Danh Sách Còn Lại
Camera hành động nhỏ bằng đầu ngón tay cái, mua ở cửa hàng điện tử nhỏ trên đường Trần Hưng Đạo, loại rẻ nhất (bốn trăm nghìn), pin mười hai tiếng, góc quay rộng, không cần wifi. Duy mua hai cái. Trả tiền mặt. Không hỏi bảo hành.
Lắp camera thứ nhất: hành lang tầng 18, gắn lên khung đèn thoát hiểm bằng băng keo hai mặt, hướng dọc hành lang từ thang máy đến cuối (nơi luôn tối hơn). Camera nhỏ đến mức không ai để ý, kiểu nhỏ hơn hộp diêm, kiểu thứ dễ bị nhầm với thiết bị khói hoặc cảm biến nhiệt.
Camera thứ hai: hành lang tầng 12, gắn cạnh bảng chỉ dẫn thoát hiểm. Tầng 12 vì ba trong số mười một người nhòe sống ở đây: ông Phúc (1203), cô gái bế mèo (đi qua hành lang tầng 12 thường xuyên), và một cụ bà áo nâu mà Duy chưa từng gặp ngoài đời nhưng camera an ninh ghi lại ba lần trong tuần.
Duy bật cả hai camera lúc sáu giờ sáng thứ Hai. Ghi liên tục. Không cắt. Không lọc. Mọi người đi qua trong hai mươi tư giờ đều được ghi, và sau hai mươi tư giờ, Duy tháo camera, mang về phòng, copy vào ổ cứng di động, mở phần mềm dựng phim, chia đôi màn hình: bên trái camera tầng 18, bên phải camera tầng 12.
Rồi xem. Tua nhanh gấp bốn. Ghi chú mỗi người đi qua.
Mười bốn tiếng sau. Mắt nóng, cổ cứng, ba lon cà phê rỗng trên bàn. Duy nhìn kết quả trong sổ, viết gọn trên một trang:
Tầng 18, 24 giờ:
- Xuất hiện bình thường (sắc nét): 8 người
- Xuất hiện có nhòe: 3 người
- Hoàn toàn không xuất hiện trên camera dù tận mắt thấy: 1 người
Tầng 12, 24 giờ:
- Xuất hiện bình thường (sắc nét): 11 người
- Xuất hiện có nhòe: 4 người
- Hoàn toàn không xuất hiện: 2 người
Tổng: 19 cư dân sắc nét. 7 người nhòe. 3 người vô hình.
Mười chín. Lại mười chín.
Duy nhìn con số đó. Mười chín cư dân bình thường, kiểu con số đó cứ quay lại, kiểu nó nằm sẵn trong kết cấu tòa nhà này và Duy chỉ đang đọc ra những gì đã viết sẵn.
Anh gạch chân 19. Không viết bình luận. Số tự nói.
Ba người vô hình trên camera. Duy mở footage, tua đến đúng thời điểm anh biết họ đi qua (vì anh đã đứng trong phòng, mở khe cửa nhìn ra hành lang, đánh dấu giờ).
Người thứ nhất: ông Mẫn, tầng 12, phòng 1208. Buổi sáng, bảy giờ hai mươi, Duy đứng ở cầu thang tầng 12 (giả vờ gọi điện thoại), tận mắt thấy ông Mẫn mở cửa, bước ra hành lang, đi về phía thang máy. Ông mặc áo sơ mi cũ, quần tây nhàu, dép lê. Đi chậm, lưng hơi còng, tay phải cầm túi nilon. Ông gật đầu chào Duy khi đi qua. Duy gật lại.
Mở camera tầng 12, tua đến 7:20. Hành lang: trống. Cửa phòng 1208: đóng. Không ai mở, không ai bước ra, không ai đi về phía thang máy. Hành lang trống từ 7:15 đến 7:35.
Ông Mẫn gật đầu chào mình. Mình gật lại. Nhưng camera ghi lại hành lang trống.
Duy tua tiếp, tua khắp hai mươi tư tiếng footage tầng 12. Ông Mẫn không xuất hiện một lần nào. Không nhòe. Không mờ. Không viền. Đơn giản là không có. Kiểu camera nhìn xuyên qua ông, kiểu ông không tồn tại ở tần số mà camera thu được, kiểu mắt người thấy nhưng ống kính không.
