Tầng 19 Không Tồn Tại
Chương 36: Mẹ quên tên con
Chương 36

Mẹ quên tên con

Duy gõ cửa phòng 1209 lúc bảy giờ tối.

Hành lang tầng 12 vắng, đèn vàng nhạt, tường sơn kem bong nhẹ ở góc chân tường. Ống nước chạy dọc trần, thở, nhịp mười lăm giây, cùng nhịp ống nước tầng 18, cùng nhịp mọi tầng, kiểu toàn bộ tòa nhà có chung một hệ tuần hoàn duy nhất. Duy đứng trước cửa 1209, tay nắm lại, gõ. Ba tiếng. Chờ.

Bên trong: tiếng dép lê trên gạch, chậm, nặng hơn lần trước, kiểu bước chân của người mệt hoặc già đi trong vài ngày.

Cửa mở. Bà Phạm Thị Nguyệt đứng trước mắt Duy, và anh cần hai giây để nhận ra sự thay đổi.

Bà gầy hơn. Không gầy kiểu ăn ít, mà gầy kiểu thứ gì đó bên trong bị rút đi. Xương gò má nhô rõ hơn lần gặp trước, mắt thâm quầng, da nhăn hơn quanh mép. Vẫn đồ ngủ bông hoa nhạt màu, vẫn dép nhựa, nhưng áo rộng hơn, kiểu cơ thể đã co lại bên dưới lớp vải.

– Cháu lại đến?

Giọng bà bình thường. Không vui, không buồn, kiểu chào người quen mà không nhớ quen từ khi nào.

– Vâng, Duy nói. Cháu ở tầng 18. Hôm trước có ghé thăm cô.

– À. Nhớ rồi. Vào đi.

Bà bước sang, mở rộng cửa. Duy bước vào.

Phòng 1209: phòng khách nhỏ, bàn ăn kê sát tường, tủ gỗ thấp, tivi cũ, cửa sổ mở hé. Đèn trần vàng, yếu, kiểu bóng đèn đã cũ nhưng không ai thay. Phòng sạch, gọn, kiểu người sống một mình lâu: mọi thứ ở đúng chỗ vì không có ai xê dịch. Một đôi dép trong, một cốc nước trên bàn, một cái quạt bàn nhỏ chạy quay đầu chậm.

Nhưng Duy nhìn thấy.

Bàn ăn: hai bộ bát đĩa.

Hai cái bát sứ trắng, hai đôi đũa, hai cái đĩa nhỏ, hai cốc thủy tinh. Xếp đối diện nhau, kiểu bàn ăn cho hai người. Sạch, không dùng, nhưng đặt sẵn, kiểu ai đó đã bày ra và quên dọn, hoặc bày ra vì thói quen mà không biết thói quen đó thuộc về đời nào.

Duy nhìn hai bộ bát đĩa, và cảm thấy thứ gì đó se lại trong ngực, kiểu nhìn thấy bằng chứng mà người sở hữu không biết là bằng chứng. Bà Nguyệt bày bàn cho hai người. Mỗi tối. Tay bà bày mà đầu bà không biết bày cho ai. Cơ thể ghi nhớ thứ mà cơ chế xóa đã lấy khỏi não, và bàn tay, ngón tay, cơ bắp, thói quen, tất cả những thứ thuộc về thịt vẫn đang giữ Linh, giữ bữa cơm, giữ tiếng gọi "ăn đi con" mà bà không còn nhớ mình từng nói.

Bà Nguyệt rót nước mời Duy, tay run nhẹ. Nước trà loãng, nguội, kiểu pha từ chiều mà không ai uống. Cốc thủy tinh có vết nứt nhỏ ở miệng, kiểu cốc đã cũ nhiều năm mà không ai thay vì không có lý do thay.

Duy nhấp nước. Nhạt. Không đắng, không ngọt, kiểu nước trà chỉ còn là nước ấm với chút màu.

– Cô sống một mình ạ? Duy hỏi, nhẹ, kiểu câu hỏi đã biết đáp án nhưng cần nghe bà nói.

– Ừ. Sống một mình lâu rồi. Bà ngồi xuống ghế đối diện Duy, tay đặt trên đùi, ngón tay mân mê viền áo. Từ hồi chuyển đến đây. Mười mấy năm rồi.

