Đêm Nay Không Ai Được Rút Kiếm
Chương 106: Phòng Xử Án Dưới Lòng Đất
Chương 106

Phòng Xử Án Dưới Lòng Đất

Lục Tri Thu đặt ngọn nến thứ hai lên mặt bàn đá và không nhìn đi nơi khác được.

Phòng hiện ra từng vùng theo ánh sáng, không phải theo diện tích mà theo thứ tự: trần thấp trước, rồi tường đá bên trái, rồi kệ gỗ dọc theo tường đó, rồi những hộp xếp trên kệ, rồi cuối cùng là những tờ giấy cũ dán lên đá giữa kệ và bàn. Phòng nhỏ. Không cửa sổ. Không cần cửa sổ, ánh mặt trời chưa bao giờ xuống đến đây.

Đây là phòng xử án.

Không phải suy đoán từ vị trí bàn đá và kệ hồ sơ. Ông biết vì ông đã từng ngồi trong phòng tương tự, hai mươi năm trước, và phần cơ thể ghi nhớ trước khi đầu óc đồng ý.

Bục cao bên trái: gỗ đen, không trang trí, bề mặt bào nhẵn. Ghế thẩm phán sau bục, gỗ nặng, lưng thẳng, không có tựa đầu. Trước bàn đá là hai hàng ghế thấp, không có tựa lưng, xếp đối xứng theo kiểu người ngồi để khai trình chứ không phải để nghỉ. Trên tường phía cuối phòng là hai cuộn giấy lớn đóng bằng đinh đồng, loại đinh dùng cho đá, không phải gỗ, kéo theo độ rộng tường.

Ông đặt tay lên cạnh bàn đá.

Nhìn cuộn giấy bên trái.

Chữ nhỏ, đều, bút lông dứt khoát. Kiểu chữ của người quen viết biên bản trong nhiều năm, viết nhanh không viết ẩu, người biết chữ rõ quan trọng hơn chữ đẹp.

Ông nhận ra kiểu chữ trước khi đọc nội dung.

Vì đó là kiểu chữ của ông.

Thẩm Vô Thanh đứng giữa phòng, hai tay thả theo người, lắng nghe không gian. Diệp Cô Thành đứng trước kệ hồ sơ bên trái, đầu ngón tay cách hộp đá khoảng một tấc, theo kiểu người muốn chạm mà chưa cho phép mình làm.

Mạc Dạ ngồi trên bậu cửa, lưng tựa khung, nhìn vào trong.

Người đạo sĩ già, Diệp Phong Minh, người mà suốt cả đêm họ gọi là Chu Tuyết Sinh, đứng ở góc đối diện, bàn tay phải đặt nhẹ lên cạnh kệ vật chứng bên phải.

Không ai nói gì khi ông nhận ra.

– Chữ tôi.

Ba chữ. Thẩm Vô Thanh nghiêng đầu về phía ông.

– Ông viết những tờ đó?

– Một phần.

Ông bước lại gần cuộn giấy hơn. Phần trên, ngày và tiêu đề: "Biên bản thẩm vấn nhân chứng, Vụ tàn sát đèo Bắc Sơn, Năm Ất Hợi."

Bên dưới là danh sách tên và lời khai. Chữ phần trên là của ông. Chữ phần giữa, bắt đầu từ nhân chứng thứ tư, là chữ người khác, bút pháp nhỏ hơn và run nhẹ ở một số đoạn.

– Biên bản từ hai mươi năm trước, ông nói. Phiên xử bị gián đoạn. Nhưng biên bản đã ghi.

Không ai hỏi tại sao biên bản của ông nằm trong tầng hầm của quán này. Câu hỏi đó có câu trả lời quá rõ để nói thành lời: Tạ Hàn Sơn đã thu thập mọi thứ có thể thu thập trong hai mươi năm. Bao gồm những tờ giấy mà người viết chúng chưa bao giờ mang về.

