Đêm Nay Không Ai Được Rút Kiếm
Chương 29: Cựu Quan Sai Và Cái Giá Của Im Lặng
Chương 29

Cựu Quan Sai Và Cái Giá Của Im Lặng

Tề Quan Hải ngồi đó, hai tay trên đùi, lưng thẳng, cằm hơi ngẩng, và nghĩ về ba mươi năm.

Ba mươi năm trong nha môn. Mười năm làm sai nha chạy giấy, mười năm thăng bộ khoái phó, mười năm ngồi ghế bộ khoái chính. Ba mươi năm ký hồ sơ, đọc cáo trạng, điều tra, thẩm vấn, kết luận. Mỗi ngày đúng quy trình: nhận đơn, đến hiện trường, ghi nhận, phân loại, đệ trình quan trên. Không sai một bước. Không lệch một chữ.

Trừ một đêm.

Ông nhìn Diệp Cô Thành. Thư sinh ba mươi tuổi, mở quạt, phe phẩy, mắt sáng, kiểu người trẻ chưa biết giá của im lặng. Hắn hỏi "lão tiên sinh đến khi nào" và ông đã đứng dậy, nhanh quá, phủ nhận quá nhanh. Sai. Ông biết mình sai ngay khi ghế xô lùi và tiếng gỗ kêu trên sàn. Ba mươi năm thẩm vấn dạy ông điều đó: người phủ nhận trước khi bị buộc tội thường có tội.

Nhưng ông không có tội giết ai.

Ông có tội khác. Tội nặng hơn giết, theo một nghĩa nào đó: tội biết và không nói.

---

– Lão phu sẽ kể, ông nói.

Giọng ông trầm, chậm, kiểu người đọc bản khai cuối cùng. Tay ông nắm trên đùi, ngón tay đan vào nhau, giữ, như sợ buông ra thì tay sẽ run. Ông nhìn thẳng phía trước, không nhìn ai cụ thể, vì nhìn ai cũng thấy mặt họ biến thành mặt người chết trên đèo Bắc Sơn hai mươi năm trước.

– Hai mươi năm trước, lão phu là bộ khoái huyện Thanh Lâm. Huyện nằm dưới chân đèo Bắc Sơn, cách trạm Hàn Mai nửa ngày đường. Lão phu ba mươi lăm tuổi, mới ngồi ghế bộ khoái chính được hai năm.

Ông dừng. Nuốt. Miệng khô, chén trà trên bàn đã nguội, nhưng ông không uống, vì uống trước mặt chín người đang nhìn sẽ lộ tay run.

– Đêm đó, khoảng canh ba, lão phu nhận tin từ người tuần tra: "Trạm Hàn Mai có tiếng ồn lớn, ánh lửa trên đèo." Lão phu gọi bốn sai nha, đi ngựa lên đèo. Đến nơi khi trời chưa sáng hẳn.

Ông nhấn mạnh "chưa sáng hẳn" bằng cách lặp lại chậm hơn. Lúc đó ông nói dối Diệp rằng "sáng hẳn." Bây giờ ông sửa. Sửa nghĩa là thú nhận, nhưng thú nhận từng mảnh còn hơn bị lột hết.

– Đến nơi, trạm đã cháy một phần. Mái phía đông sụp, khói đen, tuyết tan thành vũng quanh nền. Cửa trước bung, cửa sau gãy. Xác nằm khắp nơi: đại sảnh, hành lang, cầu thang. Lão phu đếm: ba mươi bảy người lớn, sáu xác trẻ em.

Ông dừng lại ở "sáu." Không phải bảy. Không phải tám. Sáu. Ông nhớ con số đó vì ông tự tay đếm, từng xác, quỳ xuống, lật mặt, ghi sổ. Sáu đứa trẻ. Nghĩa là có đứa trẻ biến mất trước khi ông đến, hoặc ông đến khi xác chưa đầy đủ.

– Ba mươi bảy người lớn, sáu trẻ em, ông lặp lại. Tổng bốn mươi ba xác.

---

Diệp Cô Thành gấp quạt, nhìn ông. Không ngắt lời, chờ. Lục Tri Thu nhìn xuống chén trà, tay run nhẹ trên bàn, kiểu người nghe điều mình đã biết nhưng không muốn nghe lại. Bạch Tử Yên ngồi không động, nụ cười mỏng biến mất, mặt phẳng, mắt nhìn ông ta kiểu người nghe bản cáo trạng có tên mình.

