Đêm Nay Không Ai Được Rút Kiếm
Chương 70: Liễu Vô Âm Kể Điều Cô Giấu Cuối Cùng
Chương 70

Liễu Vô Âm Kể Điều Cô Giấu Cuối Cùng

Liễu Vô Âm không giả say nữa.

Nàng đặt bình rượu rỗng cạnh chân ghế, nhẹ, kiểu đặt vũ khí xuống khi không cần dùng. Bình rỗng từ mấy canh giờ trước, nhưng nàng vẫn cầm vì cầm bình rượu là vai diễn: ca kỹ cũ, say, đùa cợt, vô hại. Bây giờ nàng bỏ bình xuống vì vai diễn không cần nữa. Ai trong phòng này cũng biết nàng tỉnh. Vô Thanh biết từ lâu (anh nghe nhịp nàng đều, không phải nhịp người say). Diệp Cô Thành biết (hắn nhìn mắt nàng, mắt người say không nhìn sắc vậy). Tạ Hàn Sơn biết (ông biết tất cả).

Nàng đứng dậy. Ba mươi sáu tuổi, mười sáu tuổi đêm thảm sát, hai mươi năm giữa hai cái đứng dậy. Lần đầu: đứng dậy từ gầm bàn quán Ngọc Thanh, run, mắt ướt, nhìn ra cửa sổ thấy tuyết đỏ. Lần này: đứng dậy từ ghế trong đại sảnh Hàn Mai Quán, không run, mắt khô, nhìn vào bảy khuôn mặt sống và một xác chết.

Nàng bước đến chỗ Thẩm Vô Thanh. Không bước vòng qua bàn như những người khác, mà đi thẳng, cắt ngang giữa bàn dài, kiểu đi của người không cần tránh ai vì không sợ ai. Bước chân nàng nhẹ (không nhẹ kiểu Bạch Tử Yên, nhẹ kiểu ca kỹ quen đi trên sàn gỗ tiệc rượu mà không làm đổ chén), và mùi nàng mang theo: rượu cặn (thấm vào vải từ lâu, không rửa được nữa), mồ hôi nhẹ, và phấn cũ (kiểu phấn ca kỹ dùng hai mươi năm trước, bây giờ chỉ còn dấu vết trong sợi tóc).

Vô Thanh nghiêng đầu. Nhịp nàng 75, đều, kiểu đều của người đã quyết.

– Tôi có điều cần nói, nàng nói. Giọng không giả say, không đùa, không mỉa mai. Giọng thật của Liễu Vô Âm, giọng mà hai mươi năm qua nàng giấu dưới men rượu và tiếng cười: nhỏ, hơi khàn, rõ ràng.

– Nói, Vô Thanh đáp.

Nàng ngồi xuống cạnh anh. Cùng ghế Bạch Tử Yên ngồi lúc nãy, ghế cạnh ghế trống của Tề Quan Hải. Nàng không ngại ngồi cạnh xác. Nàng đã thấy ba mươi bảy xác đêm đó, thêm một không thay đổi gì.

– Lúc trước ta kể cho mọi người nghe: ta thấy bảy người đi qua quán Ngọc Thanh đêm thảm sát. Ta nhận dạng năm, hai người còn lại chỉ thấy lưng. Nhưng ta giấu.

Nhịp 75. Hơi thở đều. Nàng không run khi nói "ta giấu." Nàng giấu quen rồi, giấu hai mươi năm thành thói quen, và bây giờ mở ra thành thói quen mới.

– Giấu gì? Vô Thanh hỏi.

– Ta không kể tên người thứ tám.

Im lặng. Đại sảnh im, kiểu im khi có thông tin mới rơi vào giữa phòng như viên đá rơi vào giếng: mọi người nghe tiếng rơi nhưng chưa nghe tiếng chạm đáy.

Diệp Cô Thành nhịp 66, quạt gấp dừng giữa chừng, không khép không mở. Tạ Hàn Sơn nhịp 62 (hơi thở dài hơn nửa nhịp, kiểu hơi thở phán quan nghe điều ông không chắc mình biết trước). Bạch Tử Yên nhịp 76, tay siết chuôi kiếm (phản xạ, kiểu tay sát thủ khi nghe thông tin bất ngờ). Lục Tri Thu nhịp 84, tay dừng trên hòm thuốc. Mạc Dạ nhịp 74 tăng từ 73, ngón tay siết tờ giấy mười sáu tên. Chu Tuyết Sinh nhịp 65, mắt mở, ngón tay dừng bấm.

– Bảy người, Vô Thanh nói. Nàng kể bảy. Bây giờ nàng nói tám.

