Về Nhà Mà Không Nhận Ra Nhà
Duy ngủ mười hai tiếng.
Anh không nhớ lúc nào đã nhắm mắt (sau khi nhìn quạt quay hai vòng phút, sau khi nghĩ "bên nào sẽ nhận tôi trước", sau khi nắng sáng qua rèm và anh vẫn thức). Nhưng khi mở mắt, đồng hồ trên laptop: bốn giờ mười hai chiều. Phòng nóng. Quạt vẫn quay, kiểu quay mà Duy không đếm (anh sợ đếm, lần đầu tiên trong ba tháng anh sợ đếm quạt, kiểu sợ mà nếu số nhỏ hơn hai thì anh không biết phải làm gì).
Anh đứng dậy. Uống nước (bình nước trên bàn, ấm, kiểu ấm mà để cả ngày trong phòng kín). Rửa mặt. Nhìn gương nhà tắm. Mặt anh: thâm quầng sâu hơn hôm qua, da xanh nhợt, nhưng rõ trong gương. Rõ. Kiểu rõ mà gương nhà tắm vẫn phản chiếu anh tốt hơn gương thang máy (Duy ghi nhận, kiểu ghi nhận mà thói quen, kiểu thói quen mà ba tháng đã dạy: so sánh mức độ mờ trên các bề mặt phản chiếu, như kiểm tra huyết áp mỗi sáng, kiểu kiểm tra mà ai đo sức khỏe bằng gương).
Anh cần ra ngoài. Mua đồ ăn (tủ lạnh trống từ hôm kia, kiểu trống mà Duy quên mua đồ khi tâm trí ở thành phố lỗi). Nhu cầu bình thường. Kiểu bình thường mà cơ thể (đói, khát, cần đi vệ sinh, cần đồ ăn, kiểu cần mà dù anh có thuộc về tầng 19 hay không thì dạ dày vẫn rỗng).
Duy mở cửa phòng 1806. Chìa khóa vẫn vào ổ đúng, khóa vẫn xoay đúng chiều. Bước ra hành lang.
Và dừng lại.
Hành lang tầng 18. Đèn huỳnh quang sáng. Tường sơn trắng ngả vàng (luôn ngả vàng, kiểu vàng mà chung cư cũ, kiểu cũ mà Thanh Vân). Sàn gạch men trắng xám. Cửa các phòng đóng. Mọi thứ giống hệt. Giống hệt hành lang mà Duy đã đi mỗi ngày suốt ba tháng. Không sai.
Nhưng có gì đó sai.
Duy đứng ở cửa phòng, nhìn dọc hành lang. Cố xác định cái sai. Không tìm được. Mắt anh quét từ trái sang phải: cửa 1801 (gần thang máy), 1802, 1803, 1804, 1805, rồi phòng anh 1806, rồi 1807, 1808 (anh Phong), cuối hành lang là cửa sổ. Đúng thứ tự. Đúng khoảng cách. Đúng màu cửa. Đúng ổ khóa. Đúng chỉ số điện trên tường.
Nhưng khoảng cách giữa 1805 và 1806 hẹp hơn.
Không nhiều. Vài phân. Kiểu vài phân mà mắt thường không nhận ra, kiểu không nhận ra trừ khi đã đi qua hành lang này hàng trăm lần (Duy đã đi, đủ lần để chân anh biết khoảng cách giữa mỗi cửa, kiểu biết mà cơ thể biết trước não, kiểu biết mà khi bước từ cửa mình ra, chân anh lệch nhịp nhẹ vì khoảng cách sai). Anh đứng giữa hai cửa, nhìn xuống. Gạch men. Đếm: mười hai viên gạch từ giữa cửa 1805 đến giữa cửa 1806. Mười hai. Bình thường mười ba (Duy biết vì anh đã đếm, kiểu đếm mà trí nhớ tốt, kiểu trí nhớ mà mười ba viên gạch là con số anh chắc chắn).
Mười hai. Thiếu một viên. Hành lang hẹp hơn một viên gạch.
Duy nhìn sang phải. Khoảng cách giữa 1806 và 1807. Đếm: mười ba. Đúng. 1807 đến 1808: mười ba. Đúng. Chỉ giữa 1805 và 1806: mười hai. Chỉ cửa phòng anh. Kiểu chỉ mà không ngẫu nhiên, kiểu không ngẫu nhiên mà có chủ đích, kiểu chủ đích mà ai đó (hoặc cái gì đó) đã dịch cửa phòng anh gần hơn cửa bên cạnh một viên gạch trong khi anh ngủ.
