Ai Không Có Mặt Trong Danh Sách Chết
Lục Tri Thu đếm xong.
Ông đếm trong đầu, kiểu đếm của thầy thuốc: không đếm số, đếm mạng. Hai người chết. Hàn Kinh Mặc, cơ quan phòng năm, siết cổ bằng vải cuộn từ trong tường. Tề Quan Hải, thuốc độc, kiểu thuốc ông biết công thức vì chính ông pha ra, mười hơi thở, hơi ngọt, không đau. Hai cái chết, hai cách chết, một đêm.
Tay ông run. Không phải vì lạnh (đại sảnh có lửa than, ấm đủ để không run vì lạnh). Run vì tay ông nhớ: hai mươi năm trước ông khâu ba mươi bảy mũi trên lưng sát thủ trong khi nghe tiếng trẻ khóc bên trong. Bây giờ tay ông run trên hòm thuốc, hòm thuốc chứa đủ thứ để cứu và đủ thứ để giết, và ông không biết mình mang hòm này đến đêm nay để làm gì nữa.
Ông ngồi cạnh bàn, cách xác Tề Quan Hải bốn bước. Xác đã được phủ áo ngoài (Mạc Dạ phủ, không ai bảo nàng phủ nhưng nàng phủ, kiểu người đã thấy quá nhiều xác mà vẫn không quen). Tề Quan Hải nằm đó, mặt nghiêng, mắt khép, kiểu chết của người buông trước khi hết, kiểu chết của kẻ biết mình đáng chết nên không chống.
Ông nhìn quanh đại sảnh. Ánh chiều yếu dần, than trong lò đỏ rực hơn khi trời tối. Bảy người sống, một xác, một người trong tường.
Thẩm Vô Thanh ngồi giữa, kiếm gỗ trên đùi, đầu hơi cúi. Từ lúc Bạch Tử Yên kể về giọng nói, anh không nói gì, kiểu im lặng của người đang tìm thứ gì đó trong đầu mà không thấy.
Bạch Tử Yên ngồi phía tây, tay trên chuôi kiếm, nhịp tim (ông không nghe nhịp tim, nhưng ông đọc mạch, và mạch nàng lúc ông sờ cổ tay lúc nãy là 76, mạnh, đều, kiểu mạch người khỏe mà không muốn khỏe). Nàng vừa kể xong thứ nàng giữ hai mươi năm, và bây giờ nàng ngồi lại với kiếm, kiểu ngồi của người trả xong nợ nhưng vẫn còn nợ khác.
Diệp Cô Thành phía tây, quạt gấp khép trên tay. Liễu Vô Âm cạnh cột, bình rượu rỗng. Mạc Dạ gần bếp, tờ giấy mười sáu tên trước mặt. Chu Tuyết Sinh phía đông, mắt nhắm, bấm ngón.
Và Tạ Hàn Sơn, đầu bàn, nhịp 62 (ông sờ mạch cổ tay ông hai lần trong đêm, cả hai lần đều 62, kiểu mạch không bình thường vì quá bình thường).
Lục Tri Thu đứng dậy. Tay run, nhưng chân vững. Ông bước bốn bước về phía đầu bàn, về phía Tạ Hàn Sơn. Bốn bước, mỗi bước sàn gỗ kêu dưới giày vải mỏng, kiểu bước chân của người không cố giấu tiếng mà cũng không cố gây chú ý.
Tạ Hàn Sơn nhìn ông. Không xoay ghế, chỉ xoay đầu, kiểu nhìn phán quan dành cho người đến trình diện.
– Ông có kế hoạch, Lục Tri Thu nói. Tay run, giọng không run. Phiên tòa của ông có thứ tự. Tôi muốn biết thứ tự đó.
Tạ Hàn Sơn không đáp ngay. Mắt ông nhìn Lục Tri Thu (ông già thầy thuốc, bốn mươi tám tuổi, gầy, áo xám, hòm thuốc đeo sau lưng kiểu thầy thuốc lang thang, đôi tay run mà ai cũng thấy), rồi nhìn xác Tề Quan Hải, rồi nhìn ghế trống của Hàn Kinh Mặc.
– Thứ tự nào?
– Thứ tự chết, Lục Tri Thu nói. Hàn Kinh Mặc chết trước. Tề Quan Hải chết sau. Cả hai đều không phải người giết trực tiếp đêm thảm sát. Hàn Kinh Mặc bỏ chạy. Tề Quan Hải che đậy. Người giết trực tiếp, Bạch Tử Yên đáp, ngồi kia, chưa bị phán quyết. Tại sao người giết trực tiếp chưa chết mà người giúp che giấu lại chết trước?
Câu hỏi thật sự không phải "tại sao" mà "bao giờ." Bao giờ đến lượt tôi.