– Lão phu kiểm tra hiện trường theo quy trình, ông tiếp. Ghi vị trí xác, vết thương, vũ khí rơi, hướng máu bắn. Mất hai canh giờ. Trong lúc đó, sai nha tìm thấy ba bóng đen rời đi phía tây bắc, cách trạm chừng hai dặm, đang đi trong tuyết.

Ông dừng. Đây là phần ông giữ hai mươi năm, phần ông chôn dưới hồ sơ "cướp đường thông thường," phần ông ký bằng tay không run và bụng đầy mật.

– Ba bóng. Một cao, bước chắc, mang bao tải trên lưng. Hai ngắn hơn, đi nhanh, kiểu người thoát thân.

Ông nhìn thẳng.

– Lão phu nhận ra người cao. Không phải nhận ra mặt, trời chưa sáng, quá xa. Nhận ra cách đi. Cách đi của người có quyền thế: bước dài, lưng thẳng, không quay đầu. Kiểu người không cần chạy vì biết không ai dám đuổi.

Im lặng. Đồng hồ nước nhỏ giọt trên bàn, từng giọt, đều, lạnh.

– Lão phu biết người đó. Không biết tên, nhưng biết là ai. Thuộc dạng người mà bộ khoái huyện nhỏ không dám chạm. Loại người mà nếu lão phu ghi vào hồ sơ, gia đình lão phu sẽ chết trước khi hồ sơ đến tay quan phủ.

Ông nói câu đó bằng giọng phẳng, kiểu người đã luyện ba mươi năm để nói câu đó mà không run. Nhưng ngón tay ông siết chặt hơn, khớp trắng, và ông biết Thẩm Vô Thanh nghe thấy nhịp tim ông: cao hơn bình thường, nhanh hơn bình thường, kiểu người mở nắp hầm chôn và nhìn thấy thứ bên trong vẫn còn tươi.

---

– Lão phu viết hồ sơ. "Cướp đường thông thường. Ba mươi bảy nạn nhân. Không xác định hung thủ." Ký tên. Đóng dấu. Gửi quan phủ. Hồ sơ đóng trong ngày.

Ông nhìn Liễu Vô Âm. Nàng ngồi cách ông bốn bước, bình rượu gần cạn, mắt nhìn ông không giận, không khinh, chỉ kiểu người chờ nghe phần tiếp.

– Hai năm sau, một cô gái trẻ đến nha môn. Nói là nhân chứng vụ Hàn Mai. Nói thấy bảy người đi qua quán của mình đêm đó. Muốn khai.

Ông dừng. Nhìn Liễu. Nàng nhìn lại, mắt không nháy.

– Lão phu nhận lời khai. Ghi đầy đủ. Rồi gập giấy, cất vào ngăn kéo, và nói: hồ sơ đã đóng, không mở lại.

Liễu Vô Âm cười. Nhẹ, thoáng, cười của người nghe câu chuyện cũ mà mình là nhân vật chính.

– Lão phu không gặp cô ấy lần thứ hai, ông nói, nhìn xuống tay mình. Và hai mươi năm sau, cô ấy ngồi đây, cách lão phu bốn bước, và kể lại đúng những gì lão phu đã cất vào ngăn kéo.

---

Liễu Vô Âm đặt chén rượu xuống.

– Ông kể hay, nàng nói. Giọng bình thản, kiểu người uống rượu nghe kể chuyện. Nhưng ông thiếu một chi tiết.

Tề Quan Hải nhìn nàng. Cái nhìn của người biết phần tiếp theo sẽ tồi, nhưng không biết tồi đến mức nào.

– Ông nói đến trạm khi trời chưa sáng hẳn, Liễu nói. Ông nói huyện Thanh Lâm cách trạm Hàn Mai nửa ngày đường. Nửa ngày đường đi ngựa, dù phi nhanh nhất, cũng mất ba bốn canh giờ. Nhưng ông nhận tin canh ba, đến nơi khi trời chưa sáng, nghĩa là trước canh năm. Hai canh. Hai canh đi nửa ngày đường. Trừ khi ông không đi từ huyện Thanh Lâm.

