Tầng 19 Không Tồn Tại
Chương 73: Thành Phố Không Tên
Chương 73

Thành Phố Không Tên

Gạch dưới chân thay đổi cứ mỗi mười chín bước.

Duy đếm (kiểu đếm mà bây giờ anh đếm mọi thứ, bước, giây, vòng quạt, khoảng cách, kiểu đếm mà An đã dạy anh bằng cách cô đếm suốt ba năm ở cửa hàng tiện lợi). Mười chín bước đầu: xi măng, kiểu xi măng mà vỉa hè phố cũ, xám, nứt, có rêu ở khe. Mười chín bước tiếp: đá, kiểu đá mà phố Pháp cũ, viên nhỏ, tròn, lồi lõm. Mười chín bước nữa: gỗ, kiểu gỗ mà sàn nhà, ván lát ngang, đánh bóng, kiểu sàn mà phòng khách ai đó, kiểu phòng khách mà ký ức ai đó về nhà mình đã lọt ra vỉa hè. Mười chín bước nữa: thảm, kiểu thảm mà khách sạn, đỏ, dày, êm dưới đế giày, kiểu thảm mà ai đó nhớ lần duy nhất ở khách sạn và ký ức đó nằm ở đây dưới chân Duy.

Xi măng. Đá. Gỗ. Thảm. Rồi lại xi măng, nhưng xi măng khác (mới hơn, xám nhạt hơn, không rêu). Mỗi mười chín bước: chất liệu đổi, kiểu đổi mà không gian ở đây ghép nối từ nhiều nơi, nhiều người, nhiều ký ức, và đường may giữa các mảnh ghép là mỗi mười chín bước.

An đi phía trước, kiểu đi mà không đếm (hoặc đếm trong đầu mà không nói ra, kiểu đếm mà An). Tóc cô không bay dù có gió nhẹ từ phía mùa đông vẫn thổi dọc con đường này, kiểu không bay mà tóc cô không phản ứng với không khí ở đây vì cô không hoàn toàn thuộc về không khí.

Cửa hàng mở nhưng bán thứ không tồn tại.

Duy dừng trước cửa hàng đầu tiên. Biển hiệu sơn tay, chữ viết bằng ngôn ngữ mà Duy đọc được từng chữ cái nhưng không hiểu ý nghĩa: "Tiệm ký ức tuổi thơ." Bên trong: quầy gỗ, kệ gỗ, trên kệ là hộp các tông nhỏ, mỗi hộp dán nhãn viết tay (Duy nhìn qua kính cửa, nhãn mờ nhưng đọc được: "Mùa hè đầu tiên", "Tiếng mẹ gọi về ăn cơm", "Đường đi học", "Con mèo nhà hàng xóm"). Quầy có người ngồi: đàn ông trung niên, tóc muối tiêu, kính gọng tròn, đang sắp xếp hộp trên kệ, kiểu sắp xếp mà cẩn thận, kiểu cẩn thận mà người bán đồ quý.

Ông không nhìn Duy. Không nhìn ra ngoài. Sắp xếp. Kiểu sắp xếp mà mãi mãi, kiểu mãi mãi mà ở đây ông chỉ làm một việc: sắp hộp ký ức lên kệ, lấy xuống, sắp lại, kiểu lặp mà không nhớ mình đã làm.

Cửa hàng thứ hai: "Giấc mơ lặp lại." Kệ kính, trên kệ là lọ thủy tinh, mỗi lọ chứa thứ gì đó mờ, xoay chậm, kiểu xoay mà sương trong lọ, kiểu sương mà có hình (Duy nhìn kỹ: trong lọ gần cửa, sương tạo hình bàn tay, kiểu bàn tay mà ai đó vươn ra trong giấc mơ và giấc mơ đó đã bị đóng lọ).

Cửa hàng thứ ba: không tên. Bảng giá viết bằng ngôn ngữ không ai biết. Không phải tiếng Việt, không phải tiếng Anh, không phải bất kỳ ngôn ngữ nào Duy nhận ra. Ký tự uốn lượn, kiểu uốn mà chữ thảo nhưng không thuộc bảng chữ cái nào, kiểu ký tự mà Duy nhìn và cảm thấy quen (kiểu quen mà óc muốn hiểu, muốn đọc, muốn dịch, nhưng không dịch được vì ngôn ngữ này không phải để đọc mà để cảm, kiểu ngôn ngữ mà ký ức dùng để nói chuyện với nhau khi không có người dịch).