Tạ Hàn Sơn nhìn ông. Im lặng dài, kiểu im lặng của người không vội trả lời vì câu trả lời đã có sẵn, chỉ chọn lúc nào đưa ra.
– Phán quyết theo thứ tự tội, Tạ Hàn Sơn nói. Người che đậy phải chịu trước người thực hiện.
Lục Tri Thu nghe câu đó và hiểu. Hiểu không phải bằng tai mà bằng tay run: ông là người che đậy. Ông khâu sát thủ. Ông cho Tạ Hàn Sơn thuốc khóa ký ức Vô Thanh. Ông mang thuốc độc đến quán đêm nay (trong hòm, dưới lọ cam thảo, lọ không đánh dấu mà ông đánh dấu bằng cách không đánh dấu). Ông không giết ai, nhưng tay ông trong mọi phương trình chết.
– Nghĩa là tôi bị xử trước Bạch Tử Yên, ông nói. Không phải hỏi, là xác nhận.
Tạ Hàn Sơn không gật. Không lắc. Nhịp 62.
– Phiên tòa xét tội, không xét thứ tự, ông nói. Lục tiền bối có tội gì, tiền bối tự biết.
"Tiền bối." Ông gọi tôi bằng "tiền bối." Hai mươi năm trước ông bế hai đứa trẻ xuống đèo trong tuyết, gặp tôi trên đường, bảo tôi "cho đứa mù uống thuốc này." Tôi cho uống. Không hỏi thuốc gì. Bây giờ ông gọi tôi "tiền bối" và "tiền bối" đang đứng trước phán quan.
Lục Tri Thu quay về ghế. Bốn bước, sàn kêu, tay run. Ông ngồi xuống, mở hòm thuốc, nhìn vào bên trong. Chai lọ xếp đều, mỗi lọ một loại, ông nhớ tên từng loại mà không cần nhìn nhãn (vì nhãn ông viết bằng chữ nhỏ mà mắt ông bây giờ đọc không rõ, nhưng tay ông nhớ vị trí). Lọ cam thảo ở góc trái. Lọ không đánh dấu ở dưới lọ cam thảo.
Ông nhấc lọ cam thảo lên. Nhìn lọ bên dưới. Lọ nhỏ, sứ trắng, nút gỗ, bên trong có đủ cho ba liều (lúc đầu bốn, Diệp Cô Thành đã dùng một). Thuốc không đau. Hơi ngọt. Mười hơi thở. Cùng công thức với xác thứ ba mươi ba đêm thảm sát, xác chết trong tư thế ngồi, mắt nhắm, kiểu chết của người uống trà ngủ rồi không dậy.
Ba người biết pha thuốc này: ta, thầy ta (chết mười năm trước thảm sát), và một người nữa mà ta chưa nói tên. Người thứ ba không quan trọng, vì lọ này ta pha, ta mang đến, ta để trong hòm. Diệp Cô Thành lấy được vì ta không khóa hòm (không khóa vì ta không nghĩ ai dám lấy, hay vì ta muốn ai đó lấy?).
Ông đặt lọ cam thảo xuống. Đóng hòm. Tay run, bản lề kẽo kẹt.
Ông nhìn sang Bạch Tử Yên. Nàng ngồi phía tây, mắt nhìn thẳng, không nhìn ông. Nàng vừa kể về giọng nói ra lệnh giết trẻ con, và Lục Tri Thu nghe (tất cả đều nghe) và ông nghĩ: nàng giết bằng tay, nhưng tay nàng nghe lệnh. Ông cứu bằng tay, nhưng tay ông cũng nghe lệnh. Nàng nghe lệnh "sạch, không để gì sống." Ông nghe lệnh "cho đứa mù uống thuốc này." Cả hai đều vâng. Cả hai đều run sau đó, chỉ run khác chỗ: nàng run trong nụ cười, ông run trên mười ngón.
Nàng giết trực tiếp. Ta gián tiếp. Nhưng phán quyết không đo khoảng cách giữa tay và xác, phán quyết đo ý định. Ta khâu sát thủ biết sát thủ sẽ giết thêm. Ta cho Vô Thanh thuốc biết thuốc xóa ký ức. Ta mang lọ thuốc độc đến quán mà không hỏi tại sao mình mang.
Ý định ta là gì? Cứu? Giúp? Hay ta đến đây vì ta cũng muốn phán quyết, kiểu muốn của người mệt mỏi gánh nặng hai mươi năm?
Thẩm Vô Thanh nghiêng đầu về phía ông. Lục Tri Thu thấy (ông không mù, ông thấy rõ): anh hướng tai về phía ông, kiểu hướng anh dành cho người anh đang đọc.
