Trường tiểu học Lê Ngọc Hân
Ngày 139. 07:45 sáng.
Thư đỗ xe cách cổng trường tiểu học Lê Ngọc Hân hai trăm mét. Quận Hai Bà Trưng, phố nhỏ, hàng cây bằng lăng chưa ra hoa. Cổng trường sơn lại màu xanh, biển hiệu mới, sân bê tông thay gạch cũ. Thư nhớ gạch đỏ. Nhớ sân rộng hơn. Nhớ cây phượng ở góc trái.
Cây phượng không còn.
Cô đứng trước cổng, nhìn vào. Giờ chào cờ, tiếng trống phát qua loa, học sinh xếp hàng sân. Hai mươi mốt năm trước, cô đứng ở hàng thứ ba, lớp 3A, cô giáo Thanh đứng bên phải. Ký ức rõ: áo trắng, quần xanh đậm, khăn quàng đỏ, tóc buộc hai bên, giày ba ta trắng mòn gót. Ký ức rõ đến mức Thư không tin nó nữa.
Cô gõ cửa phòng hiệu trưởng.
Phạm Thị Hương, phó hiệu trưởng, năm mươi ba tuổi, tóc nhuộm nâu, kính lão đeo thấp trên sống mũi. Bàn gỗ, cốc trà, giấy tờ xếp ngăn nắp.
– Đại úy Trần, chào cô. Cô gọi từ sáng sớm, tôi cũng ngạc nhiên. Cựu học sinh ít khi quay lại.
Thư ngồi đối diện, sổ tay mở trên đùi.
– Tôi cần hồ sơ về một chương trình y tế từng triển khai tại trường, giai đoạn 2004 đến 2005. Liên quan đến sức khỏe thần kinh trẻ em.
Hương nhíu mày. Nghĩ. Mười giây.
– Chương trình sức khỏe... tôi nhớ có. Nhưng chi tiết thì, cô dừng, tay xoay bút bi trên bàn, tôi về trường từ 2008. Trước đó là cô Thanh làm hiệu phó. Cô Thanh nghỉ hưu rồi.
– Cô Thanh. Nguyễn Thị Thanh?
– Đúng. Cô dạy cô hồi lớp 3 phải không?
Thư gật.
– Cô Thanh vẫn khỏe, ở ngõ Tràng Tiền.
Thư ghi địa chỉ. Rồi hỏi:
– Hồ sơ lưu trữ trường từ 2004 đến 2005, tôi xem được không?
Hương ngập ngừng.
– Hồ sơ cũ... Năm 2012 trường cải tạo, chuyển kho lưu trữ. Một số thất lạc. Nhưng tôi kiểm tra được.
Kho lưu trữ tầng hầm. Tủ sắt cũ, hồ sơ đóng bìa cứng, bụi. Hương giúp mở tủ, rồi xin phép rời đi.
Thư lật từng bìa. Năm 2003. 2004. 2005. Hồ sơ học sinh, báo cáo học kỳ, bảng điểm. Bình thường.
Giữa hồ sơ năm 2004, một tập giấy mỏng, kẹp bằng ghim bướm, bìa ghi: "Chương trình SKTTK: Biên bản triển khai."
SKTTK. Sức Khỏe Thần Kinh Trẻ Em.
Thư mở tập.
Trang đầu: biên bản làm việc giữa Ban giám hiệu trường Lê Ngọc Hân và "Quỹ Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng NeuraCare." Ngày ký: 15/09/2004. Nội dung: triển khai "chương trình đánh giá phát triển thần kinh trẻ em lớp 3-4" tại trường, thời gian 12 tháng, miễn phí. Bên B cung cấp chuyên gia, thiết bị, và quy trình đánh giá. Bên A hỗ trợ lịch học, phòng y tế, danh sách học sinh.
Trang hai: danh sách lớp tham gia. Lớp 3A, 3B, 4A, 4B. Tổng: 147 học sinh.
Thư lật danh sách 4A. Dòng thứ mười tám: Trần Anh Thư, sinh 1995, nữ.
Tay cô giữ trang giấy. Không run. Nhưng ngón cái ấn mạnh hơn bình thường vào mép bìa, đủ để giấy oằn.
NeuraCare Foundation. Tổ chức mà Thư đã truy ra khi điều tra NeuroVita: thành lập 2010 trên giấy tờ, bề ngoài hỗ trợ bệnh nhân tâm thần, thực tế kiểm soát cựu đối tượng BLINDSPOT. Nhưng chương trình này ký năm 2004, sáu năm trước khi NeuraCare đăng ký pháp nhân.
Cùng quy luật Cognitive Solutions Lab: sản xuất thiết bị từ 2001, đăng ký kinh doanh năm 2012. Thực thể tồn tại trước vỏ bọc pháp lý.
Thư lật tiếp. Trang năm: "Quy trình đánh giá" gồm ba giai đoạn. Bài tập chú ý thị giác. Nghe âm thanh qua tai nghe chuyên dụng. Kiểm tra phản xạ nhận thức bằng thiết bị hỗ trợ. "Thiết bị hỗ trợ" không được mô tả chi tiết. Chỉ ghi: "do Bên B cung cấp và vận hành."