– Đừng vào, An nói mà không quay lại.

Duy rụt tay khỏi tay nắm cửa (lúc nào anh đưa tay ra, anh không nhớ, kiểu không nhớ mà cơ thể di chuyển trước não, kiểu di chuyển mà thành phố này kéo người vào).

Cô ấy nói đúng. Tôi vừa suýt mở cửa mà không biết tại sao mình muốn mở. Thành phố này có lực hút. Kiểu hút mà nhẹ, kiểu nhẹ mà không cảm thấy cho đến khi tay đã nằm trên tay nắm.

Họ đi tiếp. Đường phố uốn nhẹ sang trái, kiểu uốn mà đường phố không thẳng tuyệt đối, kiểu uốn tự nhiên mà ký ức về đường phố luôn có: con đường trong đầu không bao giờ thẳng, luôn hơi cong, hơi rộng hơn hoặc hẹp hơn thực tế, vì ký ức không chính xác.

Quảng trường nhỏ. Không phải quảng trường kiểu châu Âu (rộng, vòi phun, tượng giữa). Kiểu sân chung cư, kiểu sân mà giữa bốn tòa nhà, có ghế đá, cây bàng, vài bà già ngồi buổi chiều. Nhưng rộng hơn sân chung cư, kiểu rộng mà nhiều sân chung cư ghép lại, kiểu ghép mà ký ức về "sân nhà" của nhiều người chồng lên nhau tạo thành một sân chung lớn.

Giữa quảng trường: đài phun nước. Không phun nước. Phun sương, kiểu sương mà mờ, trắng, bay lên rồi tan. Và trong sương: hình. Không phải hình rõ. Hình người, mờ, kiểu mờ mà nhìn thấy dáng nhưng không thấy mặt, kiểu dáng mà ai đó đang đi, đang quay lưng, đang vẫy tay. Sương phun lên, tạo hình, rồi tan. Hình khác. Người khác. Mỗi đợt sương: một bóng người, kiểu bóng mà ký ức ai đó về ai đó, kiểu ai đó mà đã bị quên tên nhưng còn nhớ dáng.

Duy đứng nhìn đài phun. Sương. Hình. Tan. Sương. Hình khác. Tan. Kiểu lặp mà ký ức chạy vòng, kiểu vòng mà ở đây mọi thứ chạy vòng vì thời gian không tiến, 3:33 mãi mãi.

Bên phải quảng trường: hàng cây bàng, gốc sơn trắng (kiểu sơn mà phố Hà Nội, kiểu Hà Nội mà cụ thể, kiểu cụ thể mà ai đó nhớ chính xác gốc bàng sơn trắng ở phố nào đó và gốc bàng đó bây giờ ở đây). Ghế đá dưới gốc. Trên ghế: chiếc radio, kiểu radio mà Tùng có, kiểu radio cũ, núm vặn, loa tròn, vỏ nhựa vàng ố.

Radio phát tĩnh. Xèo xèo. Kiểu xèo xèo mà Duy đã nghe ở quầy bảo vệ trăm lần, kiểu xèo xèo mà trong đó có nhịp thở. Nhưng ở đây: không có nhịp thở. Chỉ tĩnh. Kiểu tĩnh mà thuần, không có thứ gì phát qua.

Radio của Tùng tắt trước khi tôi xuống đây. Radio ở đây cũng không bắt tín hiệu. Kênh liên lạc đã đứt. Tùng ở trên, một mình, không có máy phát.

An dừng giữa quảng trường. Nhìn quanh. Đánh giá. Kiểu đánh giá mà người đã ở đây nhưng lần nào cũng thấy khác, kiểu khác mà thành phố này thay đổi, không nhiều, không nhanh, nhưng đổi: ghế đá dịch vài centimet, cây bàng thêm một cành, cửa hàng đổi biển hiệu.

– Khu dân cư ở phía đó.

Cô chỉ về phía bên kia quảng trường. Con đường nhỏ, hai bên nhà thấp, cửa sổ sáng đèn. Ấm. Kiểu ấm mà ánh đèn nhà tạo ra, kiểu ấm mà nhìn từ ngoài vào.

– Nhưng trước đó.

An nhìn lên.

