Đêm Nay Không Ai Được Rút Kiếm
Chương 110: Người Giữ
Chương 110

Người Giữ

Thẩm Vô Thanh nghe sàn.

Không phải bằng tai, bằng chân. Bằng cách mỗi bước đi đặt xuống và cảm nhận phản hồi từ bề mặt: đất cứng hay mềm, chỗ bụi dày hay mỏng, chỗ nào có vật gì nằm phía dưới làm thay đổi âm vang.

Ông đứng ở giữa phòng xử án và di chuyển từng bước, không vội, không theo hướng cụ thể, chỉ đi và nghe.

Người đạo sĩ già đã nói về vệt chân trong kho chứa: cũ, nhiều lần, hướng từ cửa đến tường phải đến ổ khóa số sáu. Người đạo sĩ già nhìn bằng mắt và mô tả lại. Ông không có mắt, nhưng ông có hai mươi năm luyện cách đọc sàn.

Ông bước ra khỏi phòng xử án, qua khe tường mà người đạo sĩ già vừa mở, vào kho chứa.

Sàn kho chứa: bụi dày, nhưng bị xáo động theo những đường mà ông cảm nhận được qua đế giày, lớp bụi mỏng hơn ở một số chỗ, dày hơn ở chỗ khác, theo kiểu có người đi nhiều lần trên cùng một đường.

Ông đứng yên và để chân cảm nhận.

Đường đi chính: từ cửa đến tường phải, hướng đi khá hẹp, người đi biết mình đang đi về đâu, không dò dẫm. Chiều rộng vệt bụi mỏng: không lớn hơn một bàn chân nhỏ.

Bàn chân nhỏ, ông ghi nhận. Và cách đặt chân: mũi bàn chân trước, gót chân sau, người quen đi nhẹ, quen đi theo kiểu không gây tiếng động.

Ông bước theo đường mòn bụi đó, từng bước thật chậm, để chân trùng vào vị trí người đi nhiều lần đã đặt. Ông không thể nhìn, nhưng ông có thể đi. Và khi đi trên con đường của người khác, cơ thể học được những gì mà mắt không nhìn được.

Người này đi vào phòng tối mà không chậm lại, tốc độ bước chân không giảm từ cửa đến tường, không có nhịp dò dẫm của người không quen với không gian. Người này biết chính xác khoảng cách từ cửa đến tường phải là bao nhiêu bước, biết ổ khóa nào ở đâu trên tường mà không cần sờ tìm.

Người đã đến đây đủ nhiều lần để nhớ trong bóng tối.

Kho chứa này không có cửa sổ, không có khe thông gió đủ lớn để ánh sáng lọt qua. Người đi vào đây hoặc mang theo đèn, hoặc không cần đèn.

Ông đứng trong kho chứa thêm một lúc, không tính toán, chỉ để cơ thể hoàn tất việc đọc những gì sàn đang nói. Rồi ông quay về phòng xử án, đi qua khe tường, và bước lại đúng chỗ mình đã đứng trước khi vào kho, trước bàn đá, hai ngón tay đặt lên vòng lõm hình tròn, nghe nhịp tim ba người còn lại.

Ông quay lại phòng xử án.

– Vệt chân trong kho chứa, người đạo sĩ già nói là cũ. Cũ bao lâu?

Người đạo sĩ già: – Không biết chính xác. Không phải đêm nay. Trước đó.

– Một lần hay nhiều lần?

– Vệt trùng nhau. Nhiều lần qua cùng một đường.

Thẩm Vô Thanh quay về phía cửa phòng xử án, phía cầu thang, phía tầng trên. Ông nghe nhịp tim trong phòng: bốn người, nhịp bình thường. Không nghe nhịp thứ năm từ tầng trên.

– Ai đi xuống đây nhiều lần mà không để lại dấu vết ở chỗ khác, Mạc Dạ nói, không phải câu hỏi, giọng người đang nghĩ thành tiếng.

– Người biết đường xuống, Lục Tri Thu nói. Người không cần đèn để tìm đường.

Thẩm Vô Thanh: – Hoặc người quen đến mức không cần đèn.

Phòng im lặng.

Ông nghĩ về A Thất.

Không phải nghĩ theo nghĩa suy luận, hình ảnh đến trước: A Thất đứng ở góc phòng khách sạn lúc ông vừa đặt chân xuống, như người đã đứng đó một lúc trước khi ông nhận ra. A Thất rót trà và không nhìn ông nhưng biết chính xác ông đang nhìn về hướng nào. A Thất hỏi ông có khỏe không theo kiểu người hỏi vì lịch sự nhưng đã biết câu trả lời trước khi hỏi.

Bao nhiêu năm ông quan sát A Thất?

Mười lăm năm, từ khi người ta đưa cô bé mười hai tuổi đến trước cửa, nói đây là người giúp việc mà ông sẽ nhận, và cô bé đứng thẳng lưng theo cách trẻ con không thể tự học mà phải được dạy.

Ai dạy?

Ông không hỏi. Trong mười lăm năm, ông không hỏi một câu về gốc gác của A Thất.

