Chương 74: Tin Ai Bây Giờ
Chiều hôm đó, Duy mở lại thư mục đoạn quay trên laptop.
Không phải đoạn quay hôm nay. Đoạn quay cũ. Từ ba tuần trước, khi anh bắt đầu quay hành lang tầng 18 hàng đêm (kiểu quay mà thói quen, kiểu thói quen mà người dựng video, kiểu dựng video mà Duy tin ống kính hơn mắt, tin bản ghi hơn ký ức, kiểu tin mà bây giờ không còn chắc nữa vì mắt anh nhìn kiểu tầng 19 nhìn). Anh tìm đoạn quay có Tùng.
Tìm thấy. Mười bảy đoạn. Tùng đi qua sảnh, Tùng ngồi ở quầy, Tùng đứng trước thang máy, Tùng cầm radio. Duy phóng to từng đoạn. Nhìn kỹ.
Tùng trên màn hình: sương.
Không phải mờ kiểu Duy mờ (viền nhòe, da nhạt, hòa vào nền). Mà sương. Kiểu sương mà kính cửa sổ phủ hơi nước, kiểu hơi nước mà nhìn qua vẫn thấy hình nhưng không rõ đường viền, kiểu không rõ mà Tùng trên đoạn quay giống ảnh chụp qua kính mờ. Mỗi đoạn quay đều giống nhau: sương. Từ ba tuần trước. Từ hai tháng trước. Từ khi Duy bắt đầu quay.
Tùng luôn mờ trên ống kính. Không phải bắt đầu mờ dần như tôi hay An. Mà luôn mờ. Từ đầu.
Ống kính không ghi được "người thuộc tầng 19". An mờ dần trên đoạn quay vì An đang bị tầng 19 nhận lại. Tôi mờ dần vì tôi là sai lệch. Nhưng Tùng: luôn mờ. Ba mươi năm mờ. Có lẽ từ ngày đầu tiên ông đến Thanh Vân.
Tùng là gì?
Duy tắt laptop. Nhìn trần nhà. Quạt quay. Không đếm (kiểu không đếm mà cố ý, nhưng anh biết: chậm hơn hôm qua, kiểu chậm mà cảm nhận, kiểu cảm nhận mà không cần đếm vì cơ thể anh đã quen nhịp quạt đến mức biết khi nhịp thay đổi, kiểu biết mà da biết trước não).
Chín giờ tối. Duy ra hành lang. Xuống thang máy. Gương cabin: mờ hơn. Bàn tay Duy trong gương: bốn ngón rõ, ngón út biến mất. Cổ tay nhạt hơn phần còn lại. Kiểu nhạt mà ảnh bị phơi quá sáng (da trắng bệch, tĩnh mạch xanh mất, gân mất, chỉ còn hình dáng mờ). Anh đang mất từ ngoài vào.
Tầng trệt. Sảnh. Tùng.
Ông ngồi ở quầy bảo vệ. Radio trên bàn, tắt. Đèn bàn nhỏ sáng vàng, chiếu lên mặt ông: nếp nhăn sâu, mắt đục, tóc bạc thưa. Già. Nhưng kiểu già mà ba mươi năm trước cũng già y vậy (Duy nghĩ, kiểu nghĩ mà suy luận, kiểu suy luận mà ba mươi năm trước ông cũng đã có tóc bạc, mắt đục, lưng còng, kiểu không thay đổi mà thời gian không chạy).
– Chú Tùng.
Tùng nhìn lên. Mắt mở. Không chớp. Mắt đục nhưng sâu, kiểu sâu mà nhìn xuyên qua sảnh đến cái gì phía sau tường.
– Cậu lại không ngủ, Tùng nói.
Duy kéo ghế nhựa đỏ, ngồi đối diện quầy. Nhìn Tùng. Ông nhìn lại. Hai người nhìn nhau trong sảnh vắng, đèn vàng, chín giờ tối.
– Chú biết nhiều quá, Duy nói. Giọng đều. Không phải giận. Không phải buộc tội. Chỉ nói sự thật. Chú ở đây bao lâu rồi?
Tùng im. Ngón tay phải gõ nhẹ trên mặt bàn. Gõ. Gõ. Kiểu gõ mà đếm (đếm gì, Duy vẫn không biết). Mười giây im lặng. Hai mươi giây.
– Lâu hơn cậu tưởng, Tùng nói.
– Bao lâu?
