từ trước hoàng hôn. Nếu cổng sau khóa, cửa sổ bếp là lối vào duy nhất không cơ quan. Mạc Dạ vào bằng cửa sổ bếp, nghĩa là cửa sổ bếp không có cơ quan. Hai mươi năm sau, A Thất cũng ra bằng cửa sổ bếp (dấu chân một chiều). Cửa sổ bếp là lối thoát duy nhất không bị cơ quan kiểm soát.
Diệp ghi nhận, không nói ra.
---
Chu Tuyết Sinh mở mắt, bấm ngón, giọng trầm:
– Trước hoàng hôn: bần đạo ở trong trạm, phòng cơ quan dưới tầng hầm, đang sửa khóa Lục Diện Liên Hoàn cổng sau. Hoàng hôn: vẫn ở dưới. Nửa đêm: nghe tiếng động trên sàn, leo lên, thấy xác. Trước sáng: bần đạo thu dọn công cụ, rời đi bằng giếng cạn.
Diệp nghiêng đầu.
– Giếng cạn, hắn lặp lại. Chu đạo trưởng rời đi bằng giếng cạn. Nghĩa là giếng cạn nối lên mặt đất?
Chu Tuyết Sinh gật.
– Giếng cạn sâu hai trượng, thông ra sườn đèo phía tây qua ống dẫn nước cũ. Bần đạo đào rộng ống đó hai ngày trước khi xong hợp đồng. Lối thoát hiểm cho mình, phòng trường hợp cơ quan trục trặc. Bần đạo không nói cho ai.
Diệp ghi nhận: giếng cạn = lối thoát Chu Tuyết Sinh tự đào. Tạ Hàn Sơn có thể biết hoặc không. Mạc Dạ vào bằng cửa sổ bếp, Chu ra bằng giếng cạn. Hai lối không cơ quan. Nghĩa là bản đồ cơ quan của Chu Tuyết Sinh có hai lỗ hổng mà Tạ Hàn Sơn có thể đã vá hoặc chưa.
Hoặc Tạ Hàn Sơn biết cả hai lỗ hổng và chủ ý giữ.
---
Bạch Tử Yên nhìn Diệp, nụ cười mỏng.
– Ta ở phía nam đèo, nàng nói. Nhận lệnh từ sáng, đến trạm hoàng hôn. Nửa đêm: ta ở trong trạm, đang giết.
Im lặng.
– Trước sáng: ta rời đi bằng đường phía nam, cùng đoàn.
Ngắn. Thẳng. Không giấu. Diệp nhìn nàng ba giây, rồi gật nhẹ. Bạch Tử Yên không dối (đã tuyên bố "không giả vờ vô tội" từ đầu), và sự thẳng thắn của nàng nguy hiểm hơn bất kỳ lời dối nào: nàng đặt sự thật lên bàn kiểu người đặt kiếm, lưỡi hướng ra ngoài, mời ai muốn cầm thì cầm.
*"Đang giết." Nàng dùng chữ đó. Không phải "tham gia," không phải "có mặt." "Đang giết." Kiểu người không cần bao bọc hành vi của mình bằng ngôn ngữ.*
Diệp nhìn sang Vô Thanh. Người mù ngồi im, tay phẳng trên bàn, đầu nghiêng nhẹ. Hắn biết Vô Thanh đang nghe nhịp tim từng người khai, đối chiếu với lời, kiểu người kiểm tra bài thi bằng đáp án.
– Thẩm công tử? Diệp hỏi.
Vô Thanh im ba giây, rồi nói, giọng phẳng:
– Trước hoàng hôn: tôi không nhớ. Hoàng hôn: không nhớ. Nửa đêm: tôi ở trong trạm, trên sàn, mù, nắm tay ai đó. Trước sáng: có người bế tôi đi.
Bốn câu. Ba chữ "không nhớ." Diệp ghi nhận: Vô Thanh thành thật về mất ký ức, và phần hắn nhớ (nửa đêm, nắm tay ai đó) khớp với flashback hắn đã kể. "Có người bế tôi đi" = Tạ Hàn Sơn, khớp với lời THS kể về đêm đó.
Nhưng "trước hoàng hôn: không nhớ" mở ra câu hỏi mà Diệp chưa hỏi: Vô Thanh bảy tuổi, ở trong trạm Hàn Mai trước thảm sát. Hắn là ai trong trạm? Con của phán quan nào? Tại sao hắn ở đó?
