Đêm Nay Không Ai Được Rút Kiếm
Chương 42: Tề Quan Hải Bắt Đầu Nói Nhiều
Chương 42

Tề Quan Hải Bắt Đầu Nói Nhiều

Diệp Cô Thành gấp quạt.

Nửa canh sau khi A Thất rót trà, Tề Quan Hải bắt đầu nói. Không phải nói như trước đó (ngắn, kiểu đọc luật, chọn từ cẩn thận). Mà nói kiểu người mở van: chậm lúc đầu, rồi nhanh dần, rồi không dừng được.

Diệp ngồi phía dưới, quạt gấp trên bàn, tay trên quạt. Ông ta nghe Tề Quan Hải từ tầng hai vọng xuống, giọng khàn hơn, câu dài hơn, kiểu nước tràn bờ. Ông ta biết: đây không phải lương tâm. Lương tâm không thay đổi tốc độ nói trong nửa canh giờ. Lương tâm mất hai mươi năm để phá một lớp tường, không phải ba mươi phút. Đây là thuốc.

Ai cho ông ta uống, ta biết. Câu hỏi là: liều bao nhiêu, bao lâu, và kiểm soát được đến đâu.

– Năm đó, Tề Quan Hải nói từ tầng hai, giọng vọng xuống đại sảnh, đêm đó, lão phu nhận lệnh.

Không ai hỏi. Ông ta tự nói. Diệp nhận ra: thuốc không chỉ làm chậm phản ứng, mà làm mất khả năng phân biệt giữa "nên nói" và "không nên nói." Bộ lọc hai mươi năm ông ta dùng để giữ bí mật đang tan, kiểu sáp ong gần lửa.

– Lệnh đến từ nha môn huyện Thanh Lâm, ông ta nói. Nhưng không phải lệnh thường. Không phải công văn, không phải trát gọi. Mà lệnh miệng. Người đưa lệnh đến bằng ngựa, ban đêm, mặc áo đen, không mang ấn tín. Chỉ nói: "Tề đại nhân, hồ sơ trạm Hàn Mai cần đóng trước sáng."

Im lặng. Diệp nhìn quanh: Bạch Tử Yên mắt vẫn nhìn lên tầng hai, tay trên chuôi kiếm, nụ cười mỏng. Liễu Vô Âm đặt chén rượu xuống, chậm, kiểu người sợ tiếng chén làm mất giọng Tề Quan Hải. Lục Tri Thu trên bậc cầu thang, tay run, mắt nhìn hòm thuốc.

Mạc Dạ trên ghế, lưng cong, nhìn lên trần nhà (nơi giọng Tề Quan Hải vọng xuống). Hắn nhìn kiểu người nghe chuyện mà chuyện liên quan đến mình nhưng không biết liên quan đến đâu.

Vô Thanh cuối bàn, đầu nghiêng, nghe. Nhịp Tề Quan Hải: 78, đều, chậm hơn bất kỳ lúc nào trong đêm. Giọng ông ta đều hơn nhịp tim, kiểu người nói không do ý chí mà do cơ thể, kiểu nước chảy không do muốn chảy mà vì dốc.

– Lão phu hỏi: lệnh của ai? Tề Quan Hải nói. Người đưa lệnh nói: Vương Đại Nhân.

Tạ Hàn Sơn đầu bàn, nhịp 62, mắt nhìn hộp sắt. Không phản ứng. Kiểu người đã biết câu trả lời trước khi câu hỏi được đặt ra.

– Vương Đại Nhân, Tề Quan Hải lặp lại, giọng chậm hơn, kiểu người nhai lại tên mà tên đó mắc trong cổ hai mươi năm. Quan đầu tỉnh Lạc Sơn. Người quyền lực nhất trong bán kính ba trăm dặm. Lệnh của ông ta không cần ấn tín. Ai nhận đều biết: không làm thì chết, làm thì sống. Lão phu chọn sống.

Ông ta dừng. Sàn gỗ tầng hai kêu, kiểu ông ta nhúc nhích, kiểu người ngồi không yên. Rồi nói tiếp, không ai hỏi:

– Lão phu đến trạm Hàn Mai sáng hôm sau. Trời tuyết. Đường đèo trơn. Mất nửa ngày từ huyện lên. Đến nơi, trạm im lặng. Cửa mở. Máu trên sàn đã đông. Ba mươi bảy xác, nằm, ngồi, gục, mỗi người mỗi kiểu chết. Lão phu đếm. Ba mươi bảy. Không đếm trẻ con.

