Tầng 19 Không Tồn Tại
Chương 85: Chương 75: Lão Đã Thấy Nó Nuốt Người
Chương 85

Chương 75: Lão Đã Thấy Nó Nuốt Người

Ba giờ sáng, điện thoại Duy rung.

Không phải tin nhắn. Cuộc gọi. Số Tùng (số duy nhất Duy lưu bằng tên đầy đủ, kiểu lưu mà người ta lưu số bệnh viện hoặc số cứu hỏa: không gọi bao giờ, nhưng phải có). Duy nhấc máy.

– Xuống sảnh. Mang theo cái máy quay.

Rồi tắt. Không chào. Không giải thích. Kiểu Tùng.

Duy ngồi dậy. Ly nước trên bàn vẫn đầy từ đêm qua (anh không uống, không đổ, để nguyên, kiểu bằng chứng mà anh không muốn phá hủy dù chẳng biết nó chứng minh điều gì). Quạt quay trên trần, chậm, chậm hơn hôm qua (anh biết dù không đếm, kiểu biết mà da biết). Hành lang ngoài cửa: nhịp thở mười lăm giây.

Duy lấy điện thoại. Đèn pin. Dép. Không lấy máy quay (kiểu không lấy mà có chủ ý, vì đoạn quay giờ không quan trọng bằng mắt thấy, kiểu mắt mà mắt nhìn kiểu tầng 19 nhìn, nhưng ít nhất mắt anh thấy Tùng mờ trên ống kính thì mắt thường chắc chắn thấy rõ hơn, kiểu rõ mà tương đối).

Mở cửa. Hành lang. Đèn nhấp nháy (bóng đèn cuối hành lang đã tắt hẳn từ tuần trước, kiểu tắt mà không ai thay vì không ai để ý, kiểu không ai mà cư dân tầng 18 bây giờ không để ý gì cả). Sàn: bước chân đều, nhịp mười lăm giây. Duy đi qua các cửa phòng. Đóng. Im. Thở.

Thang máy. Gương cabin: Duy nhìn vào. Tay phải: bốn ngón. Ngón út không còn. Cổ tay bên phải nhạt hơn bên trái. Mặt: rõ, nhưng viền tai mờ. Kiểu mờ mà biên giới giữa mặt và nền đang hòa vào nhau.

Tầng trệt. Sảnh. Đèn vàng. Tùng.

Ông đứng trước quầy bảo vệ, không ngồi. Chiếc máy phát trên bàn: tắt. Đèn bàn chiếu lên mặt ông. Trên tay ông: ấm trà nhỏ, men nứt, kiểu men mà cũ hơn tòa nhà. Hai cái chén sứ trắng đặt trên quầy. Ông rót trà. Tay run.

Duy nhìn tay Tùng. Lần đầu tiên thấy Tùng run. Ba mươi năm, ông ngồi sảnh chung cư, tay gõ bàn, xoay radio, mở khóa, đóng cửa, không run bao giờ (kiểu không run mà vững, kiểu vững mà đá). Hôm nay: run. Nhẹ. Nhưng rõ.

– Ngồi, Tùng nói.

Duy ngồi lên ghế nhựa đỏ. Tùng đẩy chén trà về phía anh. Trà nóng. Mùi lá sen (kiểu lá sen mà khô, kiểu khô mà mùi ao hồ cũ, kiểu ao hồ mà không biết ao nào, ở đâu, bao giờ). Duy không uống. Tùng cũng không.

Im lặng. Hai phút. Ba phút. Đèn nhấp nháy. Radio tắt nhưng Duy nghe tĩnh, kiểu tĩnh mà nhỏ, từ bên trong máy, kiểu bên trong mà chiếc máy tự phát dù không bật.

– Cậu hỏi lão ở đây bao lâu, Tùng nói. Giọng thấp. Chậm hơn mọi khi. Kiểu chậm mà cân nhắc từng từ. Lão nói: lâu. Nhưng lão chưa nói lâu là bao lâu. Chưa nói vì sao.

Duy nhìn ông, chờ.

Tùng nhìn ấm trà. Ngón tay vuốt viền chén, run nhẹ.

– Ba mươi năm trước, ông nói. Chung cư mới xong. Lão là bảo vệ đầu tiên. Đêm đầu tiên có cư dân dọn vào.

