Giáo sư biến mất
Khoa Thần kinh học, Đại học Y D��ợc – tầng sáu, tòa nhà mới, hành lang dài quét sơn trắng, cửa gỗ nâu đều nhau. Mỗi cửa có biển tên – phó giáo sư này, tiến sĩ kia, phòng nghiên cứu, phòng seminar. Cuối hành lang, cửa cuối: "PGS.TS Trần Quang Hà – Trưởng bộ môn Thần kinh Nhận thức."
Khải đến lúc chín giờ sáng. Không hẹn trước – vì hẹn trước nghĩa là cho người ta thời gian chuẩn bị câu trả lời. Anh gõ cửa.
– Vào.
Trần Quang Hà – năm mươi lăm, tóc muối tiêu, kính gọng đen, áo sơ-mi trắng b�� trong quần tây. Bàn đầy sách và giấy in, hai màn hình máy tính, cốc trà đã nguội. Kiểu phòng của người làm việc nhiều nhưng không dọn bao giờ.
– Chào anh. Anh là...?
– Lâm Khải. Tôi đang nghiên cứu về một dự án cũ của khoa – muốn hỏi về Giáo sư Nguyễn Minh Đức.
Hà dừng – tay đang cầm bút, không đặt xuống, không tiếp tục viết. Mắt ông nhìn Khải qua gọng kính – kiểu nhìn đánh giá nhanh của người từng bị hỏi nh���ng câu không muốn trả lời.
– Anh là nhà báo?
– Không.
– Nghiên cứu sinh?
– Không. Tôi làm phân tích hành vi. Tôi cần tìm ông Đức vì lý do chuyên môn.
Hà đặt bút xuống. Ngồi lại ghế. Cử chỉ nhỏ – nới lỏng vai, kiểu người quyết định nói chuy��n thay vì đuổi khách.
– Đức à. Lâu rồi không ai hỏi. Mười năm có lẻ.
– Ông biết ông ấy?
– Cùng khoa. Tôi vào trường năm Đức đã là phó giáo sư – giỏi nhất bộ môn, không ai chối. Chuyên gia hàng đầu về nhận thức thị giác và xử lý thông tin trong não. Có thời điểm, nghiên cứu của ông ấy được trích dẫn nhiều nhất toàn trường.
Hà nói đều, giọng giảng viên kể chuyện lịch sử khoa – xa, lạnh, không cá nhân.
– Rồi ông ấy đi.
– Đi?
– Nghỉ. Một ngày – không có thông báo trước. Trưởng khoa nói "vấn đề sức khỏe." Phòng làm việc dọn sạch trong một đêm �� tôi đ��n sáng hôm sau, cửa khóa, biển tên đã gỡ. Nhanh đến mức... không bình thường.
Hà dừng. Nhìn ra cửa sổ – hành lang im, đèn sáng, không có ai đi qua.
– Tôi hỏi trưởng khoa lúc đó – thầy Lương. Thầy nói: "Đức có vấn đề riêng. Đừng hỏi." Giọng thầy Lương khi nói câu đó – tôi nhớ rõ – không phải giọng lo lắng cho đồng nghiệp. Là giọng người muốn kết thúc chủ đề.
– Trước khi đi, Giáo sư Đức có nhắc đến dự án nghiên cứu nào đặc biệt không?
Hà nhìn Khải. Ba giây. Cân nhắc.
– Có. Năm cuối, Đức không công bố gì. Khác thường – trước đó ông ấy ra ít nhất hai bài một năm. Năm cuối – im. Phòng thí nghiệm của ông ấy khóa, chỉ nhóm riêng được vào. Tôi gặp Đức ở hành lang vài lần – ông ấy gầy đi, ít nói hơn, mắt có quầng. Kiểu người làm việc nhiều nhưng không ngủ. Hoặc kiểu người lo lắng mà không nói được.
– Ông có biết bài báo bị rút của nhóm ông ấy không?
Im lặng. Dài hơn lần trước. Hà đặt tay lên bàn – ngón gõ nh�� lên gỗ, hai lần, dừng.
– Tôi biết có bài bị rút. Vi phạm đạo đức. Nhưng chi tiết – không. Khi bài bị rút, Đức đã không còn ở trường. Mọi thứ được xử lý nội bộ, im lặng. Không ai thảo luận. Không ai bị kỷ luật công khai.
– Không ai bị kỷ luật vì thí nghiệm trên người không đồng ý?
Hà nhìn Khải – lần này lâu hơn. Mắt ông sắc hơn sau kính.