Ông chưa bao giờ mang về vì phiên xử chưa bao giờ kết thúc.

– Kệ bên trái, Diệp Cô Thành nói, giọng người thư sinh đều hơn khi đứng trong không gian này, theo kiểu người nhận ra không gian đang đặt ra yêu cầu và đang cung cấp thứ nó cần. – Hộp đá xếp theo thứ tự. Nhãn khắc trên nắp.

– Đọc nhãn.

– Nhân chứng số một đến số mười bảy. Số mười tám đến số hai mươi chín. Biên bản thẩm vấn chính thức.

Ông không cần nghe tiếp. Ông biết mỗi hộp chứa gì vì ông đã giúp điền thông tin vào những hộp đó, hai mươi năm trước, trong phòng làm việc tạm của phiên tòa Kiếm Minh tại một địa điểm khác, địa điểm ông nghĩ đã bị xóa sổ cùng những người trong phòng.

Tạ Hàn Sơn đã cứu hồ sơ trước khi xuống đèo.

Ông ấy biết phiên xử sẽ bị gián đoạn, ông nghĩ. Ông ấy biết từ trước khi nó xảy ra.

Ý nghĩ đó nằm trong ông mà không tìm được chỗ đặt vững, quá nặng để xử lý nhanh, quá quan trọng để bỏ qua.

– Kệ bên phải, Mạc Dạ lên tiếng từ bậu cửa, giọng bằng phẳng hơn mọi khi. – Cuộn da thuộc. Và hộp gỗ ở góc dưới, cái này tôi thấy lần trước nhưng không lấy vì không biết mở.

– Hộp có gì?

– Khóa. Ba chốt. Không phải loại tôi quen.

Người đạo sĩ già bước lại gần hộp gỗ, ngón tay lướt theo cạnh:

– Khóa ba chốt, chìa riêng. Loại Tạ tiên sinh dùng cho những thứ ông không muốn ai khác đụng đến.

Thẩm Vô Thanh: – Chìa ở đâu?

Không ai trả lời ngay. Lục Tri Thu nhớ ra, trên bàn tròn đầu đêm, bên cạnh đồng hồ nước và mười thẻ bài, có một chiếc chìa khóa đồng. Thứ mà không ai nhắc đến sau đó vì những thứ khác cứ nổi lên chiếm chỗ.

– Trên bàn đại sảnh, ông nói. Khi chúng tôi xuống, chìa vẫn ở đó.

Thẩm Vô Thanh: – Tôi không mang theo.

Trên tường phía cuối phòng, giữa hai cuộn giấy lớn, có một hàng móc đồng nhỏ, mười hai móc, xếp thành một hàng ngang ngang tầm mắt. Chín móc có thẻ bài gỗ treo. Ba móc trống.

Lục Tri Thu đếm và đếm lại.

Chín. Không phải mười, không phải mười hai.

Mười hai phán quan Kiếm Minh. Chín thẻ có người. Ba thẻ còn lại ở đâu?

– Chín thẻ bài, ông nói thành tiếng.

Thẩm Vô Thanh: – Mười hai phán quan.

– Chín thẻ trên tường.

Người mù dừng lại, nghiêng đầu về phía tường cuối phòng, nghe gì đó mà ông không nghe thấy.

– Ba thẻ còn lại ở đâu?

Diệp Cô Thành không trả lời ngay. Người thư sinh đứng trước kệ hồ sơ, tay đã đặt lên nắp hộp đá đầu tiên, nhưng mắt hướng về phía hàng móc trống.

– Tại hạ muốn kiểm tra hộp trước.

– Kiểm tra đi.

Nắp hộp đá nặng. Diệp Cô Thành dùng hai tay. Tiếng đá cọ đá, chậm, không bụi, khớp mài nhẵn. Mùi giấy cũ và mực khô thoảng ra khi nắp mở.

Cuộn giấy da, xếp thẳng đứng trong hộp, mỗi cuộn buộc sợi lanh nâu. Mỗi cuộn có nhãn nhỏ buộc ở đầu, tên người.

