Chu Tuyết Sinh Và Bản Đồ Thoát Hiểm
Chu Tuyết Sinh chờ.
Ông chờ từ khi người mù tuyên bố bảy lời nói dối. Chờ qua lúc Lục Tri Thu tự thú, chờ qua lúc Tề Quan Hải cúi đầu không nói, chờ qua lúc Bạch Tử Yên hỏi câu mà người mù không trả lời. Ông chờ bằng cách ngồi yên, mắt mở, ngón tay dừng bấm, kiểu chờ của thợ cơ quan: biết lúc nào nên lắp ốc, lúc nào nên đợi keo khô.
Bây giờ keo khô.
Ánh sáng vàng từ phía đông đã chạm mép bàn dài, mảng sáng kéo dần về phía tây, xoa bóng người ngồi phía đông ngắn lại. Đồng hồ nước nhỏ giọt, chậm hơn nửa canh trước, nước đã xuống quá hai phần ba. Ông nhìn đồng hồ (thói quen, vì ông thiết kế nó, biết mỗi giọt mất bao lâu, biết khi nào nước chạm mức nguy hiểm), và ước lượng: còn chừng ba canh giờ. Ba canh, trước khi nước cạn hoàn toàn và ngòi tự động kích hoạt.
Ba canh. Đủ hay không đủ? Khi ta thiết kế bộ đếm cho Tạ Hàn Sơn, ông ta nói: "Đêm dài vừa đủ để nói hết, ngắn vừa đủ để không ai trì hoãn." Ta hỏi: "Nếu không nói hết?" Ông ta không trả lời. Bây giờ ta hiểu: ông ta không trả lời vì câu trả lời nằm trong thiết kế, nằm trong ngòi nổ, nằm trong ba mươi cân thuốc nổ bốn góc quán. Không nói hết thì chết chung.
Ông đứng dậy. Chậm, gối nhức (sáu mươi hai tuổi, hai mươi năm ngồi xổm sửa cơ quan, gối không tha), lưng hơi còng, bước chân nặng nhưng đều. Bước qua Mạc Dạ (hắn ngước lên, mắt sáng, kiểu mắt tên trộm nhìn người đi ngang mà đánh giá có gì lấy được), bước qua Liễu Vô Âm (nàng không nhìn, mắt hướng về phía bếp lửa đã tắt), bước đến cuối bàn.
Cuối bàn. Nơi Thẩm Vô Thanh ngồi, kiếm gỗ trên đùi, mắt trắng mở, tay trái trên mặt bàn gỗ. Người mù vừa ngồi xuống sau khi công bố bảy lời nói dối, hơi thở đều, kiểu hơi thở người vừa hoàn thành việc cần làm và bây giờ chờ kết quả.
Ông dừng cách người mù một bước. Không ngồi, vì ghế quanh cuối bàn không có. Đứng, lưng hướng về phía tường, che khuất tầm nhìn từ đại sảnh (thói quen thợ cơ quan: đứng nơi ít người thấy nhất khi cần nói chuyện riêng).
– Thẩm huynh.
Giọng ông khàn, kiểu giọng người ít nói suốt đêm rồi mở miệng, kiểu ống sáo lâu không thổi. Ông rút từ trong áo một tờ giấy. Nhỏ, gấp tư, giấy dầu (chống ẩm, vì cơ quan trong quán ẩm, giấy thường mục sau mười năm, giấy dầu giữ được hai mươi). Ông đặt lên bàn, trước mặt người mù, và nhấn ngón tay lên giấy hai lần (vì người mù không nhìn thấy, nhấn là cách nói "có vật ở đây").
Vô Thanh nghiêng đầu. Tay trái dịch trên mặt bàn, chạm mép giấy, rồi trượt lên bề mặt. Ngón tay đọc: giấy dầu, dày, gấp tư, mùi dầu tung cũ (mười năm trở lên), mực trên giấy khô, nét vẽ nhỏ, đường kẻ nhiều.
