Tầng 19 Không Tồn Tại
Chương 76: Những Tồn Tại Dư Thừa
Chương 76

Những Tồn Tại Dư Thừa

Quạt trần quay bốn vòng phút khi Duy mở mắt.

Anh nằm đếm. Bốn. Không phải năm. Hôm qua năm, hôm kia sáu, tuần trước bảy. Quạt chậm dần như đồng hồ hết pin, kiểu hết pin mà kim giây vẫn gắng nhích nhưng khoảng cách giữa mỗi vòng dài thêm, và Duy biết (kiểu biết mà không cần ai nói) rằng khi quạt dừng hẳn, thứ gì đó sẽ kết thúc.

Khung ảnh trên bệ cửa sổ. Đứa bé trai cười. Gỗ bóng ở rìa nơi tay mẹ đã vuốt. Duy nhìn ảnh mỗi sáng, kiểu nhìn mà thành thói quen trong ba ngày: thức, đếm quạt, nhìn ảnh, đếm lại quạt.

Bốn vòng.

Tối nay, lần thứ tư xuống.

Cầu thang mười chín bậc quen thuộc hơn cầu thang bộ tầng 18. Cửa sắt B2 xa thêm, kiểu xa mà Duy phải đi thêm mười lăm phút so với lần đầu. Chìa khóa đồng đen. Mùi mưa cũ. Ánh sáng xám.

An đợi ở quảng trường, ngồi trên ghế đá quen, cạnh radio tắt. Khi Duy đến, cô đứng dậy. Không nói. Đi.

Nhưng không đi về khu ký ức thất lạc. Không đi về ngôi nhà sơn vàng. Đi thẳng qua quảng trường, rẽ trái ở gốc bàng sơn trắng, vào con đường mà Duy chưa từng đi.

– Đi đâu?

– Quảng trường trung tâm, An nói. Chỗ tôi chưa cho anh thấy.

– Tại sao bây giờ?

An không quay lại. Vai cô hơi nhún, kiểu nhún mà An thay cho lời giải thích dài.

– Vì anh đã hỏi tại sao mẹ anh tỉnh táo. Câu trả lời ở quảng trường.

Họ đi. Im lặng. Bước chân vang trên vỉa hè xám, kiểu vang mà thành phố lỗi có tiếng vọng riêng (không phải vọng của tường bê tông mà vọng của khoảng trống, kiểu vọng mà nơi này rỗng ở một tầng sâu hơn mặt đất). Mùi thay đổi: mưa cũ nhạt dần, thay bằng mùi giấy, mùi mực in, mùi bụi phấn. Kiểu bụi phấn mà lớp học, kiểu lớp học mà ai đó nhớ mãi, kiểu nhớ mà ký ức về trường thành mùi trong không khí.

Con đường rộng hơn những ngõ trước. Vỉa hè hai bên lát gạch đỏ (kiểu gạch cũ, kiểu gạch mà vỉa hè Hà Nội những năm 90, bong tróc ở góc, rêu mọc khe). Đèn đường thưa nhưng sáng hơn khu dân cư. Không nhà ống. Thay vào: tòa nhà lớn hơn, kiểu tòa nhà mà cơ quan nhà nước, kiểu cơ quan mà mặt tiền phẳng, cửa sổ đều, sơn kem ngả xám. Bưu điện. Trạm y tế. Thư viện (cửa mở, đèn sáng, bên trong: kệ sách, sách trang trắng). Nhà hát (poster trên tường: vở diễn không tên, ngày diễn 19 tháng Mười Chín, kiểu ngày mà không có trong lịch).

Rồi: mở ra.

Quảng trường. Rộng. Kiểu rộng mà trung tâm thành phố, kiểu trung tâm mà có tượng đài ở giữa (tượng ai, không rõ, đầu tượng vỡ, thân tượng mờ, kiểu mờ mà sương phủ dù không có sương, kiểu phủ mà đá của tượng đang bị xóa dần). Ghế đá xung quanh. Đài phun nước khô. Đèn đường cao. Và người.

Nhiều người.

Duy dừng lại ở rìa quảng trường, nhìn. Đếm. Mười hai. Hai mươi. Nhiều hơn. Người ngồi trên ghế đá, người đứng gần đài phun nước, người đi bộ chậm trên vỉa hè quanh quảng trường. Mỗi người: bình thường. Quần áo bình thường, dáng người bình thường, khuôn mặt bình thường. Không ăn bát rỗng. Không dắt chó không có. Ngồi. Đứng. Đi. Bình thường.