Người thứ hai: cô Thảo, tầng 12, phòng 1211. Buổi chiều, Duy thấy cô xách giỏ đi chợ về, tay cầm bó rau muống, miệng cười. Trên camera: hành lang trống, giỏ đi chợ trống, bó rau muống trống. Không có ai. Không có gì.
Bó rau muống cũng không có trên camera. Cô cầm rau, rau không thật.
Ý nghĩ đó lạnh. Duy viết vào sổ, gạch chân: Vật mà người vô hình cầm cũng vô hình trên camera. Không phải chỉ người biến mất, mà mọi thứ thuộc về người đó biến mất.
Người thứ ba.
Bà Sáu. Phòng 1807. Cạnh phòng Duy.
Duy biết bà Sáu là người nhòe trên camera hệ thống (nhòe nặng, tăng dần). Nhưng camera hệ thống cũ, góc rộng, độ phân giải thấp. Camera hành động của Duy mới hơn, sắc hơn, gắn đúng tầng 18, đúng hành lang.
Và trên camera mới: bà Sáu không nhòe.
Bà Sáu không xuất hiện.
Duy tua đi tua lại. Bảy giờ sáng, lúc bà mở cửa đi ra (Duy nghe tiếng cửa qua vách phòng mỏng). Camera: hành lang trống. Mười một giờ trưa, bà về (tiếng dép lẹp kẹp trên sàn gạch, tiếng cửa mở, tiếng đồ nặng đặt xuống). Camera: trống. Năm giờ chiều, mùi canh chua thoảng qua khe cửa phòng Duy (rau muống, cà chua, mẻ). Camera: cửa phòng 1807 đóng, hành lang trống, kiểu phòng không có ai ở.
Từ nhòe nặng trên camera cũ đến hoàn toàn biến mất trên camera mới. Trong vài tuần. Bà Sáu đã vượt ngưỡng. Nhòe → vô hình. Giai đoạn tiếp theo đã đến.
Duy ngồi im. Nhìn footage hành lang tầng 18, ánh đèn vàng nhạt, sàn gạch, cửa các phòng đóng. Hành lang trống kiểu hành lang thật sự trống, kiểu không có ai sống phía sau những cánh cửa đó, kiểu tòa nhà ma trong phim nhưng đây không phải phim vì Duy vừa nghe tiếng bà Sáu ho qua vách, ho nhẹ, kiểu ho người già, kiểu ho buổi sáng.
Camera nói bà không có. Tai mình nói bà ở ngay cạnh. Cái nào đúng?
Cả hai. Và không cái nào. Bà Sáu tồn tại với mắt người, với tai người, với mũi người (mùi canh chua), nhưng không tồn tại với ống kính. Kiểu bà đang ở ngưỡng cuối, kiểu ông Phúc trước khi phòng trống hoàn toàn, kiểu bà Sáu đang ở giai đoạn mà camera đã bỏ bà lại nhưng mắt người chưa.
Nhưng mắt người cũng sẽ bỏ. Kiểu An: một phần ba khách không thấy. Kiểu mắt người chậm hơn camera, nhưng rồi cũng đến.
Sáng hôm sau. Bảy giờ mười lăm phút. Duy mở cửa phòng, bước ra hành lang.
Bà Sáu đang mở cửa phòng 1807, cùng lúc. Bà quay sang, nhìn Duy, cười. Nụ cười hiền, kiểu nụ cười bà già cười với hàng xóm trẻ, kiểu nụ cười quen vì đã cười mỗi sáng trong mấy tuần qua. Mặt bà nhăn nhiều, da nâu sạm, tóc bạc búi gọn, áo bà ba xám. Bà nhỏ, thấp hơn Duy hai cái đầu, lưng hơi còng.
– Sáng rồi, cháu. Ăn sáng chưa?
Giọng bà ấm. Kiểu giọng bà ngoại, kiểu giọng người già miền Nam (mặc dù bà sống ở đây, ở thành phố này, ở tòa nhà này). Duy nhìn bà. Nhìn kỹ. Bà đứng trước cửa 1807, dưới ánh đèn hành lang vàng nhạt, và bà rõ ràng, sắc nét, chi tiết từng nếp nhăn. Không mờ. Không nhạt. Không trong suốt.