– Bản đồ, Vô Thanh nói. Không hỏi, vì ngón tay đã đọc.
– Toàn bộ hệ thống cơ quan trong quán, Chu Tuyết Sinh đáp. Giọng nhỏ, kiểu giọng nói riêng, kiểu giọng người đứng gần tường để tường hút âm thay vì để âm đi xa. Mười hai phòng, đại sảnh, tầng hầm, lối đi trong tường. Vị trí thuốc nổ. Vị trí dây kích hoạt. Vị trí ngòi tự động.
Ông dừng. Nuốt nước bọt, kiểu nuốt khô, vì ông chưa uống nước từ khi Lục Tri Thu phát hiện trà bị đầu độc.
– Và lối thoát khẩn cấp, ông nói.
Vô Thanh nghe nhịp Chu Tuyết Sinh: 65, đều, không tăng, không giảm. Ông nói thật. Bản đồ, cơ quan, lối thoát, tất cả thật. Và nhịp 65 khi nói "lối thoát khẩn cấp" không đổi, nghĩa là ông không lo khi tiết lộ, nghĩa là ông đã quyết định tiết lộ từ lâu, chỉ chờ đúng lúc.
– Lối thoát, Vô Thanh lặp lại. Tạ Hàn Sơn biết?
Chu Tuyết Sinh im nửa nhịp thở. Rồi:
– Không.
Nhịp 65. Thật.
– Tại sao? Vô Thanh hỏi.
– Vì ta xây thêm, Chu Tuyết Sinh đáp. Giọng chậm, kiểu giọng người giải thích cơ quan cho người không biết cơ quan, kiểu giáo viên quen dùng. Khi Tạ Hàn Sơn thuê ta thiết kế, ông ta nói: "Không ai ra được." Ta xây theo yêu cầu. Mười hai phòng, mỗi phòng một cơ quan giết, cổng trước tuyết lấp, cổng sau khóa Lục Diện Liên Hoàn. Không ai ra được. Nhưng ta thêm một thứ.
Ông chạm ngón tay lên tờ giấy, trượt đến góc phải dưới, nơi có đường vẽ mà Vô Thanh chưa sờ đến.
– Giếng cạn phía sau quán, ông nói. Giếng không cạn. Đáy giếng có nắp, nắp mở vào đường hầm thoát nước cũ, đường hầm dẫn ra sườn đèo phía tây, cách quán bốn trăm bước. Ta đào thêm hai mươi bước cuối cùng, nối vào đường hầm cũ, khi Tạ Hàn Sơn không ở quán. Mất ba đêm.
Ta biết giếng cạn. Dấu chân một chiều từ bếp đến giếng (Mạc Dạ nói). A Thất đi đến giếng qua cửa sổ bếp. Giếng không cạn, giếng có lối ra. A Thất biết. Tạ Hàn Sơn có thể biết (ông ta ở quán hai mươi năm, khó giấu). Nhưng Chu Tuyết Sinh nói Tạ Hàn Sơn không biết. Nhịp 65. Thật.
Hoặc Tạ Hàn Sơn biết mà Chu Tuyết Sinh không biết ông ta biết.
– Tại sao đưa cho ta? Vô Thanh hỏi.
Chu Tuyết Sinh nhìn người mù. Lâu. Mắt ông mở, không nheo, không tính toán, kiểu mắt người nhìn thẳng vào thứ mình đã quyết.
– Vì anh là người duy nhất không tìm cách thắng đêm nay, ông đáp.
Vô Thanh im. Không phải im vì không biết nói gì, mà im vì câu đó đúng theo cách anh chưa tự nhận ra. Mọi người trong phòng đều muốn thứ gì đó: Diệp muốn Mai Hoa Lệnh, Tạ Hàn Sơn muốn phán quyết, Bạch Tử Yên muốn chết, Mạc Dạ muốn sống, Lục Tri Thu muốn chuộc tội, Liễu Vô Âm muốn kết thúc, Tề Quan Hải muốn trốn. Anh muốn gì?