Tùng nhìn Duy. Lần đầu tiên, ánh mắt ông có gì đó Duy chưa thấy trước đây: mệt. Không phải mệt kiểu thiếu ngủ. Mệt kiểu ba mươi năm. Kiểu ba mươi năm mà nhìn người biến mất, nhìn bản sao thay thế, nhìn cư dân quên nhau, nhìn ống nước thở, nhìn tầng 19 nuốt dần tòa nhà từ bên trong.
– Lão ở đây từ ngày đầu, Tùng nói. Giọng thấp. Kiểu thấp mà nói với chính mình nhiều hơn nói với Duy. Khi chung cư mới có người ở. Khi thang máy chưa có nút tầng 19. Khi hành lang chỉ có mùi sơn mới.
– Chú mờ trên camera, Duy nói. Từ đầu. Không phải mờ dần như tôi. Mà luôn mờ.
Tùng gật. Chậm. Kiểu gật mà biết cậu sẽ hỏi, kiểu biết mà đã đợi câu hỏi này lâu rồi.
– Ống kính không ghi được người thuộc tầng 19, Duy nói. Vậy chú thuộc tầng 19?
Tùng không trả lời. Ông đặt tay lên chiếc máy phát. Ngón tay vuốt nhẹ mặt kính, kiểu vuốt mà vuốt mặt người thân (nhẹ, chậm, kiểu chậm mà quen thuộc). Rồi ông nói:
– Lão không thuộc tầng 19. Lão không thuộc tầng nào. Lão ở giữa. Kiểu giữa mà cầu thang giữa hai tầng, kiểu giữa mà không ai dừng lại.
Ở giữa. Giống An. Giống tôi. Nhưng lâu hơn. Ba mươi năm ở giữa.
– Chú có bóng không? Duy hỏi.
Tùng nhìn xuống sàn. Đèn bàn chiếu vào ông. Sàn gạch men: bóng Tùng. Có. Nhưng mỏng. Kiểu mỏng mà gần như trong suốt, kiểu trong suốt mà phải nhìn kỹ mới thấy viền, kiểu viền mà bóng của bóng.
– Có, Tùng nói. Nhưng mỏng.
– Chú có ngủ không?
– Không. Tùng nói. Đơn giản. Không giải thích. Kiểu không mà sự thật, kiểu sự thật mà ba mươi năm không ngủ.
Ba mươi năm không ngủ. Ba mươi năm mắt mở. Ba mươi năm ngồi ở sảnh chung cư nghe radio phát tĩnh và nhìn cư dân biến mất từng người một.
Duy nhìn Tùng. Ông nhìn lại. Hai người im lặng. Trong sảnh, đèn vàng nhấp nháy nhẹ (bóng đèn cũ, luôn nhấp nháy, kiểu nhấp nháy mà Thanh Vân).
– Tôi tin chú được không? Duy hỏi.
Tùng cười. Lần đầu tiên Duy thấy Tùng cười. Không phải cười vui. Cười kiểu mệt, kiểu mệt mà câu hỏi đó buồn cười vì nó không có câu trả lời.
– Cậu không nên tin ai, Tùng nói. Kể cả lão. Kể cả cô bé An. Kể cả chính cậu.
– Vì sao?
– Vì ở đây, mọi thứ đều bị sửa. Ký ức bị sửa. Sự thật bị sửa. Cả người nói sự thật cũng có thể đã bị sửa mà không biết.
Tùng đứng dậy. Lưng còng. Chậm. Lấy chìa khóa từ ngăn kéo. Khóa quầy bảo vệ.
– Về phòng đi, ông nói. Đêm nay đừng mở cửa. Dù nghe gì cũng đừng mở.
– Nghe gì?
Tùng nhìn Duy. Mắt đục. Sâu.
– Tiếng gõ, ông nói. Rồi ông đi về phía cầu thang bộ, dép lê kéo trên gạch men, lưng còng, bóng mỏng trên sàn theo sau ông kiểu bóng mà gần như không có.
Mười một giờ đêm. Duy nằm trên giường phòng 1806. Cửa khóa. Bàn kê sát cửa (kiểu kê mà chặn, nhưng Duy biết: bàn không chặn được tầng 19, kiểu không chặn mà tầng 19 vào bằng cách khác, bằng nhịp thở, bằng ống nước, bằng gương, bằng giấc mơ). Đèn tắt. Rèm kéo. Tối.
Quạt quay phía trên. Duy nằm im, nghe.