– Anh Khải. Tôi không biết anh tìm gì. Nhưng có những thứ ở trường đại học mà người ta chọn không nhìn – không phải vì không thấy, mà vì nhìn thì phải hành động, và hành động thì có hậu quả. Mười hai năm trước, tôi là phó giáo sư trẻ nhất khoa. Tôi có gia đình, có hướng dẫn bốn nghiên cứu sinh. Tôi không... tôi không ở vị trí hỏi.
Im lặng. Khải không phán xét – không phải việc của anh. Anh cần thông tin, không cần lương tâm người khác.
– Ông có biết ông Đức hiện ở đâu không?
– Không. Sau khi đi, ông ấy không liên lạc với ai ở khoa. Tôi thử gọi một lần – số cũ không dùng nữa. Email trả về. Như biến mất.
– Ông có nhớ địa chỉ nhà ông ấy thời còn ở trường?
Hà suy nghĩ.
– Phố Vĩnh Phúc. Số nhà... không nhớ chính xác. Nhà ba tầng, ban công có cây bonsai. Nhưng chắc chắn đã bán hoặc cho thuê lại rồi – mười năm.
Khải ghi. Đứng dậy.
– Cảm ơn ông.
Hà gật. Nhưng khi Khải đến cửa, ông nói thêm – giọng thấp hơn, gần như tự nói:
– Anh Khải. Dự án mà Đức làm năm cuối – tôi không biết chi tiết. Nhưng tôi nhớ một lần, ở căn-tin, Đức ngồi đối diện tôi. Mắt ông ấy... không phải mắt nhà khoa học đang phấn khích. Là mắt người biết mình đi quá xa mà không quay lại được. Ông ấy nói một câu mà tôi nhớ đến giờ.
Khải đứng yên. Chờ.
– "Quang Hà à, khi nào có thể – nên dừng sớm. Đừng để cái mình tạo ra lớn hơn c��i mình kiểm soát được."
Hà nhìn bàn. Ngón tay xoay cây bút trên mặt gỗ – chậm, vô thức.
– Tôi hỏi "anh nói gì?" Đức cười – kiểu cười mệt, kiểu cười của người không ngủ ba đêm mà biết đêm thứ tư cũng không ngủ được – và nói "không gì." Tuần sau, ông ấy biến mất. Phòng dọn sạch. Biển tên gỡ. Cả khoa – ba mươi giảng viên – tiếp tục như chưa có gì.
Hà dừng. Nhìn Khải lần cuối.
– Tôi không giúp được gì hơn. Nhưng nếu anh tìm Đức – và nếu ông ấy còn sống – tôi muốn anh biết: Đức không phải người xấu. Ông ấy là nhà khoa học giỏi nhất tôi từng gặp. Nhưng giỏi nhất không có nghĩa khôn nhất. Giỏi nhất đôi khi nghĩa là đi xa nhất – và xa nhất đôi khi không có đường về.
Khải gật. Ra cửa. Đi dọc hành lang tầng sáu – sáng, sạch, im – và nghĩ: Hà biết nhiều hơn ông nói. Nhưng ông không nói dối – ông chỉ chọn không nói hết. Kiểu người sống qua mười hai năm bằng cách nhìn sang chỗ khác. Không phải hèn. Là sinh tồn. Khải hiểu – vì anh cũng từng là kiểu người đó, trước vụ Hà Đông.
· · ·
Phố Vĩnh Phúc. Không phải phố lớn – hai làn xe, vỉa hè hẹp, hàng cây bàng già. Khải đi bộ từ đầu phố, đếm nhà – tìm nhà ba tầng có ban công bonsai. Không còn. Mười năm – bonsai chết hoặc bị cắt, nhà sơn lại, chủ đổi. Nhưng Khải không đến đây để tìm nhà cũ. Anh đến để tìm dấu vết – hàng xóm cũ, người bán nước đầu ngõ, bất kỳ ai nhớ Giáo sư Đức mười năm trước.
Không ai nhớ.
Bốn nhà cạnh – chủ mới, dọn đến ba bốn năm gần đây. Bà bán nước đầu ngõ – "Ông già? Không biết. Tôi bán ở đây bảy năm thôi." Tiệm tạp hóa cuối phố – chủ cũ đã về quê.
Khải chuyển hướng. Mở điện thoại – tra cứu hồ sơ cư trú qua mối liên hệ cũ ở phường. Anh còn giữ số Minh – cán bộ phường Vĩnh Phúc, từng nhờ Khải giúp xác minh nhận dạng một nghi phạm ba năm trước. Nợ chưa trả.
Gọi. Hai hồi chuông.
– Minh. Lâm Khải đây. Cần kiểm tra m���t hồ sơ chuyển đi. Nguyễn Minh Đức, phố Vĩnh Phúc, khoảng mười năm trước.