Ông dừng. Nhìn Duy. Mắt đục. Sâu. Kiểu sâu mà ba mươi năm nhìn cùng một sảnh, cùng một thang máy, cùng một hành lang.

– Đêm đó, thang máy hiện số mười chín.

Duy im lặng, nghe.

– Lão nhìn thấy, Tùng nói. Bảng nút sáng: 1, 2, 3... 18. Rồi 19. Không phải nút bấm thêm. Kiểu hiện mà xuất hiện trên mặt kim loại, kiểu xuất hiện mà sáng nhẹ, kiểu sáng mà phát quang, số 19 tự hiện lên chỗ trước đó chỉ có kim loại trơn.

Tùng uống trà. Tay run. Chén chạm môi. Hớp nhỏ.

– Gia đình đầu tiên. Bốn người. Vợ chồng, hai đứa con nhỏ. Dọn vào tầng 15, phòng 1502. Lão nhớ tên: Nguyễn Văn Phúc. Vợ là Trần Thị Hoa. Con trai lớn tên Hùng, con gái nhỏ tên Mai. Sáu tuổi và ba tuổi.

Duy nhìn Tùng. Ông nói tên, tuổi, số phòng. Kiểu nói mà thuộc lòng. Kiểu thuộc lòng mà ba mươi năm vẫn nhớ.

– Đêm thứ hai, ông nói. Lão nghe tiếng thang máy chạy lúc ba giờ sáng. Giống cậu nghe. Đúng. Không khác. Cũng ba giờ, cũng cabin trống, cũng đèn nhấp nháy.

Ông dừng lại. Mắt nhìn xuống bàn. Ngón tay gõ mặt gỗ, gõ đều, kiểu đếm.

– Sáng hôm sau: phòng 1502 trống. Sạch. Kiểu sạch mà chưa ai ở, kiểu chưa ai mà sơn mới, gạch mới, cửa mới, không dấu vết. Ban Quản Lý hỏi lão: phòng 1502 có ai dọn vào chưa? Lão nói: có, gia đình bốn người, hôm qua. Họ nhìn lão như lão nói chuyện với không khí.

Giống. Giống bà Nguyệt nói chuyện với cô Hương. Giống đoạn quay ghi tôi nói chuyện một mình với An. Giống tất cả.

– Không ai nhớ, Tùng nói. Hợp đồng không có. Hồ sơ không có. Phòng 1502 luôn trống. Lão hỏi bảo vệ ca ngày: anh Phúc tầng 15 đâu rồi? Ông ta nhìn lão: ai? Không ai tên Phúc ở đây.

Tùng đặt chén trà xuống. Nhìn Duy.

– Bốn người. Hai người lớn, hai đứa con. Biến mất trong một đêm. Không ai nhớ. Không dấu vết. Như chưa bao giờ tồn tại.

– Nhưng chú nhớ, Duy nói.

– Lão nhớ, Tùng nói. Giọng phẳng. Kiểu phẳng mà đã nói câu này trong đầu hàng ngàn lần. Lão nhớ hết. Từ người đầu tiên đến người cuối cùng. Từ tên, tuổi, phòng, ngày biến mất. Lão nhớ hết.

– Vì sao chú nhớ? Duy hỏi.

Tùng im. Mười giây. Hai mươi giây. Ngón tay gõ bàn, chậm.

– Lão không biết, ông nói. Kiểu không biết mà thật sự không biết, kiểu thật sự mà ba mươi năm tự hỏi, kiểu tự hỏi mà không có câu trả lời. Lão không bị xóa. Lão không bị thay thế. Lão ở giữa, kiểu giữa mà cậu biết rồi. Nhưng tại sao giữa? Lão không biết.

Duy nhìn bóng Tùng trên sàn. Mỏng. Kiểu mỏng mà nếu đèn tắt thì bóng cũng tắt theo, kiểu tắt mà không còn gì để chứng minh Tùng từng đứng ở đó.

– Lão đã thấy nó nuốt người, Tùng nói. Giọng thay đổi. Không phải thấp hơn. Mà nặng hơn. Kiểu nặng mà từng chữ rơi xuống bàn gỗ. Không phải nuốt bằng miệng. Kiểu nuốt mà khiến mọi người quên. Kiểu quên mà người đó chưa bao giờ tồn tại. Mà không phải quên nữa. Kiểu sửa. Sửa thế giới. Sửa ký ức. Sửa tòa nhà. Sửa giấy tờ. Sửa ảnh. Sửa đoạn quay. Sửa mọi thứ ngoại trừ lão.