– Đây là lời khai của nhân chứng trước phiên xử, ông nói.

– Nhân chứng còn sống không?

Lục Tri Thu nhìn danh sách tên trên nhãn. Đọc lướt qua. Một số tên ông nhận ra, người có mặt đêm đó, ở các vị trí khác nhau, những người Tạ Hàn Sơn đã tìm và thẩm vấn trong các năm sau thảm sát.

– Một số còn sống. Một số không.

– Những người còn sống có biết hồ sơ này tồn tại không?

Câu hỏi của Thẩm Vô Thanh không hướng đến ai cụ thể, nhưng Lục Tri Thu cảm thấy nó chạm vào ông theo cách riêng: ông là một trong những người viết biên bản đó, và trong hai mươi năm ông không biết biên bản đó còn tồn tại.

– Không, ông nói.

Mạc Dạ đứng dậy từ bậu cửa, bước vào phòng. Anh ta đi về phía kệ bên phải, dừng trước hộp gỗ có khóa ba chốt.

– Hộp này khóa từ bên trong theo kiểu khác, anh ta nói sau khi xem xét một lúc. Không phải chìa. Không phải cơ quan thông thường.

Người đạo sĩ già bước lại gần, ngón tay lướt theo cạnh đáy hộp.

– Bần đạo thiết kế hộp này.

Giọng người đạo sĩ già, Diệp Phong Minh, người mang hai mươi năm tên người khác, bằng phẳng hoàn toàn khi nói về công việc tay nghề của mình. Như thể việc thú nhận mình đã xây cái cũi cũng không khác gì thú nhận đã tạo cánh cửa.

Người thư sinh Diệp Cô Thành không quay lại khi nghe giọng cha mình nói về hộp đó.

– Và bần đạo không thể mở nó nếu không có chìa. Tạ tiên sinh thay đổi cơ cấu sau khi bần đạo hoàn thành.

– Cơ cấu thay đổi ở đâu?

– Bần đạo không rõ. Chỉ biết rằng ông ấy thay đổi.

Lục Tri Thu nhìn hộp gỗ rồi nhìn hàng móc trống trên tường. Trong đầu ông có thứ gì đó đang cố ghép lại nhưng chưa khớp hẳn, ba móc trống, một chìa khóa đồng trên bàn đại sảnh, một hộp gỗ không ai mở được.

Những thứ đó liên quan đến nhau theo cách ông chưa nhìn thấy đủ rõ.

Tiếng nước chảy trong tường, đều, nhỏ, không thay đổi kể từ khi ông bước vào phòng. Cơ cấu áp suất Tạ Hàn Sơn thiết kế: khi đồng hồ nước về không, nước từ bình thời gian chảy xuống đây. Tiếng nước đó báo rằng đêm đã đến phần này.

Giờ nghe nó theo cách khác, không phải như thứ báo hiệu mà như thứ không biết ngừng. Như thể nước chảy không phải vì có lý do mà vì không có lý do để dừng.

Ông ngồi xuống ghế sau bục cao.

Không phải vì cảm thấy mình có quyền ngồi ở đó. Mà vì đôi chân ông mỏi theo cách khác với mỏi thông thường, mỏi của người vừa nhìn thấy tên mình trên tờ giấy hai mươi năm cũ và không tìm được chỗ đứng vững nữa.

– Lục tiên sinh.

Giọng Thẩm Vô Thanh. Ông ngước nhìn.

– Ông ngồi ghế đó không vì tội. Ông ngồi vì ông biết phòng này.

Câu đó không phải an ủi. Nó là nhận xét lạnh giống như tất cả những nhận xét khác của người mù trong đêm nay, không phán xét, không thông cảm, chỉ là quan sát chính xác về điều đang xảy ra.

Điều kỳ lạ là câu đó khiến ông thấy dễ hơn một chút so với nếu người ta nói điều gì đó tử tế.