– Đúng. Bảy người đi theo đoàn hoặc đi gần đoàn. Người thứ tám đi một mình, khác hướng. Ta thấy người đó từ cửa sổ tầng hai quán Ngọc Thanh, trước khi thảm sát bắt đầu khoảng nửa canh giờ. Người đó đi lên đèo, không xuống đèo. Đi về phía trạm Hàn Mai.

Liễu Vô Âm nhìn Vô Thanh. Anh không thấy nàng nhìn, nhưng anh nghe: hơi thở nàng hướng về phía anh, đều, và nhịp nàng 75 nhưng mạch cổ đập nhẹ hơn bình thường (kiểu mạch người đang nén thứ gì đó, kiểu nén của ca kỹ quen giữ mặt bình tĩnh trước khách).

– Người đó, nàng nói. Là một người đàn ông trẻ. Khoảng ba mươi tuổi lúc đó. Một mình. Không mang kiếm nhìn thấy được. Áo đen, đơn giản, kiểu áo người không muốn bị nhận ra. Đi nhanh nhưng không vội, kiểu đi của người biết đường.

– Đặc điểm nhận dạng?

Liễu Vô Âm im. Ba nhịp thở. Rồi nàng nói, giọng nhỏ hơn:

– Mù cả hai mắt. Nhưng đi không cần gậy.

Mù. Đi không cần gậy. Ba mươi tuổi. Hai mươi năm trước.

Ta hai mươi tuổi hai mươi năm trước. Không phải ba mươi. Nhưng ta mù. Đi không cần gậy (ta đã luyện với thầy Trí Không từ chín tuổi, mười hai tuổi đã đi được bằng tai). Và nàng nhìn từ cửa sổ tầng hai, cách nửa dặm, trong ánh hoàng hôn tuyết. Đoán tuổi từ khoảng cách đó có thể sai mười tuổi.

Hay có người mù khác?

Anh không nói. Anh nghe. Nghe nhịp nàng, nghe hơi thở nàng, nghe bảy nhịp tim khác trong phòng phản ứng.

Tạ Hàn Sơn nhịp 62. Không đổi. Nhưng vai ông cứng hơn (Vô Thanh nghe vải áo ông căng ở vai, kiểu căng của người ngồi thẳng hơn bình thường, kiểu ngồi thẳng khi nghe điều mình không muốn người khác nghe).

– Nàng nói người đó trông hơi giống tôi, Vô Thanh nói. Phẳng. Không hỏi, không xác nhận, đặt câu trên bàn như đặt quân cờ.

Liễu Vô Âm gật (anh nghe cổ nàng gật, nhẹ, một lần).

– Giống. Không phải giống mặt (ta nhìn từ xa, tuyết, hoàng hôn, không rõ mặt). Giống cách đi. Người mù đi khác người sáng: đầu nghiêng, bước ngắn hơn nhưng đều hơn, tay giữ thăng bằng ở thân thay vì ở ngoài. Anh đi kiểu đó. Người đó đi kiểu đó.

Cách đi. Nàng nhận dạng bằng cách đi. Ca kỹ mười sáu tuổi, mắt sắc, nhìn cách người ta bước vào phòng mà biết người đó là ai: khách quen hay khách mới, giàu hay nghèo, say hay tỉnh, nguy hiểm hay vô hại. Nàng nhìn cách đi từ cửa sổ tầng hai cách nửa dặm, trong hoàng hôn tuyết, và nhớ hai mươi năm.

– Người đó đi lên đèo Bắc Sơn, nàng tiếp. Hướng trạm Hàn Mai. Một mình. Trước thảm sát nửa canh. Nghĩa là người đó đến trước sát thủ. Không phải nạn nhân (nạn nhân đã ở trong trạm). Không phải nhân chứng (nhân chứng đến sau, hoặc đã ở sẵn). Người đó đến với mục đích.

Mục đích. Người mù đi lên đèo trước thảm sát nửa canh giờ. Đến để làm gì? Cảnh báo? Tham gia? Sắp xếp?

Nếu người đó là ta (hai mươi tuổi, mù, đi không cần gậy), thì ta đã đến trạm Hàn Mai trước thảm sát. Ta đã ở đó khi sát thủ đến. Ta không phải đứa trẻ bảy tuổi bò trên sàn. Ta là người hai mươi tuổi đứng giữa phòng và nói: "Danh sách phải được đọc."

Nhưng ký ức của ta nói ta bảy tuổi đêm đó. Mù từ năm tuổi. Bò trên sàn máu. Nắm tay đứa trẻ câm.