– Dạ chưa.
– Bà nấu cháo trắng. Để bà múc cho cháu tô.
Duy muốn nói không cần. Muốn nói cảm ơn bà. Muốn nói, kiểu nói mà không nói: bà không còn trên camera. Bà đang biến mất. Bà có biết không?
– Dạ, cảm ơn bà.
Bà Sáu gật, quay vào phòng. Duy đứng lại hành lang, nhìn cửa 1807 đóng lại. Nghe tiếng bà trong phòng: tiếng bát, tiếng muỗng, tiếng nắp nồi. Tiếng thật. Bà thật. Ít nhất là với mắt và tai của Duy, bà thật.
Anh quay lại phòng. Đóng cửa. Đứng giữa phòng một lúc, kiểu người vừa nghe tin gì đó nhưng chưa xử lý xong. Rồi ngồi xuống ghế, mở laptop. Mở footage camera hành động. Tua đến đúng thời điểm vừa rồi: 7:15 sáng. Hành lang tầng 18.
Trên camera: cửa phòng 1806 mở. Duy bước ra. Đứng hành lang. Sắc nét.
Cửa phòng 1807: đóng. Không ai mở. Không ai bước ra. Duy đứng một mình trong hành lang, nhìn về phía cửa 1807, kiểu nhìn ai đó, kiểu đang nói chuyện. Nhưng hành lang trống. Chỉ có Duy.
Mình đứng đó, nhìn vào khoảng không, mấp máy môi. Trên camera, mình trông kiểu người nói chuyện một mình. Kiểu bà Nguyệt nói chuyện với cô Hương. Kiểu người nói chuyện với người không tồn tại.
Duy đóng laptop. Chậm. Đặt tay lên mặt bàn. Tay lạnh.
Bà Sáu mời cháo. Bà Sáu cười. Bà Sáu có mùi canh chua, có tiếng ho, có giọng nói ấm. Nhưng bà Sáu không có trên camera. Và mình, trên camera, đang nói chuyện với không khí.
Mười phút sau, tiếng gõ cửa. Ba tiếng gõ nhẹ, kiểu gõ lịch sự, kiểu gõ hàng xóm.
Duy mở cửa. Bà Sáu đứng ngoài, nhỏ bé trong khung cửa, tay bưng tô cháo trắng, hơi nóng bốc lên kiểu hơi nóng buổi sáng. Bên cạnh tô cháo: chén mắm kho quẹt, đĩa nhỏ dưa cải chua, đôi đũa tre.
– Bà nấu nhiều quá. Cháu ăn giúp bà.
Nụ cười. Nếp nhăn. Mắt hiền. Tay bà cầm tô cháo, tay nhỏ, gân xanh nổi, da mỏng kiểu da người già, và Duy nhìn tay bà kiểu nhìn tay An dưới đèn huỳnh quang: có mỏng không? Có trong không? Có nhạt không?
Không. Tay bà rắn chắc, da sạm nắng, kiểu tay người làm việc cả đời, kiểu tay bà bắt mắm kho quẹt mỗi sáng. Tay thật. Ấm. Duy cảm nhận hơi ấm từ tô cháo khi nhận, và hơi ấm từ ngón tay bà khi chạm nhẹ vào mu bàn tay anh.
– Cảm ơn bà.
– Ăn đi. Gầy quá.
Bà quay lưng, đi về phòng 1807. Dép lê kéo trên sàn gạch, lẹp kẹp, kiểu tiếng dép quen. Cửa 1807 đóng.
Duy đứng trong khung cửa 1806, tay bưng tô cháo nóng. Hơi nóng bốc lên, chạm mặt, chạm cằm, chạm mũi. Mùi gạo mới nấu, mùi nước cháo ngọt nhẹ, kiểu mùi bếp nhà ai đó vào buổi sáng, kiểu mùi mà người sống một mình ăn mì gói không bao giờ có trong phòng. Tô sứ trắng, viền xanh nhạt, kiểu tô cũ dùng lâu năm, men chỗ cạnh miệng hơi sứt.
Anh đóng cửa. Đặt tô cháo xuống bàn, cạnh laptop đang mở footage. Trên màn hình: hành lang trống. Trên bàn: tô cháo nóng. Hai thực tại cùng lúc, cùng bàn, cùng phòng.