Im lặng. Loại im lặng nặng, kiểu không khí trước sấm.

– Ta thấy ông, Liễu nói. Giọng nhẹ hơn, nhưng rõ hơn, kiểu người nói câu giữ hai mươi năm và bây giờ nhả ra. Trên đường xuống đèo, lúc trời chưa sáng hẳn, ta thấy ông đi ngược chiều ta. Ông từ trạm xuống, ta từ quán Ngọc Thanh lên. Ông một mình, không sai nha, áo lấm tuyết, mặt trắng, bước nhanh, kiểu người bỏ chạy.

Tề Quan Hải không nói.

– Ông không đến trạm lúc sáng hẳn, Liễu nói. Ông ở đó từ trước. Ông chạy xuống trước khi trời sáng. Rồi quay lại với sai nha, giả vờ mới đến.

---

Ông nghe. Ông nghe từng chữ rơi xuống đại sảnh kiểu đá rơi xuống giếng: chậm, sâu, vang. Và ông biết, hai mươi năm trước, ông đã biết sẽ có lúc này. Đêm ông chạy xuống đèo trong tuyết, một mình, mặt trắng, tim đập, ông đã biết: ai đó nhìn thấy. Ai đó luôn nhìn thấy. Huyện nhỏ, đèo vắng, nhưng luôn có người nhìn.

Ông mở miệng, đóng lại, mở lại, kiểu người nuốt ba câu trước khi nhả được một chữ.

– Đúng, ông nói.

Rồi thêm:

– Lão phu ở đó trước. Lão phu không đi từ huyện Thanh Lâm. Lão phu đi từ trạm xuống, đúng như cô nói.

Giọng ông rỗng. Không còn trầm, không còn cứng, kiểu bình đổ hết nước chỉ còn sành. Ba mươi năm giữ mặt, đêm nay, mặt rạn.

– Tại sao, Tạ Hàn Sơn hỏi.

Hai chữ. Ông ta ngồi đầu bàn, nhìn Tề Quan Hải, mắt không biểu cảm, nhưng giọng nặng hơn bình thường nửa tông. Lần đầu tiên trong đêm, giọng ông ta không hoàn toàn phẳng.

Tề Quan Hải nhìn ông ta. Phán quan. Thủ tòa. Người xây cả phiên tòa này để hỏi chính xác câu đó.

– Lão phu nhận được mật thư, ông nói. Chậm, kiểu người bóc từng lớp. Nửa tháng trước đêm thảm sát. Người gửi không ký tên, nhưng dùng con dấu lão phu biết: dấu của một gia tộc phía bắc. Mật thư nói: đêm rằm, trạm Hàn Mai sẽ xảy ra chuyện. Đừng can thiệp. Sẽ có người lo hậu quả.

Ông nhìn tay mình. Khớp ngón trắng, gân nổi, tay người già nắm chặt thứ vô hình.

– Lão phu đi lên đèo đêm đó. Một mình. Không mang sai nha, không mang vũ khí, chỉ mang áo bông và đôi giày lót vải. Đi xem. Mật thư nói "sẽ xảy ra chuyện," và lão phu muốn biết chuyện gì, kiểu bộ khoái muốn nắm thông tin trước khi quyết định đứng bên nào. Đến chân đèo lúc nửa đêm, leo lên rừng thông phía tây, đến nơi khi nghe thấy tiếng kiếm.

Ông dừng. Nuốt. Bàn tay nắm chặt trên đùi mở ra rồi nắm lại.

– Tiếng kiếm, tiếng người kêu, tiếng gỗ gãy. Lão phu đứng trong rừng thông, cách trạm ba mươi trượng, giữa hai cây thông già, tuyết rơi trên vai, và nhìn. Ánh lửa bên trong quán, bóng đen chạy qua sân, thỉnh thoảng một tiếng kêu dứt giữa chừng. Lão phu đếm: kéo dài chừng nửa canh giờ, từ lúc lão phu đến đến lúc im hẳn.

*Lão phu đứng đó. Nửa canh giờ. Và không làm gì.*

– Nghe tiếng trẻ con khóc. Nhỏ, yếu, từ phía trong quán. Tiếng khóc dứt nhanh, không phải tự dứt, mà bị dứt. Rồi im. Rồi thêm một tiếng khóc khác, lần này ngắn hơn. Rồi im hẳn.