Ngoại trừ ông. Và ngoại trừ tôi. Và An.

– Sau gia đình đầu tiên, Tùng nói, lão nghĩ mình mơ. Một tuần sau: thêm hai người. Tầng 8. Rồi một người tầng 3. Rồi ba người tầng 12. Mỗi lần: đêm, thang máy, biến mất, không ai nhớ. Lão bắt đầu ghi.

Tùng đứng dậy. Chậm. Lưng còng. Ông bước về phía quầy bảo vệ, mở ngăn kéo dưới cùng. Ngăn kéo cũ, gỗ trầy, khóa bằng chìa nhỏ (chìa treo ở cổ ông, Duy chưa bao giờ thấy trước đây, kiểu chưa thấy mà chìa giấu trong áo, kiểu giấu mà ba mươi năm). Ông rút ra một cuốn sổ.

Sổ bìa cứng. Đen. Gáy dán lại nhiều lần. Bìa mòn, góc cong, kiểu cong mà bàn tay cầm hàng ngàn lần. Tùng đặt sổ lên quầy, đẩy về phía Duy.

– Mở đi, ông nói.

Duy cầm cuốn sổ. Nặng hơn trông. Kiểu nặng mà giấy dày, nhiều trang, kiểu nhiều mà ba mươi năm ghi. Anh mở trang đầu.

Chữ viết tay. Bút bi xanh. Nét chữ Tùng: nghiêng phải, gọn, kiểu gọn mà người viết không viết vì muốn mà vì phải.

Nguyễn Văn Phúc, P.1502, T15, 4 người (vợ: Trần Thị Hoa, con: Hùng 6t, Mai 3t) — Đêm 2/9/1994, Biến mất. Sáng 3/9: phòng trống. Không ai nhớ.

Dòng đầu tiên. Duy lật trang.

Trần Công Minh, P.808, T8, 1 người, 9/9/1994

Lê Thị Bảy, P.805, T8, 1 người, 9/9/1994

Hoàng Đức Thắng, P.309, T3, 1 người, 16/9/1994

Gia đình Vũ, P.1204, T12, 3 người, 23/9/1994

Duy lật. Lật. Lật. Mỗi trang: tên, phòng, tầng, số người, ngày. Có trang ghi thêm ghi chú ngắn: "mắt không chớp 2 ngày trước biến mất", "TV phòng phát tĩnh suốt đêm", "con gái kể thấy cô bé áo đỏ trong thang máy". Có trang chỉ có tên và ngày. Có trang mực nhòe, kiểu nhòe mà nước, kiểu nước mà mưa hoặc kiểu nước mà mắt.

Hơn hai trăm tên. Ba mươi năm. Hơn hai trăm người biến mất khỏi tòa nhà này, và chỉ một người nhớ.

Duy dừng ở trang 47. Ghi chú dài hơn bình thường:

Đinh Quốc Bảo, P.1103, T11, 1 người, kỹ sư điện, 15/3/2011

Phát hiện tầng 19. Lắp camera riêng ở hành lang tầng 18. Đo EMF. Ghi chép. Đến phòng bảo vệ nói chuyện với lão 3 đêm liên tiếp. Lão cảnh báo: đừng tiếp tục. Ông ta không nghe. Đêm thứ tư: biến mất. Phòng 1103 sạch. Thiết bị ông ta lắp biến mất theo. Không ai nhớ.

– Kỹ sư điện, Duy nói. Nhìn Tùng.

– Ông ta giống cậu, Tùng nói. Tay khoanh trước ngực. Nhìn về phía thang máy. Kiểu nhìn mà nhìn thang máy nhưng thấy thứ khác, kiểu thấy mà mười lăm năm trước, đêm mà ông ta biến mất. Tò mò. Gan. Lắp camera, đo cường độ điện từ, ghi sổ. Ba đêm liên tiếp đến đây hỏi lão. Lão nói: dừng lại. Ông ta cười, nói: kiểu cười mà tôi là kỹ sư, tôi giải quyết vấn đề bằng dữ liệu.

Tùng im. Nhìn Duy.

