Bản đồ nạn nhân
Ngày 143. 21:00 tối.
Phòng trọng án, tầng 3, sở cảnh sát. Đèn tắt, chỉ sáng đèn bàn. Thư ngồi trước hai màn hình, tai nghe một bên, cửa phòng khóa từ trong. Phong gửi ổ cứng ngoài bằng xe khách từ Đông Anh chiều nay, bọc trong hộp linh kiện điện tử, không nhãn.
Cạnh Thư, Nguyễn Đình Minh, trung úy, hai mươi tám tuổi, phòng kỹ thuật hình sự. Thư biết Minh từ vụ án đầu tiên cô phụ trách, ba năm trước. Minh ít nói, giỏi dữ liệu, không hỏi nhiều. Quan trọng nhất: Minh không quen ai ở NeuroVita, không liên quan hợp đồng 200 tỷ, và không đọc tin tức công nghệ. Kiểu người chỉ tin số liệu.
– Tôi cần anh giúp tổng hợp, Thư nói. Không chính thức. Không báo cáo. Không ghi tên tôi hay anh trong bất kỳ tập tin nào.
Minh nhìn cô. Ba giây. Gật.
Dữ liệu nguồn: ổ cứng Phong (nhật ký hệ thống NeuroVita, hợp đồng, danh sách trạm BTS), hồ sơ SKTTK từ trường Lê Ngọc Hân, ghi chép Đức (ba tập viết tay, chụp lại thành ảnh), và cơ sở dữ liệu công khai (danh sách trường học, bệnh viện, đơn vị quân đội tham gia "chương trình sức khỏe" các năm 2001-2010).
Thư bắt đầu từ trường học. NeuraCare Foundation tài trợ "Chương trình Sức khỏe Thần kinh Trẻ em" tại các trường tiểu học và trung học cơ sở. Hồ sơ Sở Giáo dục (Minh truy xuất từ kho lưu trữ số): 23 trường tham gia giai đoạn 2004-2008 trên địa bàn thành phố. Đức chỉ biết 14 địa điểm khi ông rời dự án năm 2007. Chín trường còn lại triển khai sau đó.
Mỗi trường trung bình 150-300 học sinh tham gia chương trình. 23 trường, ước tính: 4.500-6.900 trẻ em tiếp xúc trực tiếp với NeuroPulse hoặc thiết bị kế tiếp.
Bệnh viện: NeuraCare phối hợp với năm bệnh viện (tâm thần, phục hồi chức năng, lão khoa) để "nghiên cứu ứng dụng kích thích thần kinh không xâm lấn." Hồ sơ Sở Y tế: 2.100 bệnh nhân nội trú tham gia giai đoạn 2003-2009.
Quân đội: chương trình "tăng cường sức bền thần kinh" ở bốn đơn vị, theo lời Bình (cựu hạ sĩ D7 mà Thư phỏng vấn). Mỗi đơn vị 30-50 người. Ước tính: 120-200 quân nhân.
Thư ghi tổng lên bảng trắng treo tường:
Tiếp xúc trực tiếp (NeuroPulse/hóa chất/tiêm): 7.000-9.200 người
Giai đoạn 3: triển khai toàn thành phố. Nước máy (florua kết hợp hợp chất thần kinh), 36 trạm phát sóng tần số thấp đời đầu (2010-2015), nâng cấp thành 47 trạm BTS SoundWave (2023 đến nay), quảng cáo LED phát tín hiệu phụ trên tàu điện, trung tâm thương mại, biển đường phố.
Thư nhìn bản đồ thành phố trên màn hình. Minh đánh dấu: mỗi trạm BTS SoundWave một vòng tròn đỏ, bán kính 500 mét. 47 vòng tròn. Chồng lên nhau, lan ra, phủ gần hết khu vực nội thành.
– Vùng phủ hiện tại, Minh nói, giọng đều, kiểu đọc số liệu, 47 trạm bao phủ khoảng 78% diện tích nội thành. Dân số vùng phủ: ước tính 5,2 triệu người tiếp xúc thường xuyên. Cộng thêm hệ thống nước máy (toàn thành phố) và LED (tuyến tàu điện, 12 trung tâm thương mại, 340 biển quảng cáo ngoài trời).
Thư nhìn con số.
– Tổng dân số thành phố?
– Khoảng 10 triệu, tính cả vùng ven.
– Ước tính bao nhiêu người tiếp xúc với ít nhất một kênh BLINDSPOT?
Minh gõ. Tính. Mười lăm giây.
– Nước máy: gần như 100% dân nội thành, khoảng 7 triệu. Sóng BTS: 5,2 triệu (chồng lấn với nhóm dùng nước máy). LED: khó ước lượng, nhưng tuyến tàu điện có 400.000 lượt/ngày, trung tâm thương mại khoảng 200.000 lượt/ngày. Tổng hợp, tính chồng lấn, ước tính bảo thủ: 2,3 triệu người tiếp xúc đồng thời ít nhất hai kênh. Ước tính rộng: trên 7 triệu tiếp xúc ít nhất một kênh.
2,3 triệu. Gần một phần tư dân số.
Thư nhìn bản đồ trên màn hình. Vòng tròn đỏ phủ kín. Minh thêm lớp thứ hai: đường ống nước máy, màu xanh. Lớp thứ ba: tuyến tàu điện và vị trí LED, màu vàng. Ba lớp chồng lên nhau, gần như không còn vùng trắng.
Ngày 144. 00:30 sáng.
Thư gọi Đức. Ông vẫn thức.