Giọng ông rạn. Không vỡ to, không vỡ kiểu khóc, chỉ rạn, kiểu bát sứ nứt vô hình, nước thấm qua từ từ. Mắt ông nhìn thẳng nhưng không nhìn gì, kiểu người nhìn vào hai mươi năm trước và thấy rõ hơn bất cứ thứ gì trong phòng này.

– Khi tiếng kiếm dứt, lão phu chạy xuống. Không vào trạm. Không kiểm tra ai sống ai chết. Không gọi. Không hét. Chạy xuống đèo, qua rừng, về huyện, nằm trên giường, nhìn trần, chờ đến sáng. Mồ hôi ướt lưng áo, tuyết tan trên vai, lão phu nằm đó và nghe lại tiếng trẻ con khóc trong đầu. Rồi gọi sai nha, đi ngựa lên đèo, giả vờ mới đến.

---

Im lặng kéo dài. Đồng hồ nước nhỏ giọt, nhưng ông không nghe tiếng giọt nước. Ông nghe tiếng kiếm từ hai mươi năm trước, tiếng trẻ con khóc trong bóng tối, tiếng tuyết nén dưới chân mình khi ông chạy xuống đèo, và tiếng thở của chính ông, gấp, nông, kiểu người đang chết mà chưa chết.

Thẩm Vô Thanh lên tiếng. Giọng trầm, chậm, không phán xét:

– Nhịp tim ông lúc này là chín mươi sáu. Cao nhất trong đêm. Nhưng ông không dối. Ông đang nói thật.

Tề Quan Hải nhìn về phía người mù. Không biết anh ta có thật sự "nhìn" ông hay không, nhưng câu nói đó, "ông không dối," nặng hơn bất kỳ lời tha thứ nào. Không phải tha thứ. Xác nhận. Xác nhận rằng câu chuyện ông vừa kể, bẩn thỉu, hèn nhát, đáng khinh, ít nhất là thật.

*Thật. Phần bẩn nhất cuộc đời lão phu, và nó là thật.*

– Người gửi mật thư, Diệp Cô Thành hỏi, giọng nhẹ nhưng sắc. Con dấu gia tộc nào?

Tề Quan Hải nhìn Diệp. Thư sinh ba mươi tuổi, quạt trong tay, mắt sáng, kiểu chim ưng nhìn thấy con mồi lộ ra khỏi cỏ.

– Lão phu không nói, ông đáp. Chưa nói.

– Chưa, Diệp lặp lại. Nghĩa là sẽ nói.

Tề Quan Hải không đáp. Ông nhìn đồng hồ nước. Mực nước thấp hơn lúc đầu đêm gần một phần ba. Nước cạn thì chết. Nói thì sống, có thể, nhưng người gửi mật thư vẫn còn quyền lực, và nếu ông nói tên, gia đình ông ở huyện Thanh Lâm, vợ, con trai, cháu, sẽ không an toàn.

*Nhưng gia đình ở Thanh Lâm, và ta ở đây. Giữa đèo, trong quán có thuốc nổ, với tám người biết ta hèn.*

Ông ngồi xuống. Chậm, nặng, kiểu người đặt gánh nặng xuống nhưng gánh nặng vẫn ở đó. Tay ông đặt lên đùi, phẳng, nhưng ngón tay run nhẹ, lần đầu tiên trong đêm không giấu được. Chén trà trên bàn trước mặt ông đã nguội hoàn toàn, mặt nước phẳng lì, phản chiếu ngọn đèn dầu thành một chấm vàng nhỏ.

Tạ Hàn Sơn nhìn ông. Không nói. A Thất đứng phía sau, mắt nhìn xuống sàn, nhưng tay cậu ta nắm chặt bên sườn, kiểu người nghe điều mình cần nghe và đã nghe đủ. Bạch Tử Yên ngồi im, mắt nhìn về phía Tề Quan Hải, không cười, không khinh, kiểu người nghe kẻ hèn nhất phòng thú nhận và nhận ra: hèn cũng là một dạng tội.

Đồng hồ nước nhỏ giọt. Đều, lạnh, không dừng.

Ch.29/80
2.358 từ