09:40. Ngõ Tràng Tiền. Nguyễn Thị Thanh, bảy mươi mốt tuổi, tóc bạc buộc sau, lưng thẳng, mắt sáng. Phòng khách nhỏ, trà nóng, ảnh gia đình trên tường.
– Thư. Cô nhớ em. Hay cười, hay hỏi, ngồi bàn thứ ba dãy cửa sổ.
Thư cười nhẹ. Hay cười. Cô không nhớ mình hay cười.
– Cô ơi, em hỏi về chương trình sức khỏe thần kinh năm 2004-2005. Có nhóm bác sĩ đến trường.
Thanh đặt cốc trà, nhìn xa.
– Nhớ chứ. NeuraCare gì đó. Hai bác sĩ, ba kỹ thuật viên, đến mỗi tuần hai buổi, chiều thứ ba và thứ năm. Dùng phòng y tế. Các em vào từng nhóm năm người, mỗi nhóm ba mươi phút.
– Các em làm gì trong phòng?
– Xem hình trên màn hình, nghe âm thanh qua tai nghe, làm bài tập nhận diện khuôn mặt. Cô nghĩ là đánh giá phát triển, chương trình nhà nước hợp tác quỹ tài trợ. Không ai nghĩ gì khác.
– Có thiết bị gì đặc biệt không? Đeo trên tai, trên đầu?
Thanh nhíu mày. Nghĩ lâu hơn.
– Tai nghe. Nhưng không phải tai nghe thường. Có dây nối ra sau, gắn vào hộp nhỏ đặt trên bàn. Cô hỏi một lần, bác sĩ nói "thiết bị đo phản xạ thính giác." Cô không hỏi thêm. Chương trình có giấy phép Sở Giáo dục.
Thư ghi. Rồi hỏi, giọng không đổi:
– Sau chương trình, các em có biểu hiện gì khác không?
Thanh im lặng. Mắt nhìn xuống cốc trà. Mười giây.
– Có. Nhưng cô không nghĩ liên quan lúc đó.
– Biểu hiện gì, cô?
– Các em ngoan hơn. Ít nói hơn. Ít phàn nàn. Giáo viên nào cũng khen: năm đó lớp 4 dễ quản nhất từ trước đến giờ. Nhưng, Thanh dừng, tay xoay cốc trà trên đĩa, điểm trí nhớ giảm. Bài kiểm tra thuộc thơ, bảng cửu chương, các em sụt. Không nhiều, đủ để cô để ý. Và một em...
Thanh nhìn Thư. Mắt bà có thứ gì đó nằm sâu, kiểu người nhớ ra điều mình đã cố quên.
– Em Hà, lớp 4B. Về nhà kể với mẹ: "Con nhìn mẹ nhưng không nhớ mặt mẹ." Mẹ em đưa đi khám, bác sĩ nói bình thường, trẻ con hay tưởng tượng. Ba tháng sau em Hà ổn, nhớ lại. Nhưng cô không quên câu đó.
Thư ghi. Không nhìn lên. Em Hà, cùng triệu chứng với những trẻ ở trường Nguyễn Trãi mà Khải tìm thấy. Cùng cơ chế. Cùng chương trình.
Không phải mười bốn địa điểm. Nhiều hơn.
11:30. Nhà mẹ Thư, quận Ba Đình, chung cư cũ tầng bốn, cầu thang bộ. Mẹ Thư, Nguyễn Thị Lan, sáu mươi hai tuổi, đang xếp quần áo trên giường.
– Mẹ, con tìm ảnh thời tiểu học. Mẹ còn giữ không?
Mẹ nhìn cô, mắt hỏi nhưng không hỏi. Mở tủ, lấy hộp thiếc cũ, đưa.
Thư mở hộp. Ảnh in, màu đã ngả. Lớp 1: Thư mặc áo dài trắng nhí, cười toe, thiếu hai răng cửa. Lớp 2: ảnh tập thể, Thư đứng hàng hai, tay nắm bạn bên cạnh. Lớp 3: ảnh tập thể, sân trường, cây phượng ở góc.
Lớp 4. Một ảnh duy nhất. Chụp trong lớp học, ba mươi hai học sinh ngồi bàn, giáo viên đứng bên phải. Ánh sáng đèn tuýp, bảng đen phía sau.
Thư nhìn kỹ. Tìm mình. Dãy thứ ba, bàn thứ hai, cạnh cửa sổ. Mặc áo trắng, tóc buộc đuôi ngựa, cổ đeo khăn quàng đỏ.
Trên tai trái, một thiết bị nhỏ.
Không phải tai nghe thường. Hình dạng như vòng tai, ôm sát vành tai, có dây mảnh chạy ra phía sau gáy. Cô giáo Thanh mô tả đúng: dây nối ra sau, gắn vào hộp nhỏ. Trong ảnh, hộp không rõ, nhưng dây thấy rõ: chạy từ tai xuống cổ áo, biến mất sau lưng.