Hai ký ức. Hai tuổi. Cùng một đêm.

Thuốc của Lục Tri Thu khóa ký ức. Khóa gì? Khóa ký ức đứa trẻ bảy tuổi? Hay khóa ký ức người hai mươi tuổi?

– Tại sao nàng giấu điều này? Vô Thanh hỏi.

Liễu Vô Âm im. Lâu. Năm nhịp thở, dài thứ hai trong đêm (dài nhất là Diệp Cô Thành khi trả lời về Mai Hoa Lệnh, bảy nhịp).

– Vì ta không chắc, nàng đáp. Nhìn từ xa, hoàng hôn, tuyết, mù hai mắt nhưng đi không gậy, có thể là ai đó khác. Có thể là người khiếm thị nhẹ, không phải mù hoàn toàn. Có thể ta nhầm.

– Nhưng?

– Nhưng đêm nay, ngồi trong phòng này, nghe anh nói, nghe anh đi, nghe anh nghiêng đầu, ta nhận ra: cách đi giống. Kiểu giống mà hai mươi năm không làm mờ.

Nàng so sánh. Ký ức hai mươi năm trước với anh đêm nay. Cách đi. Đầu nghiêng. Bước ngắn đều. Tay giữ thăng bằng ở thân. Và nàng kết luận: giống.

– Nhưng tuổi không khớp, Vô Thanh nói. Tôi hai mươi bảy. Hai mươi năm trước tôi bảy tuổi. Nàng nói người đó khoảng ba mươi.

– Ta biết. Tuổi không khớp.

Nàng nhìn anh. Anh nghe mắt nàng (hướng đầu nàng, hơi thở, kiểu nhìn gần): nàng nhìn thẳng, không tránh, kiểu nhìn của người đặt sự thật lên bàn và chờ người kia tự xếp.

– Nhưng anh không nhớ hết, nàng nói. Anh mất ký ức. Anh không biết mình ở đâu đêm đó. Và Bạch Tử Yên nói giọng người ra lệnh giống giọng anh. Mùi gỗ bạch đàn từ tường quán giống mùi người đưa giấy cho anh. Mảnh ghép đang ghép, nhưng hình chưa rõ.

Nàng nói đúng. Mảnh ghép: giọng (Bạch Tử Yên), mùi (tường, A Thất), cách đi (Liễu Vô Âm). Ba mảnh, ba nhân chứng, cùng chỉ về một người. Người đó giống ta.

Nhưng tuổi. Bảy và ba mươi. Hai mươi ba năm chênh lệch. Không thể.

Trừ khi ký ức ta sai. Trừ khi ta không phải bảy tuổi đêm đó. Trừ khi thuốc của Lục Tri Thu không chỉ khóa ký ức mà thay ký ức.

Hay trừ khi có hai người mù.

Liễu Vô Âm đứng dậy. Nhẹ. Kiểu đứng của người đã nói xong phần mình.

– Ta giữ điều này hai mươi năm, nàng nói. Vì ta không biết nó có nghĩa gì. Một người mù đi lên đèo trước thảm sát, ta nghĩ: có lẽ không liên quan. Có lẽ trùng hợp. Nhưng đêm nay, ngồi đây, nghe anh hỏi, nghe Bạch Tử Yên kể, nghe mùi gỗ bạch đàn từ tường, ta biết: không có trùng hợp trong đêm này. Mọi thứ đều được sắp xếp. Kể cả điều ta giấu.

Nàng bước về ghế cũ. Bốn bước, nhẹ, bình rượu rỗng nằm lại dưới chân ghế Tề Quan Hải. Nàng không nhặt. Không cần cầm bình rỗng nữa.

Ngồi xuống. Vai thấp hơn nửa phân so với lúc nãy (kiểu vai người trút gánh, không phải buông vai vì mệt mà buông vì đã đặt xuống thứ mang hai mươi năm). Nhịp 74, giảm từ 75. Nàng nhẹ hơn.

Diệp Cô Thành khép quạt. Tiếng nan quạt gập lại, khô, gọn, kiểu tiếng hắn dùng khi kết thúc một giai đoạn suy nghĩ và bắt đầu giai đoạn khác. Hắn nhìn Liễu Vô Âm, rồi nhìn Vô Thanh, rồi nhìn Tạ Hàn Sơn, rồi nhìn tường phía bắc. Bốn hướng, bốn mảnh ghép, và trong đầu hắn bàn cờ đang xếp lại lần thứ ba trong đêm.