Hoặc tòa nhà co lại quanh tôi. Kiểu co mà hành lang ôm sát hơn. Kiểu ôm mà giữ.
Mùi nước lau sàn. Sạch. Quá sạch. Kiểu sạch mà mới lau (nhưng ai lau sàn tầng 18 lúc chiều, Duy chưa bao giờ thấy ai lau sàn ở đây, kiểu chưa thấy mà ba tháng, kiểu ba tháng mà sàn hành lang Thanh Vân luôn bẩn nhẹ, bụi nhẹ, vệt giày nhẹ, kiểu bẩn mà chung cư cũ). Bây giờ sàn sạch bóng. Gạch trắng phản chiếu đèn huỳnh quang. Duy nhìn xuống: phản chiếu anh trên mặt gạch mờ, kiểu mờ mà gạch men phản chiếu (không rõ như gương, nhưng đủ để thấy bóng, kiểu bóng mà Duy nhìn bóng mình trên sàn và thấy viền bóng nhòe, kiểu nhòe mà giống gương thang máy hôm qua, kiểu giống mà mọi bề mặt phản chiếu đều bắt đầu nhòe viền anh).
Duy đi dọc hành lang. Chậm. Từng bước. Đếm gạch (thói quen, kiểu thói quen mà bây giờ). Mọi khoảng cách khác: mười ba viên. Chỉ khoảng cách đến cửa phòng anh: mười hai.
Thang máy. Anh bấm tầng trệt. Cửa đóng. Gương thang máy: Duy nhìn phản chiếu mình. Mờ hơn hôm qua. Rõ ràng mờ hơn. Kiểu mờ mà không cần so sánh cũng thấy, kiểu thấy mà thanh vịn sáng rõ, nút bấm sáng rõ, nhưng mặt Duy nhòe, kiểu nhòe mà ảnh cũ phơi nắng (da nhạt, viền tan, mắt mờ, kiểu mờ mà gương thang máy đang quên anh từ từ).
Tầng trệt. Sảnh. Tùng không ở quầy bảo vệ (ca chiều, kiểu ca chiều mà có lẽ người khác trực, nhưng quầy trống, không ai ngồi, kiểu trống mà Thanh Vân chiều nay). Duy đi qua sảnh, ra cửa chính.
Nắng. Nóng. Tháng Bảy. Kiểu nóng mà Hà Nội (ẩm, dính, kiểu dính mà mồ hôi ra ngay khi bước ra ngoài). Bình thường. Thành phố thật ở bên ngoài: xe máy, tiếng còi, mùi bụi, mùi phở, mùi xăng. Duy đi xuống cửa hàng tiện lợi ở tầng trệt góc trái tòa nhà.
Cửa hàng mở. Đèn sáng. Máy lạnh lạnh. Kệ hàng. Bình thường. Duy lấy mì gói (hai vắt), nước suối (chai lớn), bánh mì gói (hai ổ). Kiểu mua mà người sống một mình (ít, nhanh, đủ sống, không dư). Trả tiền. Nhân viên bán hàng: cô gái trẻ, tóc buộc cao, áo đồng phục xanh. Không phải An (An chưa bao giờ mặc đồng phục xanh, An mặc đen, An không còn ở đây, An ở tầng 19, An ở hành lang trắng). Cô gái quét mã, nhận tiền, đưa túi. Bình thường.
Duy cầm túi đồ. Đi về. Vào sảnh. Thang máy. Tầng 18. Hành lang.
Và ở hành lang, bà Hoa.
Bà Hoa ở phòng 1805, cạnh phòng Duy. Bà sáu mươi mấy tuổi, tóc ngắn, bạc, dép lê. Bà hay mua rau ở chợ sáng, hay nấu cơm mùi hành phi bay qua khe cửa, hay gõ cửa Duy mỗi tháng một lần hỏi tiền điện nước (vì Duy ở cuối hành lang, hóa đơn hay gửi nhầm). Duy biết bà Hoa. Kiểu biết mà hàng xóm chung cư cũ (không thân, không xa, kiểu biết mà gật đầu chào, kiểu chào mà đủ).
Bà đứng trước cửa phòng mình. Mặc áo bà ba hoa nhạt. Dép lê. Tay cầm túi rau. Bình thường. Kiểu bình thường mà bà Hoa.