– 2,3 triệu người tiếp xúc đồng thời ít nhất hai kênh BLINDSPOT. Bác xác nhận quy mô này có khớp với kế hoạch Hạo không?
Im lặng năm giây.
– Khớp. Nhưng cô cần hiểu thêm. BLINDSPOT không chỉ có ba giai đoạn. Có bốn.
Thư cầm bút chặt hơn.
– Giai đoạn 1: lọc chú ý. Người tiếp xúc giảm khả năng nhận ra đối tượng cụ thể. Đây là nền tảng, ảnh hưởng nhẹ, phần lớn dân số ở mức này. Uống nước máy, đi qua trạm BTS, xem quảng cáo LED.
– Giai đoạn 2: xóa ký ức chọn lọc. Cần tiếp xúc gần hơn: NeuroPulse, hóa chất trực tiếp, hoặc sóng cường độ cao. Trẻ em ở trường, bệnh nhân ở viện, lính ở doanh trại. 7.000 đến 9.000 người.
– Giai đoạn 3: chèn ký ức thay thế. Confabulation có điều hướng. Não tự viết lại. Mức này chỉ xảy ra ở người tiếp xúc giai đoạn 2 cộng thêm sóng giai đoạn 3. Thư, 5 nhân chứng bệnh viện tâm thần, có thể cả tôi.
Im lặng.
– Giai đoạn 4?
Đức thở dài. Tiếng thở qua điện thoại, nặng, kiểu thở của người chuẩn bị nói điều mà chính mình chưa hoàn toàn hiểu.
– Điều hướng hành vi. Không chỉ kiểm soát nhận thức và ký ức, mà tác động lên quá trình ra quyết định. Người ở giai đoạn 4 không biết mình bị ảnh hưởng. Họ đưa ra lựa chọn mà họ tin là tự do, nhưng đã bị điều hướng bởi tín hiệu BLINDSPOT.
– Ví dụ?
– Ví dụ: cử tri bỏ phiếu cho ứng viên mà BLINDSPOT ưu tiên, vì não đã được "huấn luyện" cảm thấy quen thuộc và tin tưởng khuôn mặt đó. Ví dụ: người tiêu dùng chọn sản phẩm NeuroVita vì cảm giác "đúng" mà không giải thích được. Ví dụ: cảnh sát bỏ qua bằng chứng bất lợi cho NeuroVita, không phải vì tham nhũng, mà vì não phân loại thông tin đó là "không quan trọng."
Thư ngồi im. Sở cảnh sát đêm khuya, đèn bàn, bản đồ đỏ trên màn hình.
– Giai đoạn 4 triển khai chưa? Thư hỏi.
– Tôi không biết. Khi tôi rời dự án năm 2007, giai đoạn 4 còn trên giấy. Lý thuyết. Nhưng đó là mười bảy năm trước. Hạo có thời gian, tiền, và hạ tầng. Bốn mươi bảy trạm BTS, hệ thống nước máy, LED toàn thành phố. Anh ta có mọi thứ cần thiết.
Im lặng.
– Đại tá Nguyễn Hữu Thành ra lệnh dừng điều tra NeuroVita, Thư nói, chậm. Ông ấy ký hợp đồng 200 tỷ với NeuroVita bốn năm trước. Ông ấy ở trong vùng phủ sóng ba trạm BTS. Ông ấy uống nước máy. Ông ấy tin quyết định dừng điều tra là đúng.
– Đúng, Đức nói. Và ông ấy có thể đúng, theo não ông ấy. Đó là điều đáng sợ nhất ở giai đoạn 4: người bị ảnh hưởng không phản kháng, vì họ không biết mình bị ảnh hưởng. Họ tin mình tự do.
01:15 sáng. Minh đã về. Thư ngồi một mình trong phòng trọng án, đèn bàn sáng, bản đồ trên màn hình.
Chấm đỏ phủ kín thành phố. Không có vùng nào sạch.
Cô nhìn bản đồ. Rồi nhìn xuống tay mình. Tay phải, ngón trỏ và giữa vẫn còn vết mực từ bút bi. Tay trái, cổ tay, vết sẹo nhỏ.
Vết sẹo từ vụ truy bắt năm ngoái. Cô nhớ: trèo tường đuổi nghi phạm, cạnh sắc rạch cổ tay, máu chảy, vẫn chạy. Nhớ rõ: bức tường gạch, đêm, tiếng chân nghi phạm phía trước, cảm giác ướt ở cổ tay nhưng không dừng.
Nhớ rõ. Như cô nhớ rõ quán phở bố đưa ăn chiều chủ nhật. Quán chưa tồn tại năm 2005.
Vụ truy bắt. Bức tường. Vết sẹo. Có thật không?
Sẹo thật. Cô sờ, cảm nhận đường gờ trên da. Sẹo thật. Nhưng câu chuyện quanh vết sẹo, vụ truy bắt, bức tường gạch, nghi phạm, cô có chắc không?
Nếu 2,3 triệu người trong thành phố bị ảnh hưởng, nếu mọi nhân chứng, mọi lời khai, mọi phiên tòa trong mười lăm năm qua đều có thể bị nhiễm, thì mọi vụ án cô từng phá, mọi nghi phạm cô từng bắt, mọi bản án cô từng tin, đều có một dấu hỏi.
Thư đóng sổ tay. Tắt màn hình. Không tắt đèn bàn.
Ngồi im trong phòng trọng án, một mình, nhìn bản đồ đã tối trên màn hình, nơi những chấm đỏ vẫn cháy ở phía sau lớp kính, dù không ai nhìn.