– Đêm thứ tư, ông ta đi vào thang máy lúc 3:33. Lão nhìn trên màn hình. Ông ta bấm nút, thang máy đi lên. Tín hiệu mất. Sáng: phòng trống. Ông ta không tồn tại.

Giống. Tò mò. Điều tra. Quay phim. Ghi chép. Giống tôi. Mười lăm năm trước đã có người giống tôi, và người đó đã biến mất.

– Bao nhiêu người phát hiện tầng 19? Duy hỏi.

Tùng giơ hai ngón tay. Run.

– Hai. Ông Bảo. Và cậu.

– Trong ba mươi năm.

– Trong ba mươi năm. Tùng gật. Kiểu gật mà nặng. Hơn hai trăm người biến mất. Hai người phát hiện. Một người đã bị nuốt.

Còn lại tôi.

Duy nhìn cuốn sổ. Lật tiếp. Sau trang kỹ sư Bảo: thêm tên. Thêm phòng. Thêm ngày. Mỗi trang là một người hoặc một gia đình mà thế giới đã quên. Mỗi dòng là bằng chứng duy nhất rằng họ từng tồn tại, viết bằng bút bi xanh trên giấy ố vàng, trong cuốn sổ bìa đen khóa trong ngăn kéo phòng bảo vệ chung cư Thanh Vân.

Duy lật đến trang cuối.

Tên cuối cùng. Mực xanh nhạt hơn, kiểu nhạt mà viết gần đây, kiểu gần mà ba năm trước. Nét chữ run hơn các trang trước. Duy đọc:

Lê Khánh An, Cửa hàng tiện lợi tầng trệt, 1 người, 14/7/2023

Bên cạnh tên, dòng ghi chú. Khác mọi dòng ghi chú trước đó. Không phải "biến mất" hay "phòng trống" hay "không ai nhớ". Mà:

Đã trả về. Nhưng không hoàn toàn.

Duy nhìn dòng chữ. Đọc lại. Đọc lần ba.

Đã trả về. Nhưng không hoàn toàn.

– Trả về là gì? Duy hỏi. Giọng đều. Nhưng tay cầm sổ: run. Nhẹ. Kiểu run mà bắt đầu hiểu điều gì đó mà chưa muốn hiểu hết.

Tùng nhìn Duy. Lâu. Mắt đục. Sâu. Kiểu nhìn mà cân nhắc nói hay không nói. Ba giây. Năm giây.

– Cô bé đó chết đuối, Tùng nói. Mười hai tuổi. Ngày mười bốn tháng bảy. Không phải ở chung cư. Ở ngoài. Hồ bơi, sông, lão không rõ. Nhưng cô bé chết. Và ba năm trước, cô bé xuất hiện ở cửa hàng tiện lợi tầng trệt. Kiểu xuất hiện mà đột ngột, kiểu đột ngột mà hôm trước không có, hôm sau có, nhân viên nói cô ấy làm ở đây lâu rồi.

An. An chết đuối năm mười hai tuổi. Tỉnh dậy ở cửa hàng tiện lợi. Nói mình làm ở đây ba năm nhưng không ai thuê. Tôi biết chuyện này. An kể rồi.

– Tầng 19 nuốt người, Tùng nói. Nhưng đôi khi, nó trả lại. Kiểu trả mà nhổ ra. Kiểu nhổ mà không nuốt được. Cô bé An: tầng 19 nuốt, ba năm sau nhổ ra ở tầng trệt. Nhưng không hoàn toàn. Kiểu không hoàn toàn mà cậu thấy: không bóng, không chớp mắt, trong suốt dưới đèn, ống kính ghi mờ.

– Cô ấy không bị nuốt, Duy nói. Cô ấy chết trước. Rồi xuất hiện ở đây.

– Đúng, Tùng nói. Kiểu đúng mà đó là vấn đề. Tầng 19 nuốt người sống. Nhưng cô bé An không sống khi bị nuốt. Cô bé đã chết. Tầng 19 nuốt xác, hoặc linh hồn, hoặc ký ức, hoặc cái gì đó lão không có từ để gọi. Rồi nhổ ra. Nhưng cái nhổ ra không giống cái nuốt vào. Kiểu nhổ mà trả một phần, giữ một phần.

Đã trả về. Nhưng không hoàn toàn. An là phần được trả. Phần còn lại vẫn ở trong tầng 19.