– Ba nhân chứng, hắn nói. Giọng phẳng, kiểu giọng hắn dùng khi tổng hợp: không cảm xúc, chỉ logic. Bạch Tử Yên nghe giọng. Liễu Vô Âm thấy dáng đi. Tường quán giữ mùi. Cả ba chỉ về người mù có mặt tại trạm Hàn Mai đêm thảm sát, độc lập với nhóm sát thủ, trước khi thảm sát bắt đầu.

Hắn dừng. Quạt gấp gõ nhẹ lên mặt bàn, một lần, kiểu gõ dấu chấm cuối câu.

– Câu hỏi, hắn tiếp: người đó là Thẩm Vô Thanh trước khi mất ký ức, hay là người khác mà đêm nay chúng ta chưa biết?

Không ai trả lời. Câu hỏi nằm giữa đại sảnh, nặng, và bảy người im lặng vì cả hai khả năng đều dẫn đến kết luận nguy hiểm: nếu là Vô Thanh, anh không phải nạn nhân thuần túy; nếu là người khác, có ai đó mù ngoài Vô Thanh liên quan đến Án Hàn Mai mà chưa ai biết.

Bạch Tử Yên nhịp 76, tay trên chuôi kiếm, mắt nhìn Vô Thanh. Nàng đã kể về giọng, và bây giờ Liễu Vô Âm kể về dáng đi, và hai mảnh ghép nối nhau trong đầu nàng. Nhưng nàng không nói thêm. Nàng đã nói phần mình. Phần còn lại thuộc phiên tòa.

Lục Tri Thu nhịp 85, cao nhất đêm nay của ông. Tay run nhiều hơn, kiểu run khi nghe thông tin mà tay ông liên quan: thuốc khóa ký ức ông pha mười lăm năm trước, khóa cái gì? Ký ức đứa trẻ bảy tuổi? Hay ký ức người hai mươi tuổi đi lên đèo một mình trước thảm sát?

Mạc Dạ nhịp 74, tay cuộn tờ giấy mười sáu tên chặt hơn. Nàng nhìn xuống tờ giấy, nhìn những cái tên gạch đỏ, và Vô Thanh nghe ngón tay nàng lại dừng ở tên thứ mười ba (lần thứ tư, và anh bắt đầu nghi: tên thứ mười ba trên danh sách có liên quan đến câu chuyện Liễu Vô Âm vừa kể không).

Vô Thanh ngồi giữa đại sảnh. Kiếm gỗ trên đùi. Mắt mù mở. Trong đầu anh, ba mảnh ghép xoay: giọng, mùi, cách đi. Ba nhân chứng: Bạch Tử Yên (tai), Liễu Vô Âm (mắt), tường quán (mũi). Cả ba chỉ về cùng một hướng: có ai đó mù, trẻ, bình thản, đã ở trạm Hàn Mai đêm thảm sát, đã ra lệnh, đã đưa giấy, đã đi lên đèo một mình. Và người đó giống anh.

Nhưng ta bảy tuổi. Bò trên sàn. Nắm tay đứa trẻ câm. Được Tạ Hàn Sơn bế xuống đèo.

Hai mươi tuổi. Đứng trong phòng. Nói "danh sách phải được đọc." Mùi gỗ bạch đàn.

Hai người. Hay một người, hai ký ức.

Thuốc khóa ký ức đang tan. Trước bình minh, ta sẽ biết mình là ai đêm đó. Bảy tuổi hay hai mươi. Nạn nhân hay người sắp xếp. Đứa trẻ mù bò trên sàn máu hay kẻ đứng giữa phòng ra lệnh đọc danh sách.

Và nếu cả hai đều là ta, thì ta là gì?

Tạ Hàn Sơn ngồi đầu bàn. Nhịp 62. Mắt nhìn thẳng, không nhìn ai, nhìn vào khoảng trống giữa đại sảnh, kiểu nhìn của người biết câu trả lời nhưng không nói vì phán quan không làm chứng. Ông biết. Ông biết ta đêm đó là ai. Ông nuôi ta từ bảy tuổi. Ông gửi ta đi. Ông cho ta uống thuốc qua tay Lục Tri Thu. Và ông mời ta trở lại.

Đồng hồ nước nhỏ giọt. Mực nước dưới nửa, gần một phần ba. Ánh chiều tắt hẳn qua cửa sổ phía đông, đại sảnh chỉ còn ánh lửa than, đỏ, ấm, nhưng không đủ xua bóng tối ở góc phòng. Bảy nhịp tim, một nhịp trong tường, và câu hỏi Liễu Vô Âm đặt lên bàn nằm đó, nặng, kiểu nặng của thứ không ai nhấc lên được cho đến khi ký ức mở hết.

Ch.70/80
2.531 từ