Quốc Sư Giả Mạo
Chương 95: Đất Bắc
Chương 95

Đất Bắc

Bảy ngày đường, và mỗi ngày, lưới Thiên Cơ thay đổi kiểu phong cảnh thay đổi: kinh thành dày đặc, vùng ngoại ô thưa dần, qua trấn thương mại dày lại, qua ruộng đồng mỏng kiểu giấy, và càng đi về phía bắc, sợi Thiên Cơ càng khác.

Ngày thứ hai, hắn thấy miếu thờ Quốc Sư đầu tiên. Nhỏ, ven đường, gỗ tạp, và bên trong, bát hương nghi ngút, trước mặt một tượng gỗ chạm thô mà hắn tưởng là tượng thần nào đó cho đến khi Phúc An nói:

– Đó là Tiên sinh. Dân dựng. Từ sau vụ cầu mưa.

Dân dựng miếu thờ mình. Mình. Tên lừa đảo xuyên không. Có miếu thờ.

Ở kiếp trước, điều này gọi là thần tượng hóa. Hoặc cult of personality. Đều không tốt.

Ngày thứ ba, qua trấn thương mại Vân Lĩnh, dân quỳ. Không phải một hai người. Cả đoạn phố quỳ. Trẻ con hát đồng dao mà hắn chưa nghe bao giờ: "Quốc Sư phán, trời nghe, Quốc Sư bước, đất theo." Giọng trẻ con trong nắng, kiểu giai điệu thần thánh hóa mà giai điệu đó ngọt đến mức hắn muốn nôn.

Mình không phải thần. Mình không phán trời. Mình bluff. Và trẻ con hát về mình kiểu hát về thánh.

Hứa Trường An đúng: biểu tượng lớn hơn người. Và bây giờ biểu tượng "Quốc Sư" đã tách khỏi mình, sống riêng, lan riêng, và mình không kiểm soát được nó nữa.

Ngày thứ năm, càng gần biên giới, niềm tin dân biến dạng. Ở kinh thành, dân tin "Quốc Sư như tre, gió nào cũng đứng." Ở Thanh Hà, dân tin "Quốc Sư phán mưa, trời mưa." Ở vùng biên, dân tin "Quốc Sư là thần chiến. Gã phán chiến, Bắc Nguyên sẽ thua."

Thần chiến. Mình không biết cầm kiếm. Mình không biết cưỡi ngựa đúng cách (bảy ngày trên xe vì mình cưỡi ngựa thì ngã). Và dân biên giới nghĩ mình là thần chiến.

Niềm tin biến dạng theo khoảng cách. Càng xa nguồn, càng méo. Quy tắc truyền thông mà mình biết từ kiếp trước: thông điệp đi qua nhiều người sẽ bị méo theo ý người truyền.

A Ly nhìn ra ngoài xe suốt bảy ngày, ít nói, mắt mở to, và hắn biết con bé đang thấy thứ hắn không thấy.

Ngày thứ sáu, con bé nói:

– Tiên sinh, sợi ở đây đục.

– Đục kiểu nào?

Con bé nhíu mày, kiểu đứa trẻ cố diễn tả màu sắc cho người mù:

– Ở kinh thành, sợi nối Tiên sinh với dân sáng kiểu vàng, kiểu ấm. Ở đây, sợi nối Tiên sinh với dân... xám. Nặng. Kiểu người tin vì sợ, không phải tin vì hiểu.

– Tin vì sợ?

– Dân biên giới sợ Bắc Nguyên. Họ tin Quốc Sư vì cần ai đó bảo vệ. Không phải vì Tiên sinh là Tiên sinh. Vì Tiên sinh là khiên.

Tin vì sợ. Niềm tin sợ hãi. Đặc kệ, miễn tạo ra Thiên Cơ thì vẫn hoạt động. Nhưng niềm tin sợ hãi không bền. Khi nào hết sợ, sẽ hết tin. Hoặc khi nào thấy khiên yếu, sẽ quay lưng.

A Ly thấy thứ này. Con bé phân biệt được chất lượng niềm tin. Đây không phải Thiên Diễn Đồng. Đây là thứ khác. Sâu hơn.

Ngày thứ bảy. Trấn biên giới Bắc Đình.

Trấn nhỏ, tường đất, lính mặc giáp cũ, và khi đoàn đến, tướng trấn thủ ra đón. Gã trung niên, mặt rám, vai rộng, bàn tay to kiểu tay cầm đao nhiều hơn cầm bút, và gã quỳ kiểu quỳ trước Quốc Sư mà đầu gối chạm đất mạnh kiểu lính quen quỳ.