– Lục tiền bối, Vô Thanh nói. Giọng trầm, nhẹ, kiểu giọng anh dùng khi hỏi thứ quan trọng mà không muốn biến thành thẩm vấn. Thuốc khóa ký ức tiền bối pha cho tôi mười lăm năm trước, công thức có giống thuốc trong lọ không đánh dấu kia không?
Lục Tri Thu nhìn anh. Con trai Thẩm Duy Minh, đứa trẻ mù ông gặp trên đường đèo hai mươi năm trước, bây giờ hai mươi bảy tuổi, cao, gầy, mắt mù mở, tai nghe hết. Anh hỏi về thuốc ông pha. Anh hỏi vì anh đang ghép: thuốc khóa ký ức và thuốc giết người, cùng người pha, cùng hòm, cùng tay run.
– Khác công thức, ông đáp. Cùng gốc.
– Cùng gốc nghĩa là gì?
– Nghĩa là cùng loại cây, khác liều lượng. Liều thấp: khóa ký ức, mười lăm năm mới tan. Liều cao: dừng tim, mười hơi thở.
Cùng cây. Khác liều. Cứu và giết nằm trên cùng một thang đo, chỉ khác vạch.
Vô Thanh im. Rồi:
– Tiền bối mang cả hai đến đêm nay. Thuốc khóa ký ức đang tan trong người tôi, và thuốc dừng tim nằm trong hòm tiền bối. Tiền bối định dùng thuốc nào?
Lục Tri Thu nhìn xuống hòm thuốc. Tay run. Bản lề kẽo kẹt dưới ngón tay ông, kiểu tiếng nhỏ mà trong đại sảnh im lặng này ai cũng nghe.
– Tôi không biết, ông đáp. Thật.
Diệp Cô Thành mở mắt (hắn nhắm mắt lúc nào, Lục Tri Thu không để ý, nhưng bây giờ hắn mở, và mắt hắn sáng trong ánh lửa than, kiểu sáng của người nghe được thứ mình muốn nghe). Quạt gấp khẽ xoay trong tay hắn, nửa vòng, rồi dừng.
Liễu Vô Âm đặt bình rượu rỗng xuống sàn. Tiếng sứ chạm gỗ, nhẹ, nhưng đủ để bảy người nghe. Nàng nhìn Lục Tri Thu, nhìn lâu, kiểu nhìn của người biết thầy thuốc có tội nhưng không ghét vì nàng cũng có tội, kiểu nhìn giữa hai người cùng mang hai mươi năm trên lưng mà không ai bảo ai trút.
Trong tường, nhịp 58. A Thất đứng đâu đó phía bắc, Lục Tri Thu không biết chính xác (ông không nghe nhịp tim, ông chỉ thấy bóng nhanh lúc có lúc không, kiểu bóng của người sống trong kẽ hở giữa các bức tường). Cậu ta đã ghi chép hai mươi năm. Cậu ta biết ông mang thuốc gì, để đâu, cho ai. Cậu ta biết vì cậu ta nhìn qua khe tường mỗi đêm, đếm lọ, đọc nhãn, ghi vào sổ.
Phiên tòa của Tạ Hàn Sơn có thứ tự: che đậy trước, thực hiện sau. Tề Quan Hải che đậy bằng hồ sơ. Hàn Kinh Mặc che đậy bằng im lặng và bỏ chạy. Ta che đậy bằng tay: khâu sát thủ, xóa ký ức, mang thuốc.
Nếu thứ tự tiếp theo là ta, thì ta sẽ đứng trước phán quan trước khi Bạch Tử Yên đứng. Và ta sẽ đứng với hòm thuốc mở, tay run, và câu hỏi "tiền bối định dùng thuốc nào" mà ta không trả lời được.
Ông ngồi lại. Hòm thuốc trên đùi, tay trên hòm, mười ngón run đều. Than trong lò nổ lách tách, ánh đỏ nhảy trên tường gỗ, và bóng của bảy người sống với một xác kéo dài trên sàn, dài hơn người thật, kiểu bóng luôn dài hơn người khi nguồn sáng thấp.
Lục Tri Thu nhìn xuống tay mình. Mười ngón, run đều, kiểu run ông đã quen đến mức quên nó run, chỉ nhớ khi cầm kim khâu hoặc khi ai đó nhìn tay ông quá lâu. Hai mươi năm. Tay này khâu sát thủ, tay này cho đứa trẻ mù uống thuốc, tay này mở hòm thuốc mỗi đêm kiểm tra lọ không đánh dấu vẫn còn đó.