Duy nhìn theo. Trần xám. Đồng nhất. Nhưng ở một chỗ, không xa lắm (cách quảng trường khoảng trăm mét chiều ngang), trần có thứ khác. Lõm. Kiểu lõm mà bề mặt phẳng bị ấn xuống từ phía trên, kiểu lõm tròn, đường kính vài mét, kiểu lõm mà thứ gì đó đang đè lên trần từ phía trên.

– Đó là tầng 19, An nói. Nhìn từ dưới.

Duy nhìn. Lõm trên trần xám. Ở trung tâm lõm: ánh sáng trắng, nhẹ, kiểu sáng mà tầng 19 (hành lang trắng, không gian trắng, cánh cửa treo). Tầng 19 ở trên thành phố lỗi. Thành phố lỗi ở dưới tầng 19. Và lõm trên trần là nơi hai lớp chạm nhau, kiểu chạm mà sàn tầng 19 là trần thành phố lỗi.

Cấu trúc. Từ trên xuống: thế giới thật (chung cư Thanh Vân, thành phố Hà Nội). Phía dưới: tầng 19 (tiền sảnh, hành lang trắng, cánh cửa treo). Phía dưới nữa: thành phố lỗi (nơi chứa mọi thứ bị xóa). Tôi ở tầng dưới cùng. Đã xuống hai lớp.

– Tầng 19 đang phình, An nói. Nhìn lên lại, lõm lớn hơn so với khi tôi mới xuống. Nó nuốt thêm phòng, thêm người, thêm ký ức, và tất cả rơi xuống đây. Thành phố đang mở rộng.

Tiếng. Từ phía khu dân cư. Tiếng nồi kêu, kiểu nồi kêu mà nấu cơm xong nồi hú, kiểu hú mà bếp nhà ai đó. Tiếng tivi. Tiếng nhạc. Tiếng sống bình thường, kiểu bình thường mà bao nhiêu nhà bao nhiêu gia đình đang ăn tối (dù ở đây không có tối, không có sáng, chỉ có xám đều).

– Họ sống như bình thường?

– Họ nghĩ họ sống bình thường.

An đi về phía khu dân cư. Duy đi theo. Qua quảng trường, qua con đường nhỏ, vào khu nhà thấp.

Nhà cửa bình thường. Kiểu bình thường mà Duy nhìn qua cửa sổ thấy: phòng khách, tivi, sofa, bàn ăn, đèn. Đèn ấm. Cửa sổ sáng. Rèm hé. Kiểu nhà mà khu phố nào ở Hà Nội cũng có, kiểu phố mà ai đó lớn lên, ai đó sống cả đời, ai đó nhớ mãi.

Nhưng nếu nhìn kỹ: sai.

Nhà số 4 và nhà số 8 giống hệt nhau. Cùng mặt tiền, cùng cửa sổ, cùng ban công, cùng chậu cây (cùng loại cây, cùng kích thước, cùng vị trí). Kiểu giống mà hai ký ức về "nhà" trùng nhau, hai người nhớ nhà mình và nhà họ giống nhau vì ký ức về "nhà" giống nhau (phòng khách bên trái, bếp phía sau, cầu thang bên phải).

Số nhà: 1, 3, 4, 8, 12, 19, 23, 27. Không liên tục. Kiểu số mà mỗi nhà là ký ức của người khác, và số nhà là số mà người đó nhớ, không phải số thứ tự.

Mùi. Cơm. Cá kho. Canh chua. Bún riêu. Phở. Tất cả cùng lúc, kiểu cùng lúc mà bao nhiêu bếp nấu bao nhiêu món, và mùi chồng lên nhau, đặc, kiểu đặc mà không khí ở khu dân cư nặng hơn quảng trường, kiểu nặng mà ký ức về nhà có trọng lượng.

Duy hít vào. Mùi cơm. Mùi quen. Kiểu quen mà cơm mẹ nấu, kiểu quen mà mũi nhận ra trước não, kiểu nhận ra mà mắt nóng.

Không. Không phải mùi cơm mẹ. Mùi cơm ai đó, kiểu cơm mà mọi nhà đều nấu, kiểu quen mà ai cũng quen. Đừng nhận. Đừng để ký ức ở đây lấp đầy.

An nhìn anh. Thấy. Không nói. Nhưng mắt cô nói: tôi biết.

