Người Mù Phá Vỡ Im Lặng
Vô Thanh đếm.
Không đếm người, không đếm thời gian. Đếm lời nói dối. Từ đầu đêm đến giờ, anh ngồi cuối bàn, kiếm gỗ trên đùi, mắt trắng mở, và đếm. Mỗi lần nhịp tim ai đó tăng khi miệng nói điều ngược lại, anh ghi. Mỗi lần hơi thở nén nửa nhịp trước khi phát ra âm thanh, anh ghi. Mỗi lần mạch cổ đập lệch nhịp với giọng nói, anh ghi.
Con số đó rõ trong đầu anh như tiếng gõ trên đá.
Bảy lời nói dối lớn, loại lời nói dối thay đổi hướng câu chuyện, loại lời nói dối nếu tháo ra sẽ khiến toàn bộ đêm nay xếp lại khác. Không tính những lời nói dối nhỏ (tên, nghề, lý do đến), vì những thứ đó ai cũng biết là dối, kể cả người nói. Bảy lời nói dối mà người nói tin mình giấu được.
Anh đứng dậy.
Lần thứ tư trong đêm. Lần đầu là khi đi đến phòng 5 xem xác Hàn Kinh Mặc. Lần hai khi tiếp cận Chu Tuyết Sinh. Lần ba khi đến vị trí A Thất. Lần này anh đứng tại chỗ, không di chuyển, chỉ đứng. Kiếm gỗ cầm dọc bên hông, tay phải nắm giữa thân kiếm, kiểu người cầm gậy chống chứ không phải cầm vũ khí.
Đại sảnh im. Ánh sáng vàng đã lên cao, anh biết vì hơi ấm từ phía đông mạnh hơn, kiểu nắng sáng qua khe cửa chạm da. Đồng hồ nước nhỏ giọt chậm hơn nửa canh trước, nước đã cạn quá nửa. Bóng chín người trên tường co ngắn (anh không nhìn thấy nhưng nghe: bước chân A Thất chạm sàn gần hơn tường, nghĩa là bóng ngắn, nghĩa là ánh sáng cao).
Tám nhịp tim trong phòng. Tạ Hàn Sơn 62, đều, phẳng, kiểu nhịp đá. Diệp Cô Thành 66, vừa trở về sau lần thú nhận, mạch cổ vẫn mạnh hơn nửa nhịp so với trước khi đứng dậy. Bạch Tử Yên 76, mức nền mới kể từ khi Vô Thanh chỉ ra nàng muốn chết, nhịp đều, kiểu người đã kể xong và bây giờ chờ. Lục Tri Thu 79, thuốc đang tác dụng, bộ lọc suy yếu. Liễu Vô Âm 75, cao hơn mức nền khi có rượu, bình rượu hết, mặt nạ không còn. Tề Quan Hải 78, thuốc, nhịp chậm bất thường, kiểu người bơi trong nước đặc. Mạc Dạ 74, tay trong áo, giữ 2/3 mảnh Mai Hoa Lệnh, lo. Chu Tuyết Sinh 65, mắt mở, ngón tay dừng bấm.
A Thất sau lưng Tạ Hàn Sơn, 58, đều, im. Chín nhịp. Và nhịp anh: 63, cao hơn mức nền 62 từ khi nào anh không biết.
Tại sao nhịp ta tăng? Không phải sợ, không phải tức giận, không phải hồi hộp. Tăng kiểu cơ thể đang nhớ thứ gì đó mà đầu chưa cho phép, kiểu nước ngầm dâng nhưng chưa tràn mặt đất.
– Bảy, Vô Thanh nói.
Giọng trầm, rõ, kiểu giọng Bạch Tử Yên vừa mô tả: bình thản, mỗi chữ có trọng lượng, khoảng im giữa các chữ cũng có trọng lượng. Anh không chọn giọng này, anh nói bằng giọng duy nhất anh có, và bây giờ giọng đó mang thêm một nghĩa mà anh chưa hiểu hết.
Tám nhịp tim thay đổi.
Tề Quan Hải: 78 lên 82, nhanh nhất, mạnh nhất. Mạch cổ đập rõ đến mức anh nghe được từ cuối bàn, kiểu trống đánh trong phòng kín. Hơi thở nén, vai co, tay nắm mép bàn. Ba lời nói dối. Ông ta biết ba lời nào.
Lục Tri Thu: 79 lên 81. Nhanh thứ hai. Tay run nhiều hơn, nhưng run khác bình thường, run kiểu thuốc mất kiểm soát cộng lo lắng, hai loại run chồng lên nhau. Hai lời nói dối. Ông biết hai lời nào.
Diệp Cô Thành: 66, không đổi. Nhưng ngón tay trên nan tre quạt dừng nửa nhịp, kiểu người đang tính lại: bảy, bảy lời, ai nói dối gì, người mù biết bao nhiêu. Diệp không dối trong bảy lời đó (hoặc nếu dối, hắn kiểm soát nhịp đến mức anh không bắt được, và khả năng đó tồn tại).