Im lặng ngắn. Tiếng gõ bàn phím.
– Có. Chuyển đi cách đây chín năm. Địa chỉ mới: phố Nguyễn Khánh Toàn, Cầu Giấy.
– Còn gì nữa không? Chuyển tiếp?
– Để tôi xem... Ở Nguyễn Khánh Toàn ba năm. Rồi chuyển lần nữa – lần này đến... Long Biên. Địa chỉ cụ thể: ngách 12, ngõ 45, Đức Giang.
– Còn chuyển nữa?
– Không. Hồ sơ dừng ở đó. Sáu năm trước.
– Cảm ơn.
Cúp máy. Khải ghi: Vĩnh Phúc → Nguyễn Khánh Toàn (3 năm) → Đức Giang ngách 12 ngõ 45 (6 năm trước đến nay). Nếu ông vẫn ở đó.
Ba lần chuyển nhà trong mười năm. Mỗi lần xa trung tâm hơn – Vĩnh Phúc (nội thành cũ), Nguyễn Khánh Toàn (vành đai hai), Đức Giang (vùng ven). Mỗi lần xa hơn, mỗi lần nhỏ hơn, mỗi lần khó tìm hơn. Kiểu di chuyển của người chạy trốn – không chạy khỏi thành phố, nhưng chìm dần vào lớp bên d��ới, nơi ít ai nhìn.
· · ·
Đức Giang, Long Biên. Bốn giờ chiều – nắng đã dịu nhưng không khí vẫn đặc, ẩm, nặng mùi sông gần. Ngõ 45 nằm cách đường lớn ba trăm mét – phải rẽ qua một chợ nhỏ đã vãn, chui dưới mấy tấm bạt còn giăng, đi thẳng vào khu dân cư cũ. Ngách 12 rẽ phải từ ngõ chính – hẹp hơn, xe máy phải đi chậm, tường hai bên loang lổ nước mưa cũ. Dây điện chằng chịt trên đầu – thấp đến mức Khải phải cúi nhẹ ở một đoạn.
Cuối ngách: một căn nhà cấp bốn, mái tôn, cửa sắt sơn xanh đã bạc. Rèm kéo kín – vải dày, tối màu, không hở. Không cây cảnh, không trang trí, không biển số nhà. Bên phải c���a: một hộp thư sắt gỉ, miệng b���t kín bằng băng keo đen – ông không nhận thư. Kiểu nhà mà nếu đi ngang, người ta lướt mà không nhìn. Kiểu nhà mà người ở trong muốn chính xác điều đó.
Hàng xóm – nhà bên trái, cách một bức tường gạch – cửa mở, bên trong tiếng ti-vi. Khải liếc: bà già ngồi quạt, hai đứa trẻ ch��i trên sàn. Không hỏi – chưa cần. Hỏi hàng xóm nghĩa là để lại d��u vết, và dấu vết có thể khiến Đức sợ hơn.
Khải đứng trước cửa. Nhìn: khóa treo bên ngoài – không kh��a, chỉ gài. Nghĩa là có người ở trong. Rèm cửa sổ bên phải – hơi dợn ở góc dưới, như vừa được kéo lại nhanh.
Anh gõ. Ba tiếng – đều, vừa phải, không gấp.
Im lặng. Không tiếng bước chân. Không cửa mở. Nhưng Khải nghe – tai anh được huấn luyện nghe chi tiết – tiếng thở phía sau cánh cửa. Nhẹ. Cố nén.
Anh gõ thêm ba tiếng. Cùng nhịp.
– Giáo sư Đức. Tôi biết ông ở trong. Tôi không phải NeuroVita. Tôi cần nói chuyện.
Im lặng. Mười giây. Hai mươi. Khải đếm – thói quen, không phải mất kiên nhẫn. Ba mươi giây. Bốn mươi.
Không mở.
Khải lấy danh thiếp từ ví – trắng, chỉ có tên và số điện thoại. Lật mặt sau. Lấy bút, viết:
"Tôi biết về bài báo bị rút. Và tôi biết tại sao ông ẩn mình. 7 đối tượng. 4 thành công. 1 đang giết người."
Nhét vào khe cửa – khe hẹp giữa bản lề và khung, vừa đủ cho góc danh thiếp lọt qua.
Quay đi. Bước ra ngách. Mười bước – đếm, không vội, giày chạm xi-măng đều nhịp.
Điện thoại rung. Số lạ. Mười chữ số – đầu số di động cũ, loại không dùng ứng dụng nhắn tin.
Khải nhấc.
Im lặng ở đầu d��y. Hai giây. Rồi – giọng già, khàn, run nhẹ ở phụ âm đầu:
– Đừng quay lại đây. ��ừng bao giờ.