Hành lang: tiếng thở mười lăm giây. Đều. Đồng bộ. Như mỗi đêm kể từ khi anh bắt đầu nghe. Nhưng đêm nay có thêm: tiếng bước chân. Chậm. Đều. Kiểu bước chân đêm hôm kia (đi qua lại, đi qua lại). Nhưng đêm nay: nhiều hơn. Không phải một đôi chân. Mà nhiều. Hai đôi? Ba? Bốn? Duy không chắc vì bước chân cùng nhịp, kiểu cùng nhịp mà mười lăm giây, kiểu mười lăm mà thở và đi cùng nhịp.
Rồi im. Bước chân dừng. Tiếng thở dừng. Im.
Im tuyệt đối.
Kiểu im mà không có không khí, kiểu không có mà phòng bị rút hết âm thanh, kiểu rút mà Duy nghe tiếng tim mình (đập, đập, kiểu đập mà nhanh hơn bình thường, kiểu nhanh mà sợ).
Rồi tiếng gõ.
Gõ cửa. Nhẹ. Kiểu gõ mà ngón tay gõ lên gỗ. Đều. Duy đếm: một, hai, ba, bốn, năm... gõ. Sáu, bảy, tám... gõ. Chín, mười... gõ. Anh đếm. Đếm đến mười chín. Mười chín tiếng gõ. Rồi dừng.
Im lặng.
Rồi lặp lại. Một, hai, ba... mười chín. Dừng.
Mười chín tiếng gõ. Gõ mười chín lần rồi dừng. Lặp lại.
Duy nằm im. Mắt mở. Nhìn trần nhà. Không mở cửa. Tùng nói: dù nghe gì cũng đừng mở. Duy nghe lời. Lần đầu tiên anh nghe lời ai đó hoàn toàn, kiểu hoàn toàn mà không kiểm chứng, kiểu không kiểm chứng mà tin (nhưng Tùng nói đừng tin ai, kể cả ông, kiểu đừng tin mà nghịch lý, kiểu nghịch lý mà nếu tin lời "đừng tin" thì phải không tin lời đó, kiểu không tin mà Duy chọn tin vì ở Thanh Vân, tin một nghịch lý tốt hơn không tin gì cả).
Mười chín tiếng gõ lần thứ ba. Dừng. Lần thứ tư. Dừng.
Rồi im. Thật sự im. Không gõ nữa.
Duy nằm im. Tim đập. Nghe. Hai phút. Năm phút. Mười phút. Im.
Rồi anh nhận ra: ly nước trên bàn cạnh giường. Ly thủy tinh. Buổi tối anh để ly trên bàn, rỗng (kiểu rỗng mà uống hết rồi để đó). Bây giờ anh nhìn sang, ánh sáng đèn LED đồng hồ trên tường chiếu nhẹ lên ly.
Ly đầy.
Nước trong, đầy tới miệng ly, kiểu đầy mà ai đó rót rất cẩn thận. Duy không rót. Anh chắc chắn: ly rỗng khi anh nằm xuống. Ly đầy bây giờ.
Ai rót nước khi tôi nằm đây, mắt mở, cửa khóa, bàn chặn?
Không ai vào phòng. Không có ai vào phòng.
Duy ngồi dậy. Nhìn ly nước. Nước trong. Không màu. Không mùi (anh cúi sát ly, ngửi: không mùi, kiểu không mùi mà nước sạch, hoặc kiểu không mùi mà nước không phải nước). Anh không uống. Đặt ly xuống lại. Nhìn.
Mặt nước phẳng lặng. Không gợn. Duy nhìn phản chiếu mình trên mặt nước: mờ. Kiểu mờ mà gương thang máy, kiểu gương mà mỗi bề mặt phản chiếu đều mờ anh. Nhưng trên mặt nước, có thêm: một bóng khác. Nhỏ hơn. Phía sau bóng Duy. Kiểu phía sau mà đứng sau lưng anh.
Duy quay lại.
Phòng trống. Không ai. Tối. Quạt quay. Giường. Tủ. Bàn. Bảng điều tra trên tường. Cửa sổ, rèm kéo. Không ai.
Anh nhìn lại ly nước. Mặt nước phẳng. Chỉ phản chiếu anh. Bóng thứ hai mất.
Tôi thấy bóng. Hay tôi tưởng tượng. Hay bóng đó thật nhưng đã biến mất khi tôi quay lại. Kiểu biến mà nhanh hơn mắt. Kiểu nhanh mà thứ đứng sau tôi biết khi nào tôi nhìn.
Duy nằm xuống. Không uống nước. Ly đầy đặt trên bàn, tĩnh lặng, bề mặt nước phản chiếu trần nhà và cánh quạt quay.
Tùng nói đừng tin ai. Kể cả chính mình. Vì ký ức bị sửa. Vì sự thật bị sửa. Vì cả người nói sự thật cũng có thể đã bị sửa mà không biết.