– Mạt tướng Hà Trọng Nghĩa, trấn thủ Bắc Đình, tham kiến Quốc Sư.

– Dậy đi. Ta đến xem tình hình, không phải nhận lễ.

Gã dậy, mắt sáng kiểu mắt lính thấy viện binh, kiểu mắt người chờ lâu quá mà bây giờ có người đến:

– Quốc Sư đích thân đến. Lính sẽ vui. Lính sẽ...

– Lính sẽ vui. Nhưng trước khi vui, cho ta biết tình hình thật.

Hà Trọng Nghĩa ngập ngừng. Thiên Diễn Đồng đọc: gã sợ nói thật. Sợ vì nói thật = lộ yếu kém = mất chức. Nhưng gã cũng muốn nói thật, vì gã là lính, lính ít khi giỏi nói dối.

– Lương chậm ba tháng. Quân thiếu. Lính nản. Bắc Nguyên cướp lương ba lần tháng qua, không phải tấn công, cướp lương, vì chúng đói. Lính chúng tôi cũng đói. Có ngày ăn cháo loãng.

Lương chậm ba tháng. Phạm Đình Chương. Bộ Hộ ém ngân sách. Gã cố tình để lính biên giới đói, để khi Bắc Nguyên tấn công, triều đình phải mở cửa biên giới (phương án gã muốn), vì không còn quân giữ.

Gã chơi cờ bằng mạng lính. Kiểu chính trị gia mà mình ghét nhất ở kiếp trước.

– Bao nhiêu lính?

– Hai nghìn trên giấy. Nghìn ba thực tế. Bốn trăm bệnh hoặc bỏ trốn.

– Bắc Nguyên?

– Không biết chính xác. Trinh sát nói khoảng năm nghìn dọc biên giới. Nhưng không phải quân chính quy. Dân binh. Dân đói cầm dao.

Dân đói cầm dao. Nguy hiểm hơn quân đội chính quy. Vì dân đói không tuân quân lệnh. Dân đói liều.

Hắn đọc Hà Trọng Nghĩa bằng Thiên Diễn Đồng: gã thật thà, gã trung thành, gã mệt. Gã giữ biên giới bằng ý chí, không bằng quân nhu, và ý chí gã đang cạn kiểu dầu đèn.

– Tướng Hà từng phục vụ dưới quyền ai?

– Quốc Sư đời trước. Lão Quốc Sư. Mạt tướng là cận vệ của lão khi lão ra biên giới hai mươi năm trước.

Lão Quốc Sư cũng từng ra biên giới. Và gã lính này phục vụ lão.

– Quốc Sư trước thế nào?

Hà Trọng Nghĩa nhìn hắn, và trong mắt gã có thứ gì đó so sánh, kiểu người so hai bức tranh:

– Quốc Sư trước... không nói kiểu này. Lão ít nói. Lão phán bằng mắt, không bằng miệng. Lão nhìn biên giới một lần, phán "ba năm yên," và ba năm yên thật. Ngài... (gã ngập ngừng) ...ngài khác lắm.

Mình khác lão. Lão phán ít mà đúng. Mình phán nhiều mà bluff. Lão dùng Thiên Cơ thật. Mình dùng tâm lý học.

Nhưng gã lính này sẽ tin mình không? Hay gã sẽ so sánh và nghi?

– Mỗi đời Quốc Sư có cách riêng, tướng Hà. Lão dùng mắt. Ta dùng miệng. Kết quả giống nhau.

Hà Trọng Nghĩa gật, nhưng mắt gã chưa hết so sánh.

Chiều, hắn diễn "Quốc Sư vi hành" trước lính biên giới.

Đứng trên bục gỗ giữa trại, nghìn ba đôi mắt nhìn lên, và hắn dùng Thiên Diễn Đồng đọc đám đông: sợ, mệt, đói, nản. Kiểu cảm xúc tập thể mà hắn quen đọc từ kiếp trước, kiểu khán giả ở hội trường đa cấp, chỉ khác là khán giả ở đây cầm kiếm thay cầm ví.

Hắn phán. Không phán Thiên Cơ. Phán tâm lý.

– Các ngươi nghĩ Bắc Nguyên mạnh. Ta nói: chúng yếu hơn các ngươi. Các ngươi đói ba tháng, vẫn đứng. Chúng đói nửa năm, và cầm dao vì không còn gì ăn. Ai mạnh hơn? Kẻ đói mà đứng, hay kẻ đói mà cướp?