Cháo nóng. Có mùi. Có vị (Duy múc một muỗng, ăn: gạo mềm, nước ngọt nhẹ, kiểu cháo nhà nấu). Nhưng người nấu không có trên camera. Người đưa không có trên camera. Chỉ có cháo.
Anh ăn hết tô. Không phải vì đói (mặc dù đói thật, mấy ngày ăn mì gói). Mà vì bà Sáu nấu cho anh, và từ chối tô cháo đó kiểu từ chối điều cuối cùng bà còn cho được trước khi... trước khi gì? Trước khi mắt Duy cũng không thấy bà nữa? Trước khi tai không nghe tiếng dép? Trước khi mũi không ngửi mùi canh chua?
Duy rửa tô (rửa bằng tay, kiểu rửa cẩn thận, kiểu tô mượn phải trả sạch). Đặt tô ngoài cửa 1807. Gõ hai tiếng. Nghe bà nói "để đó" từ bên trong.
Quay về phòng. Đóng cửa. Ngồi xuống ghế.
Tay anh lạnh.
Không phải vì phòng lạnh (phòng bình thường, quạt trần quay chậm). Không phải vì cháo nguội (cháo nóng). Lạnh kiểu khác. Kiểu lạnh từ bên trong, kiểu lạnh khi biết điều gì đó mà không thể nói, kiểu lạnh khi ăn cháo người nấu không tồn tại trên camera và biết rằng một ngày nào đó sẽ không còn tô cháo nào nữa.
Duy mở sổ. Viết:
Danh sách cư dân Thanh Vân, phân loại camera:
Sắc nét: 19
Nhòe: 7
Vô hình: 3 (ông Mẫn, cô Thảo, bà Sáu)
Tổng: 29
Tồn tại (theo camera): 19
Không tồn tại: 10
Bà Sáu đã chuyển từ nhóm "nhòe" sang "vô hình" trong vài tuần.
An ở nhóm nào? Tôi chưa kiểm tra. Cô ấy bảo đừng.
Anh đóng sổ. Nhìn bảng điều tra. Sợi chỉ đỏ nối giữa các mảnh giấy, ảnh in camera, ghi chú tay. Bảng ngày càng lớn, ngày càng dày, và Duy nhận ra: bảng này giống bảng trong phòng Duy ở 1904. Phiên bản tương lai. Kiểu bảng đó là bảng này, sau khi Duy thêm đủ dữ liệu, sau khi Duy hiểu đủ, hoặc sau khi Duy biến mất đủ.
Ngoài cửa, hành lang im lặng. Ống nước thở. Mười lăm giây. Và đâu đó bên kia vách, phòng 1807, tiếng bà Sáu hát nhỏ, bài gì đó cũ, giai điệu Duy không biết tên, giọng khàn kiểu giọng người già, kiểu giọng người hát cho mình nghe trong phòng trống (hoặc phòng mà thế giới nói là trống).
Duy lắng nghe. Bài hát kéo dài vài phút, rồi dứt. Tiếng nước chảy trong bồn rửa. Tiếng bát chạm bát. Tiếng dép lê đi từ bếp ra phòng khách. Tiếng ghế kéo. Tiếng TV mở (chương trình thời sự sáng, giọng phát thanh viên đọc tin).
Tất cả âm thanh đó đều thật. Tất cả âm thanh đó đều thuộc về một người đang sống bình thường trong phòng cạnh Duy, nấu ăn, rửa bát, xem TV buổi sáng. Và tất cả âm thanh đó đều không có người tạo ra, theo camera. Kiểu phòng ma có tiếng người, kiểu phòng trống có bát đĩa, kiểu tòa nhà này đầy những căn phòng mà chỉ tường vách biết có ai bên trong.
Duy nhìn xuống tay mình. Tay vẫn lạnh. Lạnh kiểu lạnh không tan, kiểu lạnh sẽ ở lại cả ngày, và ngày mai, và ngày sau, mỗi khi anh nghe tiếng bà Sáu qua vách mà biết rằng camera đã bỏ bà.
Kiểu giọng hát sẽ mất trước khi Duy kịp ghi lại tần số.