Nhưng.

Duy nhìn kỹ hơn. Ghế đá thứ ba từ trái: hai người đàn ông ngồi. Giống nhau. Không phải giống kiểu anh em sinh đôi. Giống kiểu y hệt: cùng khuôn mặt, cùng nếp nhăn, cùng vết sẹo nhỏ trên trán bên phải, cùng kiểu tóc, cùng áo kẻ sọc xanh, cùng dép tổ ong. Hai người ngồi cách nhau nửa mét trên ghế đá, mắt nhìn thẳng phía trước, không nhìn nhau, không nói chuyện, không nhận ra nhau.

Ghế đá thứ năm: ba phụ nữ. Cùng khuôn mặt. Cùng tóc uốn ngắn. Cùng áo hoa tím. Ba bản, ngồi gần nhau, mỗi bản nhìn một hướng khác nhau. Không ai quay lại nhìn bản kia.

Gần đài phun nước: bốn ông già. Cùng gậy tre. Cùng mũ cối. Cùng dáng đứng hơi còng. Bốn bản của một người, đứng cách nhau vài bước, mỗi bản như đứng ở một buổi chiều riêng.

Bản sao. Không phải hai. Có chỗ ba, bốn.

– Khi thực tại sửa lỗi, An nói, giọng đều kiểu An giải thích thứ cô đã biết lâu rồi, đôi khi nó tạo ra nhiều phiên bản. Một người sống, hệ thống tạo hai, ba bản khác. Rồi chọn một bản giữ lại ở trên. Bản còn lại giấu ở đây.

Duy nhìn hai người đàn ông giống hệt nhau trên ghế đá. Cả hai ngồi đúng tư thế, đúng góc nghiêng, đúng cách đặt tay trên đùi. Nhưng bản bên trái chớp mắt. Bản bên phải không.

– Bản nào là thật?

An im lâu. Kiểu im mà cô đã nghĩ về câu hỏi này nhiều lần và vẫn chưa có câu trả lời cô chấp nhận.

– Không bản nào. Bản ở trên kia cũng không thật hơn. Chỉ là bản được chọn.

Được chọn. Không phải thật hơn. Không phải xứng đáng hơn. Chỉ là bản mà hệ thống quyết định giữ. Hai bản khác, ba bản khác, bị đẩy xuống đây. Tồn tại nhưng không được tính. Sống nhưng không thuộc về đâu. Dư thừa.

Duy đi vào quảng trường. Chậm. Cẩn thận. Nhìn từng cặp, từng nhóm bản sao. Ông cụ bốn bản gần đài phun nước: một bản ho nhẹ, ba bản còn lại đứng im. Ba phụ nữ trên ghế: một bản gãi mũi, hai bản không. Hai đàn ông: một bản cúi đầu, một bản ngẩng.

Mỗi bản: một sai lệch nhỏ. Cùng gốc nhưng khác ở chi tiết vi tế, kiểu khác mà chỉ nhận ra khi nhìn lâu. Kiểu khác mà bản gốc và bản sao cách nhau một cái chớp mắt, một tiếng ho, một góc nghiêng đầu.

Và có thứ khác. Mùi. Mỗi nhóm bản sao có mùi riêng, kiểu mùi mà không phải nước hoa hay mồ hôi mà mùi ký ức: nhóm hai đàn ông mùi thuốc lá rẻ, nhóm ba phụ nữ mùi nước xả vải, nhóm bốn ông già mùi trà đặc. Kiểu mùi mà theo người từ đời sống trước khi bị tách, bám vào da vào áo, vào cái bản chất của họ. Ký ức cuối cùng chưa rơi ra. Ký ức cuối cùng mà thành phố lỗi chưa kịp biến thành vật thể.

Duy đứng giữa quảng trường, nhìn. Đèn đường cao, ánh sáng xám vàng chiếu xuống, tạo bóng. Bóng của bản sao: giống hệt nhau. Hai người đàn ông, hai cái bóng, cùng chiều dài, cùng góc nghiêng, cùng cách tay đặt trên đùi. Nhưng bóng bản bên phải (bản không chớp mắt) đậm hơn bản bên trái một chút, kiểu đậm mà mắt thường không nhận ra nhưng Duy nhận ra vì Duy nhìn bóng (thói quen cũ, kiểu thói quen mà thợ dựng phim chú ý ánh sáng và bóng trong mọi khung hình).