Thư nhìn bức ảnh. Cô bé mười tuổi nhìn thẳng ống kính, mắt tròn, miệng hơi cười. Không biết cái thứ trên tai làm gì.
– Mẹ, con hỏi cái này.
Cô chỉ thiết bị trên tai trong ảnh.
Mẹ Thư nhíu mày. Cầm ảnh, đưa sát mắt.
– Tai nghe? Mẹ không nhớ con đeo cái này.
– Con cũng không nhớ.
Mẹ nhìn cô, rồi nhìn ảnh, rồi nhìn cô. Kiểu nhìn của người cảm nhận có gì sai nhưng không biết hỏi gì.
13:20. Xe đỗ ven đường Lý Thường Kiệt, Thư gọi Đức. Ông nhấc sau hai hồi chuông.
– Bác, tôi tìm được hồ sơ trường tôi học. Chương trình SKTTK, năm 2004-2005, NeuraCare Foundation tài trợ. 147 học sinh lớp 3-4 tham gia. Tên tôi trong danh sách.
Im lặng bên kia.
– Và tôi tìm được ảnh lớp 4. Trên tai tôi có thiết bị: vòng tai, dây chạy ra sau gáy, nối hộp nhỏ. Cô giáo cũ xác nhận thiết bị tồn tại.
Im lặng dài hơn. Thư nghe tiếng thở của Đức, chậm, nặng, kiểu thở của người đang nhắm mắt.
– Mô tả lại thiết bị, Đức nói, giọng thấp.
– Vòng tai ôm sát vành, bọc nhựa trắng hoặc xám. Dây mảnh, đường kính khoảng hai milimet, chạy từ tai trái ra sau gáy. Trong ảnh không thấy hộp, nhưng cô giáo nói có hộp nhỏ đặt trên bàn.
Im lặng mười lăm giây. Thư đếm. Khi Đức im lặng lâu hơn mười giây, nghĩa là ông đang cân nhắc giữa nói và không nói.
– NeuroPulse, Đức nói. Thiết bị kích thích thần kinh thế hệ 1. Phát vi dòng điện qua dây thần kinh tai, tác động vùng thính giác và hải mã. Tôi thiết kế nguyên mẫu năm 2000.
Thư không nói gì.
– Mục đích ban đầu: điều trị rối loạn chú ý ở trẻ em. Hiệu quả thật, trong phòng thí nghiệm. Nhưng Hạo nhận ra ứng dụng khác: khi kết hợp với âm thanh ở tần số cụ thể, NeuroPulse có thể điều hướng vùng chú ý. Chọn cái gì não ghi nhớ, cái gì não bỏ qua.
Im lặng.
– Cô là đối tượng thử nghiệm, đại úy Trần. Không phải lựa chọn. Không ai hỏi ý kiến cô. Cô mới chín tuổi.
Thư nhìn ra kính xe. Phố Hà Nội buổi trưa, nắng trắng, xe máy chạy chậm. Tay phải sờ sẹo cổ tay. Sẹo thật. Xương thật. Nhưng cả năm lớp 4 trống trong đầu cô, và bây giờ cô biết vì sao: một thiết bị nhỏ trên tai, ba mươi phút mỗi chiều thứ ba và thứ năm, mười hai tháng.
– Bác Đức. NeuroPulse có tần số riêng cho mỗi người không?
Im lặng ngắn.
– Có. Mỗi thiết bị được hiệu chỉnh theo phản ứng cá nhân. Tần số ký danh. Khác nhau ở mỗi đối tượng.
– Nghĩa là nếu tìm được tần số của tôi, tôi có thể truy cập hồ sơ BLINDSPOT về chính mình.
Đức không đáp ngay. Rồi nói, giọng thận trọng:
– Về mặt lý thuyết. Hệ thống BLINDSPOT phân loại theo mã đối tượng, và mã đối tượng gắn với tần số ký danh. Nhưng cô cần truy cập hệ thống. Và hệ thống nằm trong bốn tầng không cửa sổ ở tòa nhà mà cô vừa bị cấm điều tra.
Thư nhìn bức ảnh lớp 4 đặt trên ghế phụ. Cô bé mười tuổi nhìn thẳng ống kính, mỉm cười, không biết gì.
– Tôi hiểu, Thư nói. Cảm ơn bác.
Cúp máy. Ngồi im trong xe ba mươi giây. Rồi mở sổ tay, ghi:
"Ngày 139. Trường Lê Ngọc Hân = địa điểm BLINDSPOT. NeuraCare, 2004-2005, 147 học sinh. Tôi = đối tượng. NeuroPulse thế hệ 1. Tần số ký danh. Lớp 4 trống không phải ngẫu nhiên."
Dừng bút. Ghi thêm:
"Không phải 14 địa điểm. Đức không biết hết. Hoặc Đức biết mà không nói."