Mười mấy năm. Bà chuyển đến khi Linh còn nhỏ. Linh kể: "Mẹ em lên đây từ quê, mua vé số, nuôi em ăn học."

Duy nhìn bà. Bà nhìn lại, mắt bình thường, kiểu mắt người không giấu gì vì không có gì để giấu. Ký ức về con gái không phải bị giấu, mà đã bị lấy đi, sạch, gọn, kiểu cơ chế xóa không để lại vết cắt mà để lại da liền.

– Cô có thấy phòng này rộng không? Duy hỏi.

Bà nhìn quanh. Nhìn chậm, kiểu lần đầu nghe câu hỏi này và lần đầu thật sự nhìn căn phòng mà bà sống mỗi ngày.

– Rộng... bà nói, chậm. Rộng thật. Đôi khi tôi thấy... kiểu thiếu gì đó. Nhưng không biết thiếu gì.

Bà dừng. Ngón tay mân mê viền áo nhanh hơn, vô thức, kiểu cơ thể nhớ thứ gì đó mà đầu không nhớ.

– Kiểu phòng to quá cho một người, bà nói. Nhưng mà ai cũng nói phòng vừa. Ban quản lý ghi một người. Tôi cũng một người. Nhưng mà...

Bà dừng. Nhìn bàn ăn.

– Sao tôi để hai bộ nhỉ?

Duy nhìn theo. Hai bộ bát đĩa trên bàn, trắng, sạch, xếp đối diện, kiểu bàn ăn của hai người đã ăn cùng nhau hàng nghìn bữa cho đến khi một người biến mất và người còn lại quên nhưng tay vẫn bày hai phần.

Bà đứng dậy. Bước đến bàn, tay cầm bộ bát đĩa bên kia, kiểu cầm đồ thừa, đồ sai chỗ, đồ không thuộc về ai. Cất vào tủ chạn. Đóng cửa tủ. Quay lại ngồi.

– Thói quen, bà nói. Già rồi hay làm thừa.

Duy nuốt nước bọt. Cổ họng khô, kiểu nước không giúp gì được loại khô này. Anh vừa nhìn bà cất bộ bát đĩa của con gái mà không biết nó là của con gái, cất đi kiểu cất đồ thừa, và sự bình thường trong hành động đó kinh hoàng hơn bất kỳ điều gì Duy từng thấy ở tầng 19.

Tầng 19 xóa người. Nhưng cơ thể nhớ. Tay bà vẫn bày hai phần ăn mỗi tối dù đầu bà không biết bày cho ai. Ký ức cơ thể sống lâu hơn ký ức não, sống lâu hơn hồ sơ, sống lâu hơn ảnh, sống lâu hơn tên gọi. Và Duy vừa nhìn ký ức cuối cùng đó bị cất vào tủ, nhẹ nhàng, bình thường, kiểu không có gì xảy ra.

Duy nhìn tường. Phía sau lưng bà, trên tường sơn kem, có vết ố.

Hình chữ nhật. Khoảng 20 x 25 phân, đúng kích thước khung ảnh treo tường. Tường xung quanh ngả vàng nhẹ theo thời gian, nhưng chỗ khung ảnh từng che thì trắng hơn, sắc hơn, kiểu tường nhớ có thứ gì đó ở đó dù không còn.

Duy nhìn kỹ: một lỗ đinh nhỏ ở giữa cạnh trên. Sơn bong quanh lỗ, tròn, kiểu đinh đã đóng lâu, nhiều năm, rồi rút ra hoặc rơi ra. Không có khung ảnh. Không có ảnh. Chỉ vết.

– Cô treo gì ở đó ạ? Duy hỏi, chỉ vào vết ố.

Bà quay lại nhìn. Nhìn lâu, kiểu lần đầu thấy vết ố đó, hoặc đã thấy nhiều lần mà không bao giờ nghĩ.

– Không biết. Có lẽ treo lịch. Hoặc tranh. Tôi không nhớ.

Ảnh Linh. Ảnh mẹ con chụp cùng. Ảnh con gái mười chín tuổi, sinh viên sư phạm, tóc buộc đuôi, cười.