Tôi nhớ quá rõ. Nhớ mùi thuốc Salem. Nhớ tiếng mẹ hát ru. Nhớ 702 bước chân đêm qua. Nhưng nếu ký ức tôi không bị xóa mà bị thêm? Nếu ai đó (tầng 19, cơ chế, hệ thống) thêm ký ức vào đầu tôi (ký ức không phải của tôi) thì sao? Bố hút Salem: tôi bốn tuổi, tôi không thể nhớ rõ đến mức này. Trừ khi ai đó đặt ký ức đó vào đầu tôi.
Nếu trí nhớ tốt của tôi không phải vì tôi nằm ngoài cơ chế xóa, mà vì ai đó viết thêm vào?
Nếu tôi nhớ những thứ chưa bao giờ xảy ra?
Duy nhắm mắt. Mở mắt. Nhắm. Mở. Kiểu nhắm mở mà kiểm tra: tôi vẫn chớp mắt. Tôi vẫn là người. Chưa.
Bên ngoài: tiếng thở mười lăm giây bắt đầu lại. Đều. Chậm. Kiên nhẫn. Kiểu kiên nhẫn mà tòa nhà không vội vì tòa nhà có ba mươi năm, có mãi mãi, có tất cả thời gian trên đời.
Duy đếm nhịp thở mình. Bốn giây. Bốn giây. Bốn giây.
Vẫn bốn. Chưa chậm hơn đêm qua.
Hay đã chậm mà tôi không nhận ra. Vì nếu nhịp thay đổi đều đặn, cơ thể tôi sẽ coi nhịp mới là bình thường. Kiểu bình thường mà quen dần. Kiểu quen mà ếch trong nước ấm.
Ly nước trên bàn vẫn đầy. Duy không uống. Không đổ. Để nguyên. Kiểu để nguyên mà bằng chứng (bằng chứng rằng có thứ gì đó vào phòng anh khi anh nằm đây, kiểu vào mà không qua cửa, kiểu không qua cửa mà Người Quản Tầng cũng không qua cửa, kiểu Người Quản Tầng mà xuất hiện trong gương).
Tin ai bây giờ? Không tin Tùng (vì Tùng mờ trên ống kính). Không tin bà Hoa, anh Phong (bản sao). Không tin An (An ở tầng 19, An là sai lệch, An có thể đã bị sửa). Không tin mẹ (mẹ ở thành phố lỗi, mẹ bảo đừng nhớ mẹ, mẹ có thể đang bảo vệ tôi hoặc đang kéo tôi vào). Không tin chính mình (ký ức có thể bị thêm, trí nhớ tốt có thể là mồi nhử).
Không ai. Không tin ai.
Nhưng tôi phải tin gì đó. Vì không tin gì cả thì nằm trên giường phòng 1806 đến mờ hết là xong. Kiểu xong mà chấp nhận, kiểu chấp nhận mà thua.
Tôi tin mắt tôi. Tôi tin cái tôi thấy. Dù mắt tôi nhìn kiểu tầng 19 nhìn. Dù cái tôi thấy có thể không phải sự thật. Nhưng đó là tất cả tôi có.
Duy nằm im. Mắt mở. Nghe nhịp thở mười lăm giây từ hành lang. Nghe quạt quay. Nghe im lặng giữa hai nhịp thở.
Và nghe, rất nhỏ, từ ly nước trên bàn: tiếng nước gợn. Nhẹ. Kiểu gợn mà ai đó vừa chạm nhẹ vào mặt nước.
Nhưng không ai chạm.
Duy nhắm mắt. Không mở lại. Lần đầu tiên trong nhiều đêm, anh cố ngủ. Không phải vì buồn ngủ. Mà vì Tùng nói: người thật phải ngủ.
Nếu ngủ được, tôi vẫn là người.
Anh nằm im. Nghe tiếng nước gợn nhẹ từ ly. Nghe nhịp thở từ hành lang. Cố ngủ. Cố không đếm. Cố không nhớ. Cố là người thật, trong phòng tối, trên giường, mắt nhắm, trong tòa nhà đang thở.
Giấc ngủ đến chậm, kiểu chậm mà mực lan trên giấy ướt. Duy không biết lúc nào anh ngủ. Nhưng anh ngủ. Và trong giấc ngủ, anh mơ: hành lang trắng, dài, cửa không số. Và ở cuối hành lang, ai đó đứng quay lưng, mặc áo đỏ.
Cô bé quay lại.
Lần đầu tiên.
Nhưng Duy tỉnh dậy trước khi thấy mặt.