Duy nhìn cuốn sổ. Hơn hai trăm tên. Bao nhiêu người được "trả về"? Bao nhiêu người vẫn ở trong tầng 19, trong hành lang trắng, trong thành phố xám, nấu cơm mãi mãi, xem TV mãi mãi, đi bộ mãi mãi?

– Chú ghi bao nhiêu người? Duy hỏi.

– Hai trăm lẻ ba, Tùng nói. Không cần mở sổ. Kiểu không cần mà thuộc lòng, kiểu thuộc lòng mà mỗi tên là một đêm ông nhìn phòng trống lúc sáng.

– Ai được trả về?

– Một, Tùng nói. Chỉ An. Trong ba mươi năm. Hai trăm lẻ ba người. Một người được trả về.

Im lặng. Đèn sảnh nhấp nháy. Chiếc máy phát trên bàn rì tĩnh rất nhỏ, kiểu nhỏ mà phải im mới nghe, kiểu im mà ba giờ sáng sảnh chung cư Thanh Vân.

Duy gấp sổ. Đặt lên bàn. Nhìn Tùng.

– Tại sao chú nói hôm nay? Anh hỏi. Ba mươi năm im. Tại sao bây giờ?

Tùng nhìn Duy. Tay ông không run nữa. Kiểu không run mà đã nói xong, kiểu nói xong mà nhẹ hơn một chút, kiểu nhẹ mà vẫn nặng nhưng bớt hơn.

– Vì cậu sắp biến mất, Tùng nói. Giọng phẳng. Kiểu phẳng mà sự thật. Quạt phòng cậu chậm dần. Gương mờ cậu dần. Tay cậu nhạt dần. Cậu đang bị kéo vào. Kiểu kéo mà chậm, kiểu chậm mà không dừng được.

– Bao lâu nữa?

Tùng nhìn xuống chén trà. Trà đã nguội. Mặt trà phẳng, phản chiếu đèn vàng.

– Ông Bảo: ba tuần từ lúc phát hiện đến lúc biến mất. Cậu: đã hơn một tháng. Cậu dai hơn. Kiểu dai mà sai lệch, kiểu sai lệch mà tầng 19 khó nuốt hơn. Nhưng không phải không nuốt được. Kiểu không phải mà vấn đề thời gian.

Duy nhìn tay mình. Tay trái: năm ngón, rõ. Tay phải: bốn ngón rõ, cổ tay nhạt. Dưới đèn sảnh, viền ngón giữa bên phải cũng bắt đầu mờ. Hôm qua chưa mờ. Hôm nay: mờ.

Nhanh hơn. Mỗi ngày nhanh hơn.

– Lão nói hôm nay vì nếu không nói hôm nay, có thể không còn ai để nói, Tùng nói. Ông đứng dậy. Lấy cuốn sổ. Đặt lại vào ngăn kéo. Khóa. Chìa giấu trong áo.

Duy ngồi im. Nhìn quầy bảo vệ. Nhìn chiếc máy phát trên bàn. Nhìn Tùng.

– Chú có biết cách dừng lại không? Anh hỏi.

Tùng nhìn Duy. Mắt đục. Ba mươi năm.

– Không, ông nói. Kiểu không mà thật sự không, kiểu thật sự mà ba mươi năm tìm cách và không tìm được. Lão đã thử. Lão đã thử đóng cửa. Thử phá thang máy. Thử cắt điện. Thử đổ bê tông tầng hầm. Không gì dừng được nó. Nó không ở trong thang máy. Nó không ở tầng 19. Nó ở trong tòa nhà. Nó là tòa nhà.

Nó là tòa nhà. Tòa nhà thở. Tòa nhà nuốt. Tòa nhà sửa. Tòa nhà là tầng 19 và tầng 19 là tòa nhà.

Tùng đi về phía cầu thang bộ. Dừng lại. Quay lại nhìn Duy.

– Cậu giống ông Bảo, ông nói. Tò mò. Gan. Không sợ đúng chỗ. Nhưng cậu khác ông Bảo một điều: cậu là sai lệch. Ông Bảo không phải. Ông Bảo là người thường phát hiện điều bất thường, kiểu phát hiện mà xui. Cậu: cậu thuộc về nơi này. Kiểu thuộc mà tầng 19 biết cậu, kiểu biết mà từ trước khi cậu dọn vào.