– Duy à, bà nói. Cười. Nụ cười đúng, kiểu cười mà bà Hoa luôn cười (hiền, hơi nghiêng đầu, nếp nhăn quanh mắt, kiểu nhăn mà cười thật). Mới về hả con?
– Dạ, bà, Duy nói.
– Ăn cơm chưa? Bà nấu canh bí, ăn không?
– Dạ con ăn rồi, cảm ơn bà.
Bình thường. Đối thoại bình thường. Giọng bà bình thường. Nụ cười bình thường.
Nhưng mắt bà không chớp.
Duy nhận ra khi đang nói "cảm ơn bà". Anh nhìn mặt bà (thói quen, kiểu thói quen mà Duy nhìn mặt người khi nói chuyện, không phải vì lịch sự mà vì quan sát, kiểu quan sát mà ba tháng ở Thanh Vân đã biến thành phản xạ). Mắt bà mở. Đúng kích thước. Đúng màu (nâu đen, kiểu nâu mà người Việt). Nhưng không chớp. Suốt cuộc nói chuyện. Bà nói, cười, nghiêng đầu, tay cầm túi rau chuyển từ phải sang trái, kiểu chuyển mà tự nhiên. Nhưng mắt không chớp. Mở. Liên tục. Kiểu mở mà búp bê (kiểu búp bê mà mắt nhựa, kiểu nhựa mà sáng, kiểu sáng mà ướt nhẹ nhưng không chớp).
Mắt không chớp. Người bình thường chớp mắt mỗi ba đến năm giây. Duy đếm: mười lăm giây, hai mươi giây, ba mươi giây. Bà Hoa nói, cười, hỏi, mắt mở. Không chớp.
– Bà ơi, Duy nói. Giọng đều. Bà khỏe không ạ?
Bà cười. Mắt mở.
– Khỏe chứ. Sao hỏi vậy con?
– Dạ không, con hỏi thôi.
Bà gật. Mở khóa cửa phòng 1805. Vào. Cửa đóng.
Duy đứng hành lang. Tim đập nhanh hơn nhịp bình thường (anh cảm nhận được, kiểu cảm nhận mà Duy khi anh sợ nhưng không chạy, kiểu sợ mà đứng im và quan sát, kiểu quan sát mà anh đã quan sát nhiều thứ kỳ lạ ở Thanh Vân nhưng chưa bao giờ thấy mắt hàng xóm không chớp). Anh vào phòng 1806. Khóa cửa. Đặt túi đồ ăn xuống bàn.
Mở laptop. Vào thư mục đoạn quay. Không phải đoạn quay hôm nay. Đoạn quay cũ. Tuần trước. Tháng trước. Anh tìm đoạn quay có bà Hoa đi qua hành lang.
Tìm thấy. Tuần trước. Bà Hoa đi qua lúc tám giờ tối (túi rau, dép lê, kiểu đi mà chậm, bước ngắn). Duy phóng to mặt bà. Mắt bà: chớp. Bình thường. Ba giây, chớp. Bốn giây, chớp. Người thật.
Đoạn quay hôm nay. Duy tìm đoạn quay hành lang tầng 18 chiều nay. Tìm thấy: bốn giờ ba mươi hai phút. Bà Hoa đứng trước cửa 1805. Duy đứng trước cửa 1806. Hai người nói chuyện (không có tiếng, chỉ hình). Duy phóng to mặt bà Hoa. Mắt bà: mở. Suốt cuộc nói chuyện. Không chớp.
Tuần trước: chớp. Hôm nay: không chớp. Bà Hoa tuần trước và bà Hoa hôm nay không giống nhau.
Bà Hoa đã bị thay thế?
Duy tắt đoạn quay. Nhìn đồng hồ trên laptop. Lệch. Đồng hồ laptop hiện năm giờ mười chín phút chiều. Duy lấy điện thoại: năm giờ đúng. Chênh: mười chín phút.
Anh kiểm tra lại. Laptop: năm giờ mười chín. Điện thoại: năm giờ đúng. Đồng hồ treo tường (cũ, kim giây chạy): năm giờ đúng. Hai thiết bị nói năm giờ. Laptop nói năm giờ mười chín.
Mười chín phút. Lệch mười chín phút.
Mười chín.