Ông hồi tưởng: sáng hôm sau thảm sát, ông trở lại trạm lần hai. Lần đầu là đêm, khâu sát thủ sân sau, nghe tiếng khóc, không vào. Lần hai là sáng, vào đại sảnh, đếm xác. Xác thứ nhất đến thứ hai mươi hai ông đếm bằng mắt, tay chưa run. Xác thứ hai mươi ba, ông cúi xuống lật áo người chết, và tay bắt đầu run. Không phải vì xác đặc biệt. Vì tay ông nhận ra: vết khâu trên lưng sát thủ ông vừa khâu đêm qua, ba mươi bảy mũi, chỉ tơ tằm nhuộm rượu, kiểu khâu ông dạy học trò phải siết đều mỗi mũi, và sát thủ mang vết khâu đó đi qua đại sảnh này, đi qua sáu đứa trẻ, và sống.
Ông cứu một mạng. Một mạng đó lấy thêm bao nhiêu mạng sau đó, ông không đếm hết. Năm năm sau thảm sát, kẻ được ông cứu nổi lên: thôn tính ba gia tộc nhỏ, phá một bang hội, giết gia trưởng họ Trương bằng chính kiểu chém từ sau lưng mà hắn dùng đêm thảm sát. Tin đồn qua tai ông, ông không kiểm chứng, vì kiểm chứng nghĩa là phải nhìn vết sẹo trên lưng hắn và biết ba mươi bảy mũi khâu đó là của mình.
Thầy thuốc cứu người. Y đức bảo cứu. Nhưng y đức không bảo phải cứu ai, và khi ta cứu sát thủ, tay ta biến thành đồng phạm. Không phải đồng phạm đêm đó. Đồng phạm mọi đêm sau đó.
Chu Tuyết Sinh mở mắt. Ông già đạo sĩ nhìn Lục Tri Thu từ phía đông, ánh lửa than chiếu nửa mặt ông, nửa kia tối. Ngón tay ông dừng bấm (thói quen tính toán cơ quan, bấm theo nhịp, đếm theo bước), và ông nói, giọng trầm, kiểu giọng người nói ít nên khi nói ai cũng nghe:
– Lục tiền bối mang thuốc đến, Diệp Cô Thành dùng thuốc. Cơ quan phòng năm bần đạo thiết kế, Tạ chủ quán dùng cơ quan. Bần đạo và tiền bối giống nhau: tay làm, người khác quyết.
Lục Tri Thu nhìn Chu Tuyết Sinh. Hai ông già, một thầy thuốc một thợ cơ quan, cùng ngồi trong phòng xử án mà chính tay mình góp phần xây. Ông hiểu Chu Tuyết Sinh nói gì: "tay làm, người khác quyết" nghe như lý do, nhưng lý do không xóa hậu quả. Cơ quan Chu Tuyết Sinh thiết kế nhốt ba mươi bảy người để sát thủ giết. Thuốc Lục Tri Thu pha giúp sát thủ sống để giết thêm. Cùng cấu trúc, khác vật liệu.
– Bần đạo không tự tha cho mình, Chu Tuyết Sinh nói. Chỉ nói cho tiền bối biết: không phải tiền bối một mình.
Lục Tri Thu gật. Nhẹ. Kiểu gật của người nhận lời an ủi mà biết lời an ủi không đủ.
Ông nhìn lại xác Tề Quan Hải. Áo phủ, mặt khuất, chỉ thấy tay phải thò ra ngoài vải, ngón trỏ hơi co, kiểu ngón tay người chết co lại khi cơ cứng. Ông đã sờ mạch Tề Quan Hải khi ông ta chết, nhịp cuối nhẹ như nước nhỏ giọt rồi dừng. Ông đã lắc đầu nói "mất rồi." Hai chữ. Kiểu hai chữ ông nói nhiều lần trong đời thầy thuốc, nhưng lần này ông nói mà biết thuốc giết là thuốc ông pha, người giết dùng thuốc ông mang, và ông "mất rồi" kiểu thầy thuốc tuyên bố cái chết mà tay mình góp phần tạo.
Phán quyết theo thứ tự tội. Che đậy trước, thực hiện sau. Tề Quan Hải che đậy bằng hồ sơ, chết. Hàn Kinh Mặc che đậy bằng bỏ chạy, chết. Ta che đậy bằng tay thuốc. Bạch Tử Yên thực hiện bằng tay không.
Thứ tự: che đậy trước. Ta trước Bạch Tử Yên.
Nhưng phán quyết bằng gì? Hàn Kinh Mặc bằng cơ quan. Tề Quan Hải bằng thuốc. Ta bằng gì?
Ông không hỏi. Không hỏi vì câu trả lời có thể nằm trong hòm thuốc trên đùi ông, và ông không muốn biết câu trả lời đó có đúng không.
Đồng hồ nước nhỏ giọt. Mực nước dưới nửa, và mỗi giọt rơi đều đếm ngược về thứ mà không ai muốn đến nhưng không ai tránh được.