---
Tạ Hàn Sơn ngồi đầu bàn, im. Diệp nhìn ông ta.
– Tạ quán chủ?
Tạ Hàn Sơn nhìn Diệp. Mắt bình thản, kiểu người đã nghe xong và chưa thấy lý do để nói.
– Ta ở trong trạm, ông ta nói. Từ đầu đến cuối. Trước hoàng hôn, hoàng hôn, nửa đêm, trước sáng. Ta ở trong trạm.
Một câu. Bốn khoảng thời gian, cùng một đáp án. Diệp biết: Tạ Hàn Sơn không dối (ông ta ở đó vì ông ta là Thủ Tòa Kiếm Minh, trạm Hàn Mai là trụ sở), nhưng ông ta cũng không khai gì thêm. "Ở trong trạm" là sự thật rỗng nhất có thể: không nói phòng nào, không nói làm gì, không nói với ai.
Ông ta tuân thủ khuôn khổ hắn đặt ra: nói ở đâu, không nói tại sao. Nhưng "ở trong trạm" vừa tuân thủ vừa không khai gì.
Diệp mỉm cười. Nhẹ, kiểu người thưởng thức nước cờ hay của đối phương.
---
Hắn nhìn xuống tờ giấy trên bàn. Tám lời khai (trừ Tề Quan Hải trên lầu và Hàn Kinh Mặc đã chết), tám vị trí, bốn khoảng thời gian. Ghép lại:
Trước hoàng hôn trong trạm: Tạ Hàn Sơn (Thủ Tòa), Lục Tri Thu (phòng dược), Chu Tuyết Sinh (tầng hầm), Vô Thanh (không nhớ, nhưng ở đó). Bốn người.
Trước hoàng hôn ngoài trạm: Diệp (rừng thông phía bắc), Liễu (quán Ngọc Thanh chân đèo), Mạc Dạ (hang cạn phía đông), Bạch Tử Yên (phía nam đèo). Bốn người.
Bốn trong, bốn ngoài. Bốn người thuộc về trạm Hàn Mai, bốn người đến sau.
Nửa đêm: Bạch Tử Yên "đang giết." Lục Tri Thu "đang khâu." Mạc Dạ "bò qua xác." Vô Thanh "nắm tay ai đó." Bốn hành động song song trong cùng thời điểm, bốn người ở bốn vị trí khác nhau trong cùng một trạm. Và ở đâu đó giữa bốn hành động đó: ba mươi bảy người đang chết.
Trước sáng: tất cả rời đi hoặc ở lại. Liễu lên đèo (thấy xác). Mạc Dạ chạy xuống (bỏ đi). Chu Tuyết Sinh ra giếng cạn. Bạch Tử Yên rời đi phía nam, "cùng đoàn." Tạ Hàn Sơn bế hai đứa trẻ. Vô Thanh được bế đi.
*Ai ở lại sau khi tất cả rời đi?*
Câu hỏi rơi trong đầu Diệp, nhẹ nhưng sắc: trong tất cả lời khai, không ai nói "ta ở lại." Nhưng ai đó phải ở lại. Ba mươi bảy xác cần người chôn. Trạm cháy một phần cần người dập. Và hai mươi năm sau, quán được xây lại trên nền cũ.
Diệp gấp tờ giấy, bỏ vào áo. Hắn không hỏi câu đó ra miệng. Chưa đến lúc. Nhưng hắn nhìn Tạ Hàn Sơn, và nghĩ: ông ta nói "ta ở trong trạm, từ đầu đến cuối." "Đến cuối" không có điểm dừng. Ông ta chưa bao giờ rời đi.
*Tạ Hàn Sơn không bao giờ rời trạm Hàn Mai. Hai mươi năm trước ở đó. Đêm nay ở đó. Ông ta chưa bao giờ đi.*
Đồng hồ nước nhỏ giọt. Bếp lửa kêu lách tách, kiểu xương gỗ gãy. Diệp đứng cạnh bàn, tay trên quạt, mắt sáng, và bắt đầu tính nước cờ tiếp theo.
Nước cờ tiếp theo là câu hỏi mà không ai muốn nghe: ai đã giết trẻ em đêm đó?