Giọng đó dừng. Khải nghe tiếng thở – nặng hơn lúc sau cánh cửa, như người phải gắng sức để nói.
– Giáo sư Đức.
– Đừng gọi tôi bằng danh xưng đó. Đừng nh���c tên tôi trước cửa nhà tôi. Anh – anh là ai?
– Lâm Khải. Chuyên gia phân tích hành vi. Một trong bảy đối tượng đang giết người. Tôi cần hiểu thứ mà ông đã tạo ra.
Im lặng. Dài. Khải nghe thứ gì đó ở phía bên kia – không phải tiếng thở. Tiếng nuốt. Khô. Kiểu nuốt nước bọt của người sợ nhưng không có nước để uống.
– Anh không hiểu mình đang chạm vào cái gì.
Giọng ông thấp hơn – gần như thì thào, kiểu người sợ tường có tai. Mười năm sống một mình trong căn nhà cuối ngách, và ông vẫn nói nhỏ. Sợ đã trở thành ngôn ngữ mặc định.
– Thì giải thích cho tôi.
– Anh biết gì?
– Bài báo bị rút. Bảy đối tượng, bốn thành công. Vũ Hạo – nghiên cứu viên cấp cao – bây giờ là CEO NeuroVita. Hợp đồng bảo trì hệ thống giám sát thành phố, hai trăm tỉ, bốn năm qua. AI bị cài bộ lọc bảo vệ bảy đối tượng. Và một trong số đó đang giết người – công khai, giữa ban ngày, trước ống kính. Không ai nhớ.
Im lặng. Dài hơn lần trước. Khải nghe tiếng thở đổi nhịp – nhanh hơn, nông hơn. Phản ứng sinh lý của sợ hãi – hệ thần kinh giao cảm kích hoạt, nhịp tim tăng, thở gấp. Ông đang sợ – không phải sợ Khải. Sợ sự thật vừa nghe được xác nhận bởi người ngoài.
Năm giây. Mười. Khải đứng giữa ngách – tường rêu hai bên, nắng xiên từ nóc nhà đối diện, mùi ẩm mốc từ cống.
– Đừng quay lại đây.
Cúp.
Khải nhìn màn hình – cuộc gọi kết thúc. Bốn mươi ba giây. Anh lưu số. Đứng thêm mười giây giữa ngách, nhìn về phía căn nhà cấp bốn cuối ngõ – cửa sắt xanh bạc, rèm kín, im lặng. Phía sau cánh cửa đó: một người đàn ông sáu mươi hai tuổi, từng là giáo sư thần kinh học hàng đầu, đã tạo ra thứ mà cả thành phố không thể nhớ. Và bây giờ ông sống trong căn nhà cuối ngách ở vùng ven, cửa đóng, rèm kéo, sợ đến mức giọng run khi nói ba từ "đừng quay lại."
Ông sợ. Nhưng ông nghe máy. Ông gọi lại ngay – nghĩa là ông đọc danh thiếp, nghĩa là dòng chữ "1 đang giết người" khiến ông không thể không phản ứng. Sợ – nhưng không phải vô cảm. Sợ – nhưng v��n còn gì đó bên trong ông chưa chết.
Khải quay đi. Đi ra đầu ngách – nắng chiều xiên qua khe gi��a hai mái nhà, vạch một đường sáng ngang xi-măng ẩm. Xe máy đi ngang đầu ngõ – một, hai, ba chiếc, không ai nhìn vào ngách. Cuộc sống tiếp tục ở phía ngo��i – bình thư��ng, đều, không ai biết rằng ở cuối ngách có một người đàn ông đang giữ bí mật mà cả thành phố đáng lẽ phải biết.
Khải lên xe. Trên đường về, anh nghĩ – không phải về Đức, mà về giọng ông. Giọng run ở phụ âm đầu. "Đ-đừng quay lại đây." Run không phải vì lạnh, không phải vì già. Run vì mười năm sống trong sợ hãi đã trở thành phản xạ – cơ thể ông run trước khi ông kịp quyết định sợ hay không. Kiểu run của người đã bị đe dọa đủ lâu để nỗi sợ ăn vào xương.
Nhưng ông nghe máy. Ông gọi lại. Nghĩa là dòng chữ "1 đang giết người" khiến ông không thể im. Sợ – nhưng không phải vô cảm. Sợ – nhưng lương tâm chưa chết hẳn.
Cho Nguyễn Minh Đức mười hai giờ. Nếu đến lúc đó ông không gọi – Khải sẽ gõ cửa lần nữa. Và lần sau, anh sẽ không đi.