Bạch Tử Yên: 76, không đổi. Không đổi gì. Mắt nhắm (anh biết vì hơi thở nàng đều kiểu người nhắm mắt, kiểu thở chậm hơn nửa nhịp so với mở mắt). Nhưng tay trái đặt lên chuôi kiếm, nhẹ, rồi buông. Nửa giây. Kiểu phản xạ, kiểu cơ thể muốn rút mà đầu nhắc: ba luật, không được.
Nàng không lo lắng về bảy lời nói dối. Nàng lo lắng về thứ khác. Tay trên chuôi kiếm không phải vì sợ bị phát hiện mà vì muốn kết thúc, và con số bảy nhắc nàng rằng đêm chưa xong, nàng chưa được chết.
Liễu Vô Âm: 75 lên 76. Nhẹ. Mắt hẹp (anh nghe lông mi chạm nhau, nửa giây, kiểu nháy mắt chậm). Nàng không nằm trong bảy lời nói dối, hoặc nàng nghĩ mình không nằm. Nhịp tăng vì tò mò, không phải vì sợ.
Mạc Dạ: 74 lên 76. Tay trong áo siết chặt hơn, vải áo kêu nhẹ. Hắn có một lời nói dối lớn: chuyến đi hầm. Nhưng anh không tính chuyện hầm vì hắn không nói dối bằng lời, hắn dối bằng im lặng, và im lặng không phải lời nói dối theo cách anh đếm.
Chu Tuyết Sinh: 65, không đổi. Mở mắt nhìn thẳng (anh biết vì hơi thở ông hướng về phía anh, kiểu người quay mặt nhìn nguồn âm thanh). Ông không lo. Ông đã thú nhận, đã đặt cáo trạng lên bàn, đã nói biết ai viết thư triệu tập. Ông không còn gì để giấu, hoặc ông nghĩ vậy.
Tạ Hàn Sơn: 62, không đổi. Đá.
A Thất: 58, không đổi. Im.
– Trong phòng này, từ đầu đêm đến giờ, có bảy lời nói dối lớn, Vô Thanh nói. Giọng đều, chậm, mỗi từ đặt xuống như đặt đá lên bàn cờ. Ta không nói ai nói dối. Ta không nói lời nào là dối. Ta chỉ nói: bảy.
Ông nói bảy để làm gì?
Tề Quan Hải hỏi, giọng gấp hơn bình thường, kiểu người cố giữ bình tĩnh mà bình tĩnh đã rời tay từ lúc thuốc ngấm. Nhịp 82, mạch cổ đập rõ.
Vô Thanh không quay về phía ông. Anh đứng yên, kiếm gỗ dọc bên hông, mặt hướng về phía hộp sắt ba khóa trên bàn.
– Để xem ai lo, anh đáp.
Im lặng. Kiểu im lặng sau khi dao rạch, trước khi máu chảy.
Ba người lo lắng rõ ràng: Tề Quan Hải, Lục Tri Thu, Mạc Dạ. Một người lo bằng cách khác: Bạch Tử Yên, tay trên chuôi kiếm rồi buông. Một người tính toán: Diệp Cô Thành, ngón tay dừng trên quạt. Hai người không đổi: Tạ Hàn Sơn và Chu Tuyết Sinh. A Thất không đổi nhưng hơi thở sâu hơn nửa nhịp khi nghe số bảy, kiểu cô đếm theo, kiểu cô cũng biết con số đó.
Diệp Cô Thành mở quạt. Một động tác, nan tre xòe, gió nhẹ. Hắn quạt chậm, nhịp đều, kiểu người suy nghĩ bằng tay.
– Bảy lời nói dối, hắn nói. Giọng phẳng, kiểu ghi nhận, không kiểu tranh cãi. Thẩm huynh tự tin vào con số đó.
Không phải câu hỏi. Câu khẳng định mà cuối câu hơi lên, nhẹ, kiểu người vừa đặt quân cờ và chờ xem đối phương nhìn quân đó bao lâu.
– Bảy, Vô Thanh lặp lại. Cộng trừ không quá một.
Diệp gấp quạt lại. Nhanh hơn bình thường nửa nhịp.
– Cộng trừ không quá một, hắn nhắc lại. Nghĩa là có thể sáu, có thể tám. Nghĩa là có một lời mà Thẩm huynh không chắc là dối hay thật.
Vô Thanh nghiêng đầu. Nhẹ, nửa tấc, kiểu xác nhận.
– Một lời, anh nói. Nhịp người nói không tăng, không giảm, không đổi gì. Nhưng cách người đó dừng trước khi nói, nửa nhịp thở, kiểu dừng của người đang chọn nói thật hay dối, rồi chọn, rồi nói. Và sau khi nói xong, nhịp vẫn không đổi. Lời đó hoặc là dối mà người nói kiểm soát hoàn hảo, hoặc là thật mà người nói cân nhắc rất lâu trước khi nói thật.
Lời đó là của Tạ Hàn Sơn. "Mở Mai Hoa Lệnh." Nhịp 62, không đổi. Nhưng trước khi nói, ông dừng nửa nhịp thở. Nửa nhịp đó là khoảng cách giữa quyết định mở và quyết định không mở, và ông đã chọn mở. Nhưng tại sao dừng? Nếu ông đã chuẩn bị hai mươi năm, tại sao nửa nhịp thở cuối cùng lại nặng?