Nghìn ba đôi mắt sáng lên, kiểu lửa bắt lại trong than nguội.

– Ta đến đây không phải vì sợ các ngươi thua. Vì ta biết các ngươi sẽ thắng. Ta đến để thiên hạ biết: Quốc Sư tin lính biên giới.

Mình đang làm gì? Mình đang diễn thuyết. Kỹ năng kiếp trước: truyền cảm hứng cho đám đông. Ở kiếp trước, mình truyền cảm hứng để lừa tiền. Ở đây, mình truyền cảm hứng để giữ biên giới.

Kỹ năng giống nhau. Mục đích khác nhau. Kết quả: lính tin. Tinh thần lên. Nhưng tinh thần dựa trên biểu tượng, không dựa trên lương thực.

Bao lâu thì tinh thần mà không có cơm sẽ sụp?

Đêm. Tường thành biên giới. Gió bắc.

Hắn đứng trên tường thành đất, nhìn ra phía bắc. Bên này: đồng bằng Đại Ly, ruộng lúa vàng dưới trăng, và thỉnh thoảng ánh lửa trại lính. Bên kia: thảo nguyên Bắc Nguyên, rộng, tối, và xa xa, lửa trại, nhiều hơn bên này.

Và Thiên Cơ.

Lưới Thiên Cơ Đại Ly trải bên này biên giới: sợi vàng bạc xám, quen, kiểu lưới hắn nhìn mỗi đêm. Nhưng bên kia biên giới, lưới khác. Hoàn toàn khác.

Lưới Bắc Nguyên có texture riêng, kiểu vải dệt khác tay: thô hơn, dày hơn, sợi to hơn, màu đậm hơn, kiểu lưới dệt bằng niềm tin khác, bởi dân khác, trong ngôn ngữ khác. Và ở ranh giới, nơi hai lưới gặp nhau, chúng va. Không hòa. Va. Kiểu hai tấm gương đặt đối diện, phản chiếu nhau nhưng không bao giờ hợp nhất.

Mỗi quốc gia có lưới riêng. Biên giới quốc gia là biên giới lưới. Quy tắc 5 đúng: niềm tin có biên giới.

Và ở biên giới, hai lưới rung. Va nhau. Đất dưới chân mình rung nhẹ, kiểu rung mà người thường không cảm nhận nhưng Thiên Diễn Đồng cảm nhận: hai khối niềm tin đang ép nhau, và chỗ ép là đây, là biên giới, là nơi mình đang đứng.

Chiến tranh không chỉ là kiếm và ngựa. Là hai lưới va nhau.

Gió bắc thổi, lạnh, mang theo mùi thảo nguyên, mùi cỏ khô và phân ngựa, và từ bên kia biên giới, hắn cảm nhận qua Thiên Diễn Đồng: sợ hãi. Không phải sợ Đại Ly. Sợ đói. Sợ chết. Sợ mùa đông đến mà không có gì ăn. Nỗi sợ đó lan qua biên giới kiểu khói qua tường, và lính Đại Ly hít vào nỗi sợ đó mà không biết, và sợ theo mà không hiểu vì sao.

Cảm xúc lây. Qua lưới. Qua biên giới. Hai lưới va nhau, và cảm xúc chảy qua vết nứt.

A Ly đứng cạnh hắn trên tường thành, tóc bay trong gió bắc, và con bé nhìn ra phía bắc, im lặng, lâu, rồi nói:

– Tiên sinh, bên kia cũng có người. Cũng sợ. Cũng đói. Sợi của họ cũng rung kiểu sợi mình rung.

– Ta biết.

– Nếu cả hai bên đều sợ, tại sao phải đánh nhau?

Câu hỏi đứa trẻ mười hai tuổi. Và mình không có câu trả lời. Vì câu trả lời là: vì chính trị. Vì Khả Hãn cần chiến thắng để giữ ngôi. Vì triều đình Đại Ly cần kẻ thù để dân đoàn kết. Vì con người cần ai đó để sợ.

– Vì lưới của họ khác lưới của mình. Và khác nhau thì va nhau.

A Ly im. Nhìn phía bắc. Gió thổi. Và hai lưới, hai quốc gia, hai khối niềm tin, va nhau ở biên giới, kiểu hai đại dương gặp nhau mà nước không hòa, chỉ sóng.

Ch.95/145
1.859 từ