Duy nhìn vết ố trên tường và nghĩ: tường nhớ. Tường nhớ có khung ảnh ở đó, nhớ hình dạng, nhớ kích thước, nhớ lỗ đinh. Cơ chế xóa lấy được ảnh, lấy được ký ức, lấy được tên, lấy được hồ sơ, nhưng không lấy được vết ố trên tường. Vết ố không thuộc về Linh, vết ố thuộc về thời gian, và thời gian không bị xóa, thời gian chỉ đi qua, và dấu vết nó để lại trên tường là thứ mà cơ chế xóa chưa học cách lau.

Nhưng sẽ học. Duy biết. Bà Nguyệt vừa cất bộ bát đĩa thứ hai vào tủ. Tuần sau bà sẽ chỉ mua một bát mới khi bát cũ vỡ. Tháng sau bà sẽ sơn lại tường, hoặc tường sẽ tự ngả vàng đều. Năm sau vết ố sẽ biến mất, lỗ đinh sẽ trít lại, và phòng 1209 sẽ hoàn hảo cho một người, luôn là một người, chưa bao giờ là hai.

Duy nhìn quanh phòng, tìm thêm. Tủ giày cạnh cửa: một đôi dép nhựa, một đôi sandal cũ. Không có giày thể thao, không có giày vải, không có dép mang trong phòng cỡ nhỏ hơn. Tủ quần áo hé mở: đồ ngủ, áo bà ba, vài cái áo khoác mỏng. Không có áo hoodie, không có váy, không có đồ học sinh hay sinh viên. Phòng ngủ nhìn từ cửa: một giường đôi, một gối, một chăn, một bàn nhỏ kê sát tường có đèn ngủ. Giường đôi cho một người. Phía giường còn lại: trống, ga trải đều, gối không có, kiểu phần giường đó chưa bao giờ có ai nằm.

Nhưng ga trải phẳng quá. Kiểu ai đó căng ga mỗi sáng ở cả hai phía, thói quen, tự động, kiểu tay nhớ kéo ga đến mép giường bên kia dù mép giường bên kia không có ai nhàu.

– Cô có... nhớ ai không? Duy hỏi.

Giọng anh thấp, nhẹ, kiểu hỏi mà sợ đáp án. Bà đang rót thêm nước trà, tay run, nước tràn chút ra bàn. Bà lau bằng khăn nhỏ, chậm, tỉ mỉ, kiểu người cần làm gì đó để tay không rảnh.

– Nhớ ai? Bà hỏi lại, không hiểu.

– Ai đó đã sống ở đây. Với cô. Duy nói, cẩn thận từng chữ, kiểu đặt từng viên gạch lên bờ vực và biết một viên sai sẽ đổ. Ai đó... quan trọng.

Bà nhìn Duy. Lâu. Mắt bà bình thường, bình thường, bình thường, rồi không bình thường nữa. Mắt ướt. Không phải khóc, chưa phải khóc, mà ướt, kiểu mắt biết điều gì đó mà đầu chưa biết, kiểu nước mắt đến trước ký ức, kiểu cơ thể nhớ mất mát mà não đã quên.

– Không, bà nói. Giọng nhỏ, khàn. Không nhớ ai. Tôi sống một mình.

Bà dừng. Tay mân mê khăn lau trên bàn, vò, xoắn, kiểu tay cần nắm thứ gì đó.

– Nhưng tôi hay khóc, bà nói. Khóc mà không biết tại sao. Đêm, nằm một mình, tự nhiên nước mắt chảy. Không buồn. Không nhớ gì buồn. Chỉ khóc. Kiểu... kiểu cơ thể biết cái gì đó mà đầu không biết.

Duy nghe và cảm thấy thứ gì đó nặng trong ngực, nặng kiểu không thở được, kiểu nén xuống quá lâu. Bà đang mô tả chính xác điều An nói: cảm xúc là thứ cuối cùng bị xóa. Ký ức mất trước, hồ sơ mất trước, tên mất trước, mặt mất trước, giọng nói mất trước. Nhưng cảm giác mất mát, cảm giác thiếu, cảm giác phòng rộng quá cho một người, cảm giác bày hai bộ bát đĩa mà không biết tại sao, cảm giác khóc đêm mà không biết khóc vì ai, thứ đó sống dai nhất. Thứ đó sống trong cơ thể, trong tay, trong ngón tay mân mê viền áo, trong mắt ướt khi nghe câu hỏi "cô có nhớ ai không?"