Bóng đậm hơn. Bản đó "có mặt" hơn bản kia? Hay ngược lại? Bóng đậm vì người đó nặng hơn, tồn tại mạnh hơn, bám vào nơi này chặt hơn? Hay bóng đậm vì nơi này giữ bản đó lại nhiều hơn, kéo bản đó sâu hơn xuống đáy?

– Họ biết không? Biết mình là bản dư thừa?

– Không, An nói. Họ không biết mình là bản sao. Không biết có bản khác. Mỗi người nghĩ mình là duy nhất, như tất cả mọi người.

Duy đứng trước ba phụ nữ tóc uốn. Nhìn lần lượt. Cùng mắt. Cùng miệng. Cùng nốt ruồi ở cằm bên trái. Bản thứ nhất nhìn Duy. Mắt bà: trống, kiểu trống mà cư dân thành phố lỗi (nhìn mà không thấy, kiểu nhìn qua Duy, kiểu qua mà Duy không tồn tại trong thế giới của bà).

Bản thứ hai không nhìn. Mắt hướng về phía đài phun nước khô.

Bản thứ ba nhìn Duy.

Nhìn thật. Không phải nhìn xuyên qua. Nhìn vào mắt anh. Nhận ra anh. Kiểu nhìn mà mẹ Duy nhìn anh qua cửa sổ ngôi nhà sơn vàng trước khi quay đi: nhìn mà biết mình đang nhìn người thật, biết mình đang ở đâu, biết mình là gì.

Rồi bản thứ ba mở miệng.

– Anh cũng là bản dư thừa, bà nói. Giọng khẽ, kiểu khẽ mà nói một điều hiển nhiên với bà nhưng không hiển nhiên với người nghe. Anh chỉ chưa biết.

Duy đứng yên. Nhìn bà. Bà nhìn lại. Mắt bà: sáng bất thường, kiểu sáng mà khác hai bản kia (hai bản kia mờ, trống, lặp), kiểu sáng mà bà này tỉnh, kiểu tỉnh mà mẹ Duy tỉnh.

– Bà biết mình ở đây.

Không phải câu hỏi. Bà gật, kiểu gật nhẹ, kiểu nhẹ mà ai đó xác nhận thứ đã biết lâu.

– Tôi biết. Hai người kia không biết. Tôi biết.

Im lặng. Hai bản còn lại ngồi yên. Không nghe. Không phản ứng. Kiểu không nghe mà bà thứ ba nói chuyện với không khí trong thế giới của họ.

– Bà ở đây bao lâu?

Bà nhìn đài phun nước. Mắt xa. Kiểu xa mà nhớ, kiểu nhớ mà cố đo khoảng thời gian không thể đo.

– Lâu rồi. Không biết bao lâu. Ở đây không có ngày.

– Tại sao bà tỉnh? Những người khác không tỉnh.

Bà nhìn Duy. Mắt sáng. Miệng cười nhẹ, kiểu cười mà buồn, kiểu buồn mà đã quen.

– Vì tôi nhớ mình không phải bản được chọn. Nhớ rõ. Nhớ lúc bị kéo xuống đây. Nhớ cảm giác bị tách ra khỏi chính mình. Hầu hết người ta quên. Quên thì không tỉnh. Nhớ thì tỉnh, nhưng tỉnh thì đau.

Nhớ thì tỉnh. Quên thì lặp. Mẹ nhớ. Bà này nhớ. Những người tỉnh ở đây đều là người nhớ.

Và tôi nhớ mọi thứ. Trí nhớ cực tốt. Từ bé đã vậy. Nhớ chi tiết nhỏ, nhớ cả những thứ người khác đã quên.

Sai lệch. Từ An dùng. "Sai lệch rất gần anh." Nếu sai lệch là người không thuộc hệ thống ký ức bình thường, người mà cơ chế xóa không hoạt động...

Thì trí nhớ tôi không phải tài năng. Trí nhớ tôi là triệu chứng.

Bà nhìn Duy lâu. Mắt bà dịu lại, kiểu dịu mà ai lớn tuổi nhìn ai trẻ đang đau mà chưa biết, kiểu nhìn mà thương hại nhẹ (không phải thương hại nặng, chỉ nhẹ, kiểu nhẹ mà bà đã thấy nhiều người đau rồi).