Diệp nhíu mày, nhẹ, kiểu người ghi nhận chi tiết sai. "Không đếm trẻ con" có hai nghĩa: không thấy trẻ con (vì trẻ đã bị mang đi hoặc giấu), hoặc thấy nhưng không đếm (vì lệnh chỉ yêu cầu đếm người lớn). Cả hai đều là tội.

– Lão phu biết, Tề Quan Hải nói, giọng nhỏ hơn, kiểu người nói với mình nhiều hơn nói với phòng. Biết không phải cướp đường. Cướp đường không giết sạch. Cướp đường lấy vàng bạc rồi đi. Trạm Hàn Mai không mất gì. Vàng bạc trong phòng khách còn nguyên. Hành lý không bị lục. Chỉ có người chết. Ba mươi bảy người chết và không mất thứ gì ngoài mạng.

Ông ta dừng. Hít thở, nặng, kiểu phổi chứa đá.

– Lão phu viết hồ sơ: "cướp đường." Ký tên. Đóng dấu. Gửi về huyện. Gửi bản sao lên tỉnh. Vương Đại Nhân nhận, gật, xong.

Diệp Cô Thành nhìn Vô Thanh. Anh ngồi cuối bàn, mắt trắng mở, không biểu cảm. Nhưng Diệp thấy: tay phải Vô Thanh trên bàn siết nhẹ hơn bình thường, ngón giữa ấn xuống mặt gỗ, kiểu người nghe thứ mình đã biết nhưng nghe bằng tai khác với biết bằng đầu.

Diệp ghi nhận: Vô Thanh không hỏi. Anh nghe Tề Quan Hải kể mà không can thiệp, kiểu người để nước chảy tự nhiên vì biết nước chảy nhanh hơn khi không ai chặn. Thông minh. Hoặc kiên nhẫn. Hoặc cả hai.

– Nhưng lão phu biết, Tề Quan Hải nói, giọng lớn hơn, kiểu người mất khả năng kiểm soát âm lượng. Biết người đưa lệnh không phải người của Vương Đại Nhân. Ông ta mặc áo đen, cưỡi ngựa đen, nhưng tay ông ta có chai ở lòng bàn tay. Chai kiếm. Không phải quan lại. Không phải lính. Kiếm khách. Và kiếm khách đưa lệnh của quan đầu tỉnh, nghĩa là quan đầu tỉnh không tự ra lệnh. Có người ở giữa. Người nối quan lại với giang hồ.

Diệp mở quạt. Một nan. Gấp lại. Mở. Gấp. Tay hắn di chuyển kiểu người tính toán bằng ngón.

Người nối quan lại với giang hồ. Tên đó thuộc tổ chức nào. Kiếm Minh hay bên ngoài. Và nếu thuộc Kiếm Minh, thì nội gián không phải một người mà là một đường dây.

– Lão phu không hỏi tên, Tề Quan Hải nói. Không cần hỏi. Lão phu biết: hỏi tên người đưa lệnh nghĩa là muốn biết nhiều hơn được phép. Và biết nhiều hơn được phép nghĩa là chết.

Ông ta dừng. Sàn kêu. Rồi nói, giọng nhỏ hơn nhưng rõ hơn, kiểu người nói điều quan trọng nhất mà ông ta không định nói:

– Nhưng lão phu nhận ra tay ông ta. Hai mươi năm sau, ở quán trọ này, lão phu nhận ra chai kiếm đó. Trên tay một người ngồi trong đại sảnh.

Phòng im. Nặng, kiểu trần nhà đè xuống.

Diệp nhìn quanh. Chín người (tám dưới, một trên). Ai trong phòng có chai kiếm ở lòng bàn tay? Tạ Hàn Sơn, phán quan, cầm kiếm bốn mươi năm. Bạch Tử Yên, sát thủ, kiếm Bách Luyện. Hàn Kinh Mặc, đã chết, tiêu sư, nhưng chai kiếm kiểu bảo tiêu không giống chai kiếm kiểu sát thủ. Vô Thanh, kiếm gỗ, nhưng kiếm gỗ cũng tạo chai (Diệp quan sát: lòng bàn tay phải Vô Thanh có chai dày, kiểu người luyện kiếm hàng ngày).

Nhưng Tề Quan Hải nói "tay ông ta." Ông ta. Nam. Loại trừ Bạch Tử Yên và Liễu Vô Âm. Còn: Tạ Hàn Sơn, Vô Thanh, Diệp (chính hắn), Mạc Dạ, Lục Tri Thu, Chu Tuyết Sinh. Diệp biết tay mình không có chai kiếm (quạt gấp, không phải kiếm). Mạc Dạ: chai ở đầu ngón (trộm, không phải kiếm). Lục Tri Thu: chai ở lòng bàn tay nhưng kiểu chai kim châm cứu, không phải kiếm. Chu Tuyết Sinh: chai ở ngón bấm, kiểu thợ cơ quan.