Nhưng ông quan sát.

Cô bé đứng đúng cự ly khi người khác nói chuyện, không quá gần để nghe thấy nội dung nhạy cảm, nhưng đủ gần để biết khi nào người ta cần thứ gì. Cô bé ghi nhớ lịch của ông không phải bằng cách hỏi mà bằng cách nghe ông nói chuyện với người khác. Cô bé bước vào phòng tối không cần đèn dẫn đường, từ năm mười hai tuổi, khi hầu hết trẻ con còn sợ bóng tối.

Người ta không dạy những thứ đó bằng lời. Người ta dạy bằng cách sống trong môi trường mà những kỹ năng đó cần thiết để tồn tại.

A Thất đã sống trong môi trường nào trước khi đến với ta?

Ông không hỏi. Trong mười lăm năm, ông không hỏi một câu về gốc gác của cô.

Ta đã không hỏi vì ta không muốn biết, ông nhận ra. Hoặc vì ta đã biết một phần và không muốn xác nhận.

– Cần ai đó lên lấy chìa khóa, Mạc Dạ nói.

– Tôi đi, Lục Tri Thu nói. Tôi biết chìa khóa đặt ở đâu.

– Không phải chỉ lấy chìa khóa, Thẩm Vô Thanh nói. Cần đưa A Thất xuống đây.

Căn phòng thay đổi nhiệt độ theo kiểu không khí thay đổi: bốn người cùng ngừng thở khoảng một nhịp, sau đó thở lại bình thường nhưng theo nhịp khác với trước.

Người đạo sĩ già không cử động.

Diệp Cô Thành: – Căn cứ vào đâu?

– Căn cứ vào bàn chân. Căn cứ vào ổ khóa trong kho chứa, mười hai ổ, cùng thợ rèn với hộp gỗ trong phòng này. Căn cứ vào ghi chú của Trần Ngọc Lam: "Bản ghi này sẽ đến tay người phụ tá đó vào đúng thời điểm."

Đúng thời điểm.

– Mười lăm năm trước, ai đó đưa A Thất đến cho tôi, ông nói tiếp. Không tên, không lý do, chỉ nói đây là người giúp việc. Tôi nhận. Tôi không hỏi.

Diệp Cô Thành im lặng theo kiểu hắn im lặng khi đang ghép mảnh.

– Trần Ngọc Lam chết trong thảm sát Bắc Sơn, hắn nói. Nhưng không có nghĩa bà ấy không dặn dò ai đó trước khi chết.

– Đúng.

– Người được dặn dò đó, sau mười lăm năm, đưa người đến cho ông.

– Đúng.

Lục Tri Thu bước đến cửa phòng xử án, dừng lại, quay đầu:

– Tôi lên lấy cả hai.

Ông không giải thích thêm, không cần. Ông bước qua cửa và tiếng bước chân trên cầu thang đá bắt đầu vang lên, hai mươi bảy bậc, đều đặn theo nhịp người quen leo cao.

Thẩm Vô Thanh đứng giữa phòng xử án và nghe cho đến khi tiếng bước chân biến mất ở bậc thứ mười bốn, chỗ cầu thang cong và không còn dẫn thẳng âm thanh xuống dưới nữa.

Còn lại bốn người trong phòng.

Người đạo sĩ già đứng ở góc cũ của ông, bàn tay vẫn đặt trên cạnh kệ. Diệp Cô Thành ngồi xuống trước bàn đá với cuộn biên bản phiên thứ năm vẫn mở. Mạc Dạ dựa lưng vào tường và nhìn lên trần không phải vì trần có gì thú vị mà theo kiểu người cần một điểm cố định để mắt dừng lại khi đang nghĩ.

Diệp Cô Thành, không nhìn lên khỏi cuộn biên bản:

– A Thất bao nhiêu tuổi?

– Hai mươi bảy.

– Mười lăm năm trước, bà ấy mười hai tuổi. Ai đó giao một đứa trẻ mười hai tuổi làm người giữ thông tin của Trần Ngọc Lam.

Hắn không nói thêm gì. Không cần.

Thẩm Vô Thanh: – Trần Ngọc Lam chết trước khi A Thất đến với tôi năm năm. Trong năm năm đó, ai giữ A Thất?

Không ai biết. Hoặc người biết đang đứng ở góc phòng và chọn không trả lời.

Người đạo sĩ già: nhịp tim sáu mươi ba. Không thay đổi khi câu hỏi được đặt ra.

Ông biết, Thẩm Vô Thanh nhận ra. Nhưng ông sẽ không nói cho đến khi A Thất tự nói. Ông giữ phần câu chuyện của người khác, không tiết lộ thay họ.

Hai mươi năm ông ta đã như vậy. Giữ phần câu chuyện của người khác. Khai trước hội đồng phần câu chuyện của chính mình và giữ yên phần còn lại. Không phải che giấu, phần còn lại không phải của ông để mà kể.

Thẩm Vô Thanh nghe nhịp tim ba người còn lại.

Người đạo sĩ già: sáu mươi ba. Sáu mươi ba. Sáu mươi ba.