Duy mở thư mục đoạn quay. Kiểm tra đoạn quay cũ nhất trong máy, từ tháng đầu tiên khi anh chuyển đến. So sánh nhãn thời gian. Đoạn quay cũ: không lệch (thời gian trên đoạn quay khớp với thời gian Duy nhớ). Đoạn quay tuần trước: không lệch. Đoạn quay ba ngày trước: lệch bốn phút. Đoạn quay hôm qua: lệch mười một phút. Đoạn quay hôm nay: lệch mười chín phút.
Nhãn thời gian trên đoạn quay trôi dần. Mỗi ngày lệch thêm. Như thời gian ở đây và thời gian ở nơi khác đang tách ra từ từ.
Mười chín phút. Số mười chín lại xuất hiện. Tầng mười chín. Mười chín bậc cầu thang. Mười chín tiếng chuông. Và bây giờ: mười chín phút lệch.
Duy tắt laptop. Phòng tối. Nắng đã ngả qua cửa sổ, vàng đậm, kiểu vàng mà chiều muộn (năm giờ chiều tháng Bảy, nắng vẫn còn nhưng đã dịu, kiểu dịu mà bóng dài). Quạt quay. Duy không đếm. Kiểu không đếm mà cố ý, kiểu cố ý mà sợ (lần đầu tiên anh chủ động không đếm, lần đầu tiên anh chọn không biết, kiểu chọn mà tự vệ, kiểu tự vệ mà nếu quạt chậm hơn hai vòng thì anh chưa sẵn sàng biết).
Anh ngồi trên giường. Nhìn cửa phòng. Đóng. Khóa. An toàn (kiểu an toàn mà giả, kiểu giả mà khóa cửa không giữ được gì ở Thanh Vân, kiểu không giữ mà tầng 19 vào bằng cách khác, bằng cách thay đổi khoảng cách giữa các cửa, bằng cách thay mắt hàng xóm, bằng cách dịch thời gian mười chín phút).
Bên ngoài hành lang: tiếng bước chân.
Đều đặn. Chậm. Kiểu chậm mà đi bộ bình thường (không vội, không chạy, chỉ đi). Từ đầu hành lang đến cuối hành lang. Rồi quay lại. Từ cuối đến đầu. Rồi quay lại. Đi. Đi. Đi. Kiểu đi mà vòng vòng, kiểu vòng mà lặp, kiểu lặp mà cư dân thành phố lỗi (Duy nhận ra: kiểu đi này giống kiểu đi của người trong thành phố lỗi, kiểu đi vòng trong ký ức, kiểu ký ức mà lặp mãi không dừng).
Duy ngồi im. Nghe. Bước chân đều. Không dừng trước cửa phòng nào. Không gõ cửa. Không nói gì. Chỉ đi. Qua lại. Qua lại.
Ai đi ngoài hành lang lúc này? Bà Hoa? Anh Phong? Người nào khác? Hay không phải người?
Duy không mở cửa ra xem. Lần đầu tiên, anh không mở cửa ra xem.
Bước chân tiếp tục. Đều. Chậm. Không đến từ đâu. Không đi về đâu. Chỉ đi.
Quạt quay phía trên. Duy nhắm mắt. Không đếm. Không ngủ. Chỉ ngồi, nghe bước chân, nghe quạt, nghe Thanh Vân thở quanh anh, kiểu thở mà tòa nhà khi nó đang thay đổi từ bên trong.
Nhà. Đây là nhà. Ba tháng rồi. Đây là nhà tôi.
Nhưng hôm nay, nhà không nhận ra tôi. Hoặc tôi không nhận ra nhà.
Bước chân ngoài hành lang dừng. Đột ngột. Im lặng.
Rồi tiếp tục. Chậm hơn. Kiểu chậm mà sắp dừng hẳn. Nhưng không dừng.
Duy mở mắt. Nhìn quạt. Quay. Chậm. Anh đếm mà không muốn đếm, kiểu đếm mà tự động, kiểu tự động mà trí nhớ tốt là lời nguyền (mọi con số tự ghi vào đầu, không thể không ghi, không thể quên).
Hai vòng phút.
Vẫn hai. Chưa giảm. Chưa.
Bước chân ngoài hành lang vang lại. Đều. Chậm. Kiểu đều mà sẽ vang suốt đêm nay. Duy biết. Kiểu biết mà anh đã biết nhiều thứ ở Thanh Vân: biết trước khi chuyện xảy ra, kiểu biết mà không giải thích được, kiểu không giải thích mà thuộc về.