Thứ đó là phần cuối cùng còn sót lại của Phạm Ngọc Linh trong mẹ cô. Và nó đang mờ dần.

Duy đứng dậy.

– Cháu về. Cô giữ sức khỏe.

– Ừ. Cảm ơn cháu. Bà lau mắt, nhanh, kiểu giấu, kiểu không muốn người lạ thấy mình khóc vì lý do mình không biết.

Duy ra cửa. Bà theo sau, dép lê trên gạch, chậm. Anh bước ra hành lang, quay lại nhìn.

Bà đứng ở cửa, một tay nắm tay nắm cửa, một tay vịn khung. Nhỏ. Gầy hơn lần trước. Mắt ướt, mép run nhẹ, kiểu người cố cười nhưng không đủ cơ mặt.

– Cháu đến chơi nữa nhé, bà nói. Ít ai đến lắm.

– Vâng. Cháu sẽ ghé.

Bà gật. Đóng cửa. Khóa.

Duy đứng ngoài hành lang. Đèn vàng nhạt, tường sơn kem, ống nước thở, mười lăm giây. Anh nghe bên trong: tiếng dép đi về phía trong, tiếng ghế kéo, tiếng ngồi xuống. Im lặng. Lâu. Rồi tiếng khóc.

Nhỏ. Kìm nén. Kiểu khóc của người sống một mình và không biết mình khóc vì ai. Kiểu khóc không có ký ức đi kèm, không có tên, không có mặt, không có giọng, chỉ có mất mát thuần túy, mất mát không hình dạng, mất mát mà cơ thể biết nhưng đầu không giải thích được.

Duy đứng ngoài cửa phòng 1209 và nghe bà Phạm Thị Nguyệt khóc, và anh biết đây là điều đáng sợ nhất anh từng chứng kiến. Không phải tầng 19. Không phải hành lang trắng. Không phải bóng sai trên mặt kính. Không phải cơ chế xóa ký ức. Mà là mẹ khóc vì con mà không biết mình có con, khóc vì mất mà không biết mất gì, khóc vì cơ thể nhớ thứ mà thế giới đã xóa, và tiếng khóc đó, nhỏ, kìm, qua cánh cửa gỗ mỏng, trong hành lang vắng tầng 12 của tòa nhà không tồn tại, là âm thanh kinh hoàng nhất Duy từng nghe.

Anh không khóc. Duy không khóc. Anh đứng ngoài cửa, lưng tựa tường, tay nắm lại, và nghe, và nhớ, và biết rằng mình là người duy nhất trên thế giới biết bà đang khóc vì ai.

Tiếng khóc kéo dài. Một phút. Hai phút. Rồi dừng. Rồi lại. Kiểu sóng, kiểu thủy triều, kiểu thứ gì đó bên trong bà dâng lên rồi rút, dâng lên rồi rút, và mỗi lần rút đi mang theo thêm một chút gì đó mà bà sẽ không bao giờ lấy lại.

Duy rời cửa phòng 1209. Đi dọc hành lang tầng 12, bước chân vang trên gạch, kiểu bước chân duy nhất trong hành lang vắng. Đi qua phòng 1210, 1211, 1212. Cửa đóng, đèn tắt, im lặng, kiểu những căn phòng bình thường trong tòa nhà bình thường. Không ai trong những căn phòng đó biết hàng xóm phòng 1209 từng có con gái. Không ai nhớ cô gái mười chín tuổi hay đi thang máy lúc mười giờ tối, xách cặp, tóc buộc đuôi, miệng cười.

Cầu thang bộ. Duy đi xuống, không đợi thang máy. Ống nước chạy dọc tường, thở, mười lăm giây. Anh đặt tay lên ống nước khi đi qua, lạnh, và nhịp truyền vào lòng bàn tay, cùng nhịp tim anh, cùng nhịp tiếng khóc bà Nguyệt, cùng nhịp cơ chế xóa đang hoạt động, chậm, đều, kiên nhẫn, lau sạch vết ố cuối cùng trên bức tường mà một người mẹ không còn nhớ có con gái.

Ch.36/101
2.424 từ