Còn lại: Tạ Hàn Sơn và Vô Thanh.

Nhưng Vô Thanh bảy tuổi đêm thảm sát. Không thể là người đưa lệnh hai mươi năm trước. Nghĩa là Tề Quan Hải đang nói về Tạ Hàn Sơn. Hoặc về người không có mặt trong phòng đêm nay mà có liên kết với ai đó ở đây.

Diệp nhìn Tạ Hàn Sơn. Đầu bàn, đứng, nhịp 62. Mặt không biểu cảm. Tay buông dọc thân, lòng bàn tay hướng vào trong, không nhìn thấy chai. Ông ta nghe Tề Quan Hải nói "chai kiếm trong đại sảnh" mà không phản ứng. Kiểu người đã biết từ lâu. Hoặc kiểu người không phải người được nhắc đến.

Ông ta biết ai Tề Quan Hải muốn nói. Và ông ta chờ. Kiểu phán quan chờ nhân chứng kết thúc lời khai trước khi mở hồ sơ.

Tề Quan Hải hít thở nặng nhọc trên tầng hai. Sàn gỗ kêu. Ông ta nhúc nhích, kiểu người muốn đứng dậy nhưng chân không nghe.

– Lão phu giữ bí mật hai mươi năm, ông ta nói. Không phải vì trung thành. Vì sợ. Sợ người đưa lệnh, sợ Vương Đại Nhân, sợ tay chai kiếm. Nhưng Vương Đại Nhân đã chết ba năm trước. Và lão phu già rồi. Năm mươi lăm. Còn sợ gì nữa.

Giọng ông ta run. Không phải run vì sợ (Vô Thanh nghe: nhịp 78, đều, không dao động kiểu sợ). Run vì thuốc, vì cơ thể không kiểm soát được cơ mặt, cơ hàm, cơ thanh quản. Run kiểu van bị bung, không đóng lại được.

– Tên người đưa lệnh, ông ta nói. Lão phu không biết tên thật. Nhưng lão phu biết: ông ta thuộc tổ chức Kiếm Minh.

Im lặng. Dài hơn những lần trước.

Diệp Cô Thành nghe bốn chữ "tổ chức Kiếm Minh" mà nhịp tăng hai nhịp (66 lên 68, Vô Thanh đếm). Hắn kiểm soát nhanh, ép về 67, rồi 66, nhưng hai nhịp đó đủ để Vô Thanh ghi nhận: Diệp không biết chi tiết này. Hoặc biết nhưng không ngờ Tề Quan Hải biết.

Tạ Hàn Sơn nhịp 62. Không đổi. Ông nghe "Kiếm Minh" mà mặt phẳng, tay phẳng, hơi thở phẳng. Kiểu người nghe điều mình đã biết từ hai mươi năm trước và đã chờ hai mươi năm để nghe lần cuối cùng, từ miệng người đáng lẽ phải nói từ lâu.

Bạch Tử Yên nhìn Tạ Hàn Sơn. Nụ cười mỏng co lại. Nàng biết: nội gián trong Kiếm Minh nghĩa là phản bội từ bên trong. Nghĩa là đêm thảm sát không phải tấn công từ ngoài mà phá hủy từ trong. Nghĩa là người chết đêm đó chết vì chính đồng đội mình.

Vô Thanh ngồi cuối bàn. Tay trái trên cổ áo, nơi chìa khóa thứ hai nằm dưới lớp vải. Anh nghe Tề Quan Hải kể, nghe chín nhịp tim phản ứng, và trong đầu anh, ký ức mở thêm một khe: tiếng sáo đồng (Trần Duy gọi sát thủ), và lần đầu tiên, một chi tiết mới: tiếng bước chân nhiều người trên sân đá, đều, nặng, kiểu quân lính không phải sát thủ. Kiểu người quen đi đội hình. Kiểu người thuộc tổ chức, không phải giang hồ tự do.

Người đưa lệnh thuộc Kiếm Minh. Kẻ phản bội ở bên trong. Và cha ta chết vì chính đồng nghiệp của cha.

Đồng hồ nước nhỏ giọt. Ánh sáng xám rộng hơn. Và Tề Quan Hải trên tầng hai, nhịp 78, tiếp tục nói, kiểu van đã bung không đóng lại được, kiểu nước đã tràn không hứng kịp.

Ch.42/80
1.876 từ