Họ đi qua khu dân cư. Im lặng nặng hơn ở đây, kiểu nặng mà im lặng giữa tiếng sống, kiểu giữa mà tiếng nồi cơm, tiếng tivi, tiếng bước chân trong nhà vang ra ngoài nhưng không ai nói chuyện, không ai gọi tên ai, kiểu im mà mọi người sống nhưng không giao tiếp, mỗi người trong thế giới riêng, mỗi nhà trong ký ức riêng.

Con mèo. Đen. Ngồi trên bậc cửa nhà số 19. Nhìn Duy. Mắt vàng. Không chớp. Kiểu nhìn mà mèo nhìn, nhưng mèo ở đây nhìn lâu hơn mèo thật, kiểu lâu mà mèo ở đây biết Duy không thuộc về nơi này.

Mèo quay đầu, đi vào nhà qua khe cửa hé. Bên trong nhà số 19: tối, trừ ánh tivi xanh lét chiếu lên tường. Không thấy ai ngồi trước tivi.

Nhà số 19. Lại số 19. Ở đây cũng có số 19.

Duy ghi vào sổ: "Thành phố lỗi, khu dân cư. Nhà không liên tục (1,3,4,8,12,19,23,27). Nhà 4 = nhà 8 (trùng). Mùi bếp nấu chồng chéo. Không ai giao tiếp. Mèo đen nhà 19."

Cuối con đường: ngõ nhỏ, tối hơn (đèn đường thưa hơn, kiểu thưa mà ký ức về ngoại ô, kiểu ngoại ô mà đèn cách nhau xa hơn trong phố). Hai bên: tường gạch, thấp, kiểu tường mà xóm cũ Hà Nội, kiểu xóm mà ngõ sâu, quanh co, biết nhà nhau.

An dừng. Nhìn vào ngõ.

– Phía trong có khu ký ức. Nơi ký ức thất lạc rơi xuống đường. Ngày mai (nếu có ngày mai ở đây) anh sẽ thấy.

– Sao không bây giờ?

An nhìn Duy. Đánh giá. Kiểu đánh giá mà cô nhìn anh ở cửa hàng tiện lợi lần đầu, kiểu nhìn mà cân xem anh chịu được bao nhiêu.

– Vì anh đã ở đây đủ lâu. Anh có ngửi thấy không?

Duy hít. Mùi cơm. Nhưng rõ hơn lúc nãy. Rõ cụ thể hơn. Không phải mùi cơm chung mà mùi cơm nhà anh, kiểu cơm mà mẹ nấu nồi gang trên bếp gas cũ, kiểu nấu mà cơm hơi cháy ở đáy vì mẹ hay quên, kiểu quên mà mẹ luôn quên vì mẹ vừa nấu vừa xem tivi.

Mùi cơm mẹ. Cụ thể. Nồi gang. Cháy đáy. Mẹ quên.

Nhưng mẹ đã mất. Mùi này không thể từ mẹ. Mùi này từ ký ức. Ký ức tôi. Hoặc ký ức của nơi này đang đọc ký ức tôi rồi phát lại.

– Thành phố này biết anh, An nói. Nó đọc ký ức người sống nhanh hơn người chết. Anh ở đây thêm sẽ nghe tiếng mẹ anh. Rồi thấy mặt mẹ anh. Rồi quên rằng mẹ anh ở đây hay ở trong đầu anh.

Duy đứng im. Mùi cơm cháy đáy. Rõ. Cụ thể đến mức anh muốn quay lại khu dân cư, mở từng cánh cửa, tìm cái bếp có nồi gang, tìm người phụ nữ quên cơm trên bếp vì đang xem tivi.

Không. Đó không phải mẹ. Đó là ký ức. Ký ức tôi. Hoặc ký ức thành phố đang giả.

An chạm tay anh. Nhẹ. Lạnh (tay cô luôn lạnh, từ lần đầu tiên ở mái chung cư). Nhưng chạm thật, kiểu chạm mà ở trên kia cô mờ dần nhưng ở đây cô có da, có áp lực, có lạnh.

– Quay lại. Nghỉ. Anh không nên ở đây lâu trong lần đầu.

Duy nhìn ngõ tối. Khu ký ức ở trong đó. Mẹ có thể ở trong đó (hoặc ở khu dân cư, hoặc ở đâu đó trong thành phố rộng không có rìa này).

Nhưng An đúng. Mùi cơm cháy đáy nồi gang đang rõ hơn, đang gần hơn, đang kéo anh. Kiểu kéo mà nhẹ, kiểu nhẹ mà không cảm thấy cho đến khi chân đã bước.

