Trường học
Trường Tiểu học Nguyễn Trãi – quận Hai Bà Trưng, đường Bạch Mai. Cổng sắt sơn xanh, biển trường trắng chữ đỏ, sân bê-tông rộng với hai hàng phượng cắt tỉa gọn. Trường vẫn hoạt động – giờ ra chơi, tiếng trẻ con vọng ra đường, lẫn trong tiếng xe máy và tiếng loa nhạc quán nước đối diện.
Khải đứng bên kia đường – nhìn. Không vào trường. Chưa.
Sáng nay gọi Đức: "Mười bốn địa điểm giai đoạn hai – ông cho tôi danh sách." Đức im năm giây. Rồi: "Anh ghi đi." Đọc – chậm, rõ, kiểu người đã nhớ danh sách đó hai mươi năm. Bảy trường học (ba tiểu học, hai trung học, hai mầm non). Ba bệnh viện. Bốn trung tâm thương mại.
Trường Tiểu học Nguyễn Trãi – đầu danh sách. Đức nói: "Trường này đầu tiên. Năm 2005. Chạy hai năm liên tục." Khải hỏi: "Hiệu trưởng?" Đức: "Bà Phạm Thị Hằng. Nghỉ hưu 2018. Có lẽ còn sống ở quận."
Không tìm hiệu trưởng – chưa cần. Khải muốn giáo viên: người ngồi trong lớp mỗi ngày, tám tiếng, suốt hai năm. Người tiếp xúc nhiều nhất.
Buổi chiều – Khải tra danh sách giáo viên trường Nguyễn Trãi qua hồ sơ công khai giáo dục quận. Năm 2005-2007: mười tám giáo viên chủ nhiệm, sáu giáo viên bộ môn. Khải lọc