Anh muốn biết. Biết đêm thảm sát, biết cha mẹ, biết tại sao mình mù, biết tại sao ký ức bị xóa. Nhưng biết không phải thắng. Biết là mở hộp, thắng là chiếm hộp. Anh mở hộp mà không chiếm.
– Bần đạo không biết đêm nay kết thúc thế nào, Chu Tuyết Sinh tiếp tục. Giọng nhẹ hơn, kiểu gió tắt dần trước khi đổi hướng. Bần đạo thiết kế cơ quan giết người, không thiết kế kết thúc. Bản đồ này là thứ duy nhất bần đạo có thể đưa mà không phải lời nói dối, không phải lời biện hộ, không phải tội.
Ông rút tay khỏi giấy. Đứng thẳng lưng (cố, vì gối nhức), nhìn về phía đại sảnh, nơi tám người khác ngồi trong ánh sáng vàng sắc dần.
– Bần đạo có một lời xin, ông nói.
Vô Thanh chờ.
– Nếu có người cần ra ngoài, Chu Tuyết Sinh nói. Không phải trốn, mà ra ngoài. Thì dùng. Nếu không ai cần, đốt.
Vô Thanh gấp tờ giấy lại. Nhẹ, gấp theo nếp cũ, đặt vào trong áo, gần ngực, nơi chìa khóa thứ hai nằm trong cổ áo. Hai thứ trên người anh bây giờ: chìa khóa mở hộp sắt, và bản đồ mở lối ra. Một mở vào sự thật, một mở ra tự do. Và anh không biết cái nào nặng hơn.
– Ông thiết kế mười hai cơ quan giết, Vô Thanh nói. Giọng không khen, không chê, giọng ghi nhận. Rồi ông xây một lối sống. Tại sao?
Chu Tuyết Sinh cười. Lần đầu trong đêm. Cười nhẹ, kiểu cười người già, kiểu cười không vui không buồn mà mệt, kiểu nước chảy qua đá mòn.
– Vì bần đạo là thợ, ông đáp. Thợ xây chuồng cũng xây cửa. Chuồng không có cửa thì thợ cũng bị nhốt.
Ông quay lưng, bước về phía ghế, bước chân nặng hơn lúc đến (vì đã đặt xuống thứ mang hai mươi năm, lưng nhẹ hơn nhưng chân nặng hơn, kiểu cơ thể chưa quen nhẹ). Ngồi xuống, nhắm mắt, ngón tay bắt đầu bấm lại, kiểu bấm đếm, kiểu thợ cơ quan đếm ốc vít trong đầu khi không có ốc vít trong tay.
Người duy nhất không tìm cách thắng. Ông nói đúng hay sai? Ta muốn biết. Biết ai giết cha mẹ ta, biết tại sao ký ức bị xóa, biết giọng qua tường mỏng thuộc về ai. Nhưng biết không phải thắng. Biết có thể là thua, nếu câu trả lời là thứ ta không muốn nghe.
Giọng qua tường. Nhịp giống ta. Cách đặt câu giống ta. Nếu giọng đó là cha ta, thì cha ta ra lệnh giết nhân chứng. Nếu giọng đó là người dạy ta (Tạ Hàn Sơn), thì ông ta ra lệnh giết nhân chứng. Cả hai đều là thứ ta không muốn nghe.
Nhưng ta muốn biết.
Đồng hồ nước nhỏ giọt. Ánh sáng vàng chạm giữa bàn, sắc, kiểu ánh sáng trưa gần. Và trong áo Vô Thanh, tờ giấy dầu gấp tư nằm cạnh chìa khóa đồng, hai thứ mỏng và lạnh, hai lối đi mà anh chưa biết sẽ chọn lối nào.