– Lối ra ở đâu? anh hỏi.

An chỉ phía sau. Về hướng quảng trường, qua hai con phố, về cánh cửa sắt B2.

– Cửa vẫn ở đó. Nhưng xa hơn lúc anh vào.

Duy biết. Thành phố nuốt lối ra. Không xóa. Nuốt. Kiểu nuốt mà kéo xa hơn, mỗi phút ở đây cửa sắt xa thêm vài bước, kiểu vài bước mà tích lũy.

Họ quay lại. Đi nhanh hơn lúc đến. Qua khu dân cư (mèo đen vẫn ngồi bậc cửa, nhìn họ đi qua, mắt vàng). Qua quảng trường (đài phun sương vẫn phun, hình người mờ, tan, mờ, tan). Qua hai con phố.

Cánh cửa sắt. Ở đó. Nhỏ hơn lúc Duy vào (kiểu nhỏ mà xa hơn, kiểu xa mà mắt phải nheo mới thấy số "B2" trên cửa). Nhưng khi Duy đi đến: cửa bình thường, kích thước bình thường. Kiểu bình thường mà thành phố nén khoảng cách khi anh đi về phía cửa (hoặc giãn khoảng cách khi anh đi xa cửa, tùy góc nhìn).

Duy đẩy cửa. Mở. Cầu thang bê tông, mười chín bậc lên. Ánh sáng trắng lờ mờ từ phía trên.

Anh nhìn An.

– Cô không lên?

An lắc đầu. Chậm. Kiểu lắc mà đã quyết định từ lâu.

– Tôi ở đây. Tôi thuộc về đây hơn trên kia.

Im lặng. Gió từ cầu thang thổi xuống, mang theo mùi kim loại ẩm (mùi tầng 19, mùi hành lang trắng, mùi cabin thang máy lúc 3:33). Duy đứng ở ngưỡng cửa, một chân trên nhựa đường thành phố lỗi, một chân trên bậc thang đầu tiên.

– Tôi sẽ xuống lại.

An nhìn anh. Không gật, không lắc. Nhìn, kiểu nhìn mà An nhìn khi cô tin và không tin cùng lúc, kiểu tin mà Duy sẽ xuống lại và không tin mà anh sẽ còn nhớ đường.

– Mang theo chìa. Đừng để mất.

Duy cầm chìa trong túi. Đồng đen. Nặng.

Anh bước lên cầu thang. Mười chín bậc. Ánh sáng trắng mạnh dần. Mùi kim loại ẩm thay thế mùi mưa cũ. Nhiệt độ tăng (không ấm, chỉ bớt lạnh).

Bậc cuối. Hành lang trắng tầng 19. Vết nứt trên sàn vẫn đó nhưng hẹp hơn lúc vào (kiểu hẹp mà tầng 19 đang tự sửa, kiểu sửa mà vá vết nứt để giấu thành phố bên dưới).

Duy đi ngược hành lang. Theo mũi tên An (ngược chiều). Về cabin thang máy.

Cabin. Gương. Duy nhìn mình. Nhợt hơn. Mắt sâu hơn. Kiểu nhợt mà vài giờ ở thành phố lỗi đã lấy đi gì đó, kiểu lấy mà không phải máu hay sức lực mà thứ khác, mỏng hơn, nhẹ hơn, kiểu thứ mà chưa có tên.

Bấm tầng 18. Cabin đi xuống. Cửa mở. Hành lang tầng 18. Đèn huỳnh quang. Sàn gạch men. Bình thường.

Phòng 1806. Khóa cửa. Giường.

Duy nằm xuống. Nhắm mắt.

Mùi cơm cháy đáy nồi gang vẫn loáng thoáng trong mũi. Kiểu loáng thoáng mà ký ức đã theo anh lên, kiểu theo mà thành phố lỗi không giữ mọi thứ bên trong, một ít rò ra, một ít bám vào người sống đi qua, kiểu bám mà hương.

Quạt trần quay. Duy đếm. Sáu vòng phút.

Sáu. Hôm qua bảy. Giảm thêm.

Anh ngủ. Và trong giấc ngủ, anh nghe tiếng mẹ gọi về ăn cơm, từ xa, rất xa, từ phía dưới sàn phòng 1806.

Ch.73/101
3.029 từ