– Kiểu thuộc mà tôi không chọn, Duy nói.

– Kiểu thuộc mà không ai chọn, Tùng nói. Rồi ông đi. Dép lê kéo trên gạch men. Lưng còng. Bóng mỏng trên sàn, kiểu mỏng mà nếu không nhìn kỹ thì Tùng chỉ là một ông già đi trong sảnh lúc ba giờ sáng, không có gì bất thường, không có gì để nhớ.

Duy ngồi một mình trong sảnh. Chén trà nguội trên quầy. Đèn nhấp nháy. Máy phát rì tĩnh rất nhỏ.

Hai trăm lẻ ba người. Ba mươi năm. Một người được trả về. Hai trăm lẻ hai người vẫn ở bên trong. Bên trong tầng 19. Bên trong tòa nhà. Bên trong cái gì đó mà Tùng không có từ để gọi.

Và tên cuối cùng trong sổ: Lê Khánh An. Đã trả về. Nhưng không hoàn toàn.

Phần nào của An chưa được trả? Phần nào vẫn ở bên trong? Và phần đang ở cửa hàng tiện lợi, phần đang ở hành lang trắng tầng 19, phần nào mới là An thật?

Duy đứng dậy, đi về phía thang máy. Bấm nút, đợi. Cabin xuống, cửa mở. Gương cabin: anh nhìn vào. Mặt mờ hơn sáng nay. Viền tai phải gần biến mất. Cổ tay phải nhạt bệch.

Nhanh hơn. Mỗi ngày.

Anh bước vào thang máy. Bấm tầng 18. Cabin đi lên. Gương phản chiếu sảnh trống bên dưới, thu nhỏ dần. Trong gương: quầy bảo vệ, đèn vàng, hai chén trà, ấm trà men nứt.

Và trên mặt nước trà trong chén, tĩnh lặng, mặt nước phản chiếu trần sảnh. Trần sảnh trắng. Không có gì.

Nhưng Duy nhìn kỹ hơn, qua gương cabin, qua khoảng cách mỗi lúc một xa khi thang máy đi lên: trên mặt trà, có bóng. Nhỏ. Đứng ở quầy bảo vệ. Nơi Tùng vừa ngồi.

Nhưng Tùng đã đi rồi.

Cửa thang máy đóng lại trước khi Duy nhìn rõ hơn. Cabin đi lên. Tầng 2. Tầng 5. Tầng 10. Tầng 15. Tầng 18. Cửa mở.

Hành lang. Nhịp thở mười lăm giây. Đều. Kiên nhẫn.

Duy bước ra. Đi về phòng 1806. Mở cửa. Vào. Khóa.

Ly nước trên bàn cạnh giường: vẫn đầy.

Quạt quay trên trần. Duy không đếm. Nhưng anh biết: chậm hơn.

Anh nằm xuống. Mắt mở. Nhìn trần nhà. Nhìn quạt quay.

Hai trăm lẻ ba. Hai trăm lẻ ba người. Và tôi sẽ là hai trăm lẻ bốn.

Trừ khi tôi tìm ra cách dừng lại. Cách mà Tùng ba mươi năm không tìm được. Cách mà ông Bảo mười lăm năm trước không kịp tìm.

Nhưng tôi khác. Tôi là sai lệch. Tùng nói: tầng 19 khó nuốt tôi hơn. Kiểu khó mà có thời gian. Kiểu thời gian mà ít hơn tôi tưởng nhưng nhiều hơn ông Bảo có.

Và tôi có thứ ông Bảo không có: cuốn sổ hai trăm lẻ ba tên. Tùng cho tôi đọc. Không cho ông Bảo đọc. Tùng nói với ông Bảo: dừng lại. Nói với tôi: đây, đọc đi.

Vì sao?

Vì ông biết tôi không dừng lại được. Giống ông Bảo. Nhưng ông hy vọng tôi sống lâu hơn. Kiểu hy vọng mà ba mươi năm, kiểu ba mươi năm mà một mình, kiểu một mình mà mệt.

Duy nhắm mắt. Không ngủ. Nằm im. Nghe quạt quay. Nghe nhịp thở từ hành lang. Nghe ly nước trên bàn: tĩnh. Không gợn.

Đêm nay không gợn.

Ch.85/101
3.459 từ