Lục Tri Thu đứng giữa phòng, chén trà rỗng vẫn trên tay (ông quên đặt xuống, hoặc tay run đến mức không dám đặt vì sợ rơi). Ông nhìn Vô Thanh, mắt đỏ, kiểu mắt thầy thuốc nhìn bệnh nhân mà bệnh nhân là chính mình.
– Hai lời, ông nói. Giọng chậm, thuốc đang tác dụng, kiểu giọng người lội nước nói. Ta biết hai lời nào.
Vô Thanh quay về phía ông. Không nói, không gật, không lắc. Chỉ quay, kiểu người mù quay mặt về phía âm thanh.
– Lời thứ nhất: ta nói ta không nhận ra ai, Lục Tri Thu tiếp tục. Tay run, chén trà lắc, nước cặn trong chén chạm thành gốm kêu nhẹ. Ta nhận ra. Từ đầu đêm. Lưng Tạ Hàn Sơn, bước chân Bạch Tử Yên, mùi thuốc trên tay Thẩm Vô Thanh. Ta nhận ra tất cả nhưng ta nói không.
Ông dừng. Nuốt nước bọt, kiểu nuốt khó, kiểu cổ họng tê vì thuốc.
– Lời thứ hai: ta nói ta không biết người ta đã cứu gây thêm bao nhiêu họa. Ta biết. Mười một người. Ta đếm. Ta đọc tin từ giang hồ, mỗi năm, mỗi lần nghe tên gia tộc bị thôn tính, ta đếm thêm. Mười một người chết vì ta khâu một vết thương đêm đó.
Im lặng. Nặng đến mức Vô Thanh nghe tiếng than trong bếp tắt dần, kiểu lửa hết củi, kiểu đêm dài sắp thành ngày.
Tạ Hàn Sơn nhìn Lục Tri Thu. Lâu. Nhịp 62, không đổi, nhưng hơi thở thay đổi, nhẹ, kiểu người nghe điều mà ông đã biết nhưng nghe nói ra bằng giọng run vẫn nặng hơn nghe trong đầu.
Tề Quan Hải cúi đầu. Vai co, tay nắm mép bàn, nhịp 82 không giảm. Ông không nói ba lời nào. Không cần nói, vì mọi người trong phòng đều biết: ông đã dối từ đầu đêm, dối danh tính, dối lý do đến, dối về vai trò hai mươi năm trước. Ba lời đó đã bị lột từng lớp qua các canh giờ, và bây giờ chỉ còn xác lời nằm trên bàn.
Bạch Tử Yên mở mắt. Nhìn Vô Thanh. Mắt sáng, kiểu mắt người vừa nghe điều gì đó xác nhận thứ nàng đã nghi.
– Bảy lời nói dối, nàng nói. Giọng nhẹ, kiểu gió qua khe cửa. Anh đếm bằng nhịp tim. Nhưng có những lời nói dối mà nhịp tim không tăng. Anh biết điều đó.
Vô Thanh gật. Nhẹ, nửa tấc.
– Ta biết, anh đáp. Nhịp tim không tăng có hai loại: người nói thật, hoặc người dối mà cơ thể đã quen dối đến mức không còn phản ứng. Loại thứ hai nguy hiểm hơn.
– Và trong phòng này có bao nhiêu người thuộc loại thứ hai?
Vô Thanh không trả lời. Vì câu trả lời nằm ở nhịp 62 đầu bàn, và nhịp 66 góc trái, và có thể cả nhịp 63 của chính anh, nhịp mà anh không kiểm soát được, nhịp mà hai mươi năm thuốc khóa ký ức đã biến thành thứ anh không còn nhận ra là thật hay giả.
Giọng qua tường mỏng. Bạch Tử Yên nói giống giọng ta. Nhịp giống, cách đặt câu giống, cách im lặng giống. "Như cha và con, hoặc thầy và trò." Cha ta là Thẩm Duy Minh, Phó Thủ Tòa Kiếm Minh. Ta không nhớ giọng cha. Thuốc khóa ký ức lấy mất giọng cha ta, lấy mất mặt cha ta, lấy mất mùi cha ta. Nhưng giọng ta, giọng mà ta dùng mỗi ngày hai mươi năm, giọng đó giống ai?
Giống cha? Hay giống người đã dạy ta nói lại sau khi ký ức bị xóa?
Anh ngồi xuống. Chậm, kiểu người vừa đứng lâu, kiểu người mang thêm thứ gì đó nặng trên vai mà không nhìn thấy. Kiếm gỗ đặt lại trên đùi, tay phải trên thân kiếm, tay trái đặt trên bàn, ngón tay chạm mặt gỗ mát.
Đồng hồ nước nhỏ giọt. Ánh sáng vàng sắc hơn. Và trong đại sảnh, con số bảy nằm giữa bàn như con dao không cán, ai cầm cũng đứt tay, không ai muốn cầm nhưng không ai bỏ được.