– Anh khác, bà nói. Anh đi được ở đây mà không bị giữ. Anh lên anh xuống. Anh chạm ký ức mà không mất mình. Anh khác.

– Khác thế nào?

Bà lắc đầu. Chậm.

– Tôi không biết. Nhưng thành phố này biết anh. Nó cho anh đi lại tự do, kiểu tự do mà không cho ai khác.

An đứng cách Duy vài bước, nhìn bà thứ ba, mặt không biểu cảm. Kiểu mặt An khi cô nghe thứ cô đã biết nhưng nghe người khác nói vẫn khiến cô im lặng lâu hơn bình thường.

Bà thứ ba nhìn An. Nhận ra. Mắt bà chớp nhẹ, kiểu chớp mà ngạc nhiên nhẹ.

– Cô cũng ở đây lâu rồi, bà nói với An. Tôi thấy cô đi qua quảng trường. Nhiều lần. Cô không phải bản sao. Cô là thứ khác.

An không đáp. Mặt cô phẳng, nhưng tay cô khẽ nắm lại, kiểu nắm mà Duy nhận ra (ba tháng quan sát An đã dạy anh đọc cơ thể cô): An không muốn nói về mình.

Duy nhìn quanh quảng trường. Bản sao. Hàng chục người, nhưng chỉ vài danh tính. Mỗi danh tính nhân hai, nhân ba, nhân bốn. Tồn tại dư thừa. Người thừa. Thế giới tạo ra họ rồi giấu họ ở đây, kiểu giấu mà dọn phòng, kiểu dọn mà đồ cũ không vứt được nên nhét vào tầng hầm.

Và câu hỏi: nếu bản ở trên kia không thật hơn bản ở dưới này, thì tôi ở trên kia có thật không? Tôi đi lại giữa hai nơi, lên xuống qua cầu thang mười chín bậc, chìa khóa B2, nghi thức 3:33. Tôi thuộc bên nào?

Hay tôi cũng là bản dư thừa? Bản mà hệ thống chưa giấu xong?

Trong túi áo hoodie: rung.

Duy rút điện thoại. Màn hình sáng. Tin nhắn. Không nguồn, không số, không tên.

"Con có khỏe không?"

Tim Duy đập lệch một nhịp. Kiểu lệch mà cơ thể nhận ra trước não, kiểu nhận ra mà ngón tay siết điện thoại chặt hơn trước khi anh đọc xong câu.

Mẹ.

Anh nhìn An. An nhìn điện thoại trong tay anh, rồi nhìn anh. Mắt cô: hiểu. Kiểu hiểu mà không cần hỏi.

– Đi, Duy nói.

Giọng đều. Kiểu đều mà quyết định đã xong trước khi miệng mở.

An gật. Quay người. Đi về phía con đường dẫn đến khu dân cư.

Duy đi theo. Trong túi, điện thoại nóng nhẹ. Trên màn hình, tin nhắn vẫn sáng. Năm chữ. Kiểu năm chữ mà mẹ viết, kiểu viết mà đầy đủ và thừa và thiếu cùng lúc.

"Con có khỏe không?"

Anh không trả lời. Không biết trả lời ai. Không biết nút gửi ở đâu khi tin nhắn không có nguồn.

Nhưng chân anh đi nhanh hơn. Về phía ngôi nhà sơn vàng. Về phía mẹ. Qua con đường bưu điện, qua thư viện sách trắng, qua nhà hát vở diễn không tên. Mùi giấy phai dần, mùi mưa cũ trở lại, kiểu trở lại mà mùi quen, kiểu quen mà thành phố lỗi có mùi riêng cho mỗi khu và khu nào Duy cũng đã nhớ.

Phía sau, quảng trường. Bản sao ngồi trên ghế đá. Bà thứ ba nhìn theo Duy, mắt sáng, kiểu sáng mà người tỉnh nhìn người đang bước vào thứ mà họ không thể quay lại.

Và trên tay bà, điện thoại mà bà không có phát sáng nhẹ. Trên màn hình: tin nhắn.

"Con có khỏe không?"

Cùng câu. Cùng lúc. Gửi cho tất cả những đứa con mà thế giới đã tách khỏi mẹ.

Ch.76/101
2.454 từ