– Tôi biết phòng này. Và tôi không mở được hộp gỗ đó.

– Chìa khóa ở đây.

Thẩm Vô Thanh không giải thích câu đó. Nhưng bàn tay người mù đặt xuống bề mặt bàn đá, ngón tay lần dọc theo cạnh, tìm kiếm theo cách của người biết mình đang tìm thứ gì và biết nó phải ở đó.

Rồi dừng lại.

– Ở đây, người mù nói, nhẹ hơn câu trước.

Đầu ngón tay ông đang đặt trên một chỗ trũng nhỏ trong mặt đá bàn, nhỏ bằng ngón tay cái, hình tròn, sâu đủ để giữ thứ gì đó nằm bằng phẳng.

Không có gì trong chỗ trũng đó bây giờ.

Nhưng hình dạng của nó, tròn, không phải vuông, không phải chữ nhật, là hình dạng của một chiếc chìa.

– Chiếc chìa đồng trên bàn đại sảnh đêm nay, Thẩm Vô Thanh nói, – vừa khớp với chỗ này. Tạ tiên sinh đặt nó lên bàn không phải vì quên. Ông ấy đặt ở đó vì biết người cần dùng nó sẽ mang xuống đây.

Diệp Cô Thành quay lại từ kệ hồ sơ. Nhịp tim người thư sinh, theo Lục Tri Thu nghe được qua nhiều tiếng ngồi cạnh nhau trong đêm nay, không thay đổi. Nhưng hơi thở của anh ta hít vào nông hơn nửa nhịp.

– Ai trong chúng ta mang xuống?

Không ai trả lời.

Vì câu trả lời quá rõ và quá không thoải mái để nói thành lời: không ai mang xuống, vì không ai biết cần mang. Và bây giờ chìa khóa ở trên và hộp ở dưới và cửa giữa hai thứ là hai mươi bảy bậc đá với hai mươi bảy cái tên.

– Ai lên lấy, Mạc Dạ nói, không phải câu hỏi mà câu đặt vấn đề.

Người đạo sĩ già không trả lời ngay. Bàn tay ông vẫn đặt trên cạnh kệ vật chứng, ngón tay không cử động, theo kiểu người đang nghĩ mà không muốn tay thể hiện điều đang nghĩ.

– Bần đạo đi lên.

Diệp Cô Thành: – Không cần.

Giọng người thư sinh không cao hơn, không sắc hơn, chỉ khác bằng cách nói hai chữ đó rất chậm.

– Không cần?

– Nếu hộp đó cần chìa khóa trên bàn đại sảnh, nghĩa là Tạ tiên sinh thiết kế để mở ở thời điểm cụ thể. Với người cụ thể. Không phải bây giờ.

Thẩm Vô Thanh: – Anh ta nói đúng.

Mạc Dạ: – Vậy thì hộp đó chứa gì?

Không ai có câu trả lời. Nhưng Lục Tri Thu nhìn vào chỗ trũng tròn trên bàn đá và nghĩ: Tạ Hàn Sơn không đặt chìa khóa lên bàn đại sảnh vì quên. Ông ấy đặt ở đó như một câu hỏi, ai sẽ mang nó xuống đây, và khi nào.

Câu trả lời không phải hôm nay.

Không phải bây giờ, khi còn thiếu những thứ khác.

Lục Tri Thu nhìn hàng móc trống trên tường. Ba móc. Mười hai trừ chín bằng ba. Trong bóng tối nhỏ bên dưới mỗi móc trống là một khoảng trống theo hình thẻ bài gỗ, bụi thời gian đậu khắp nơi trừ chỗ thẻ bài đã treo.

Ba thẻ bài đã từng ở đó.

Ai đã lấy xuống và mang đi?

Tiếng nước trong tường vẫn chảy đều như thể nó không liên quan đến câu hỏi nào trong phòng này và không bao giờ định liên quan.

Ch.106/110
2.323 từ