Ông biết, ông nghĩ. Từ đầu đêm, hoặc từ trước đêm nay. Ông biết A Thất là ai và không nói.

Không phải che giấu, người đạo sĩ già không có kiểu im lặng của người che giấu. Ông có kiểu im lặng của người đang đợi đúng thời điểm để nói.

Đúng thời điểm.

Cụm từ đó xuất hiện hai lần trong đêm nay: một lần trong ghi chú của Trần Ngọc Lam, một lần trong suy nghĩ của chính ông. Không phải ngẫu nhiên. Cả cụm từ lẫn việc nó xuất hiện đều không phải ngẫu nhiên.

Trần Ngọc Lam đã chờ đúng thời điểm và không sống đến ngày đó. Người đạo sĩ già đã chờ đúng thời điểm trong hai mươi năm. A Thất, nếu suy luận của ông đúng, đã chờ mười lăm năm đứng ở góc phòng và rót trà và không hỏi câu nào về quá khứ của ông.

Và đêm nay, với mười người tụ lại trong một quán trọ tuyết phủ và Tạ Hàn Sơn ngồi trên lầu với nến và chuỗi ngọc và thứ gì đó ông đang đợi xảy ra, đêm nay là đúng thời điểm.

Tiếng bước chân trên cầu thang: không phải một người. Hai người. Nhịp khác nhau, một nhịp nặng hơn và chậm hơn của Lục Tri Thu, một nhịp nhẹ và đều của người quen leo cầu thang tối mà không cần đèn.

Thẩm Vô Thanh quay về phía cửa.

A Thất bước vào phòng xử án trước Lục Tri Thu, tay cầm đèn dầu nhỏ mà bà mang xuống, không phải lấy đèn từ tầng trên mà đã cầm sẵn khi Lục Tri Thu lên đến nơi. Như người đã chuẩn bị trước khi được gọi.

Bà đứng ở ngưỡng cửa và nhìn về phía ông.

Không ngạc nhiên khi thấy căn phòng. Không nhìn quanh như người lần đầu tiên vào một chỗ mới. Mắt bà không dừng lại ở bàn đá, không dừng lại ở kệ hồ sơ, không dừng ở hộp gỗ ba chốt.

Mắt bà biết tất cả những thứ đó đang ở đâu.

Bởi vì bà đã ở đây rồi. Nhiều lần. Đủ nhiều lần để không cần nhìn mà vẫn biết.

Thẩm Vô Thanh nghe nhịp tim bà: năm mươi tám. Bình thường của bà. Không lo, không sợ, không căng thẳng, nhịp của người vừa làm xong một đoạn đường dài và đến nơi cần đến.

– A Thất, ông nói.

– Dạ.

– Ổ khóa số sáu trong kho chứa.

Bà không hỏi ổ khóa số sáu là gì. Bà không hỏi kho chứa ở đâu. Bà đặt tay vào trong lớp áo ngoài và lấy ra một vật nhỏ bằng đồng, đặt xuống mép bàn đá.

Không phải chìa khóa đồng mà Lục Tri Thu đã đặt xuống cạnh nó, cũng không phải.

Một chùm chìa. Sáu chiếc, nối với nhau bằng vòng đồng nhỏ, mỗi chiếc có hình dạng khác nhau.

Chìa khóa thứ tư trong chùm: phù hợp với ba chốt trên hộp gỗ.

Chìa khóa thứ sáu: hình dạng mà người đạo sĩ già, đứng ở góc phòng, nhận ra khi nhìn vào, cùng kiểu với ổ khóa trong kho chứa.

Không ai hỏi bà lấy chìa ở đâu. Không ai hỏi từ bao giờ bà có chùm chìa này. Không ai hỏi bà đã xuống đây bao nhiêu lần.

Mạc Dạ, dựa tường, nhìn bà một lúc theo kiểu đánh giá không có phán xét:

– Bà được giao việc từ bao giờ?

A Thất đặt chùm chìa xuống bàn đá theo kiểu người đặt một vật đã mang lâu và cuối cùng được đặt xuống đúng chỗ. Bà không vội trả lời.

– Từ trước khi tôi biết đó là việc gì, bà nói. Người ta dạy tôi những thứ cần biết và nói khi nào cần dùng thì tôi sẽ hiểu.

Thẩm Vô Thanh nghe nhịp tim bà: vẫn năm mươi tám. Không thay đổi khi nói.

Bà nói thật, ông nghĩ. Bà không biết hoàn toàn từ đầu, bà chỉ biết từng phần khi đến đúng thời điểm cần biết.

Trần Ngọc Lam đã thiết kế điều đó. Không trao toàn bộ thông tin cho một người, trao từng phần, đúng lúc, theo thứ tự mà người nhận sẽ hiểu được khi đến đúng chỗ.

Đêm nay là đúng chỗ.

Ổ khóa trong kho chứa, ổ số sáu, có vật bên trong, và người giữ chìa đã đứng tầng trên trong suốt đêm nay, chờ được gọi xuống đúng lúc bốn người kia vừa đặt câu hỏi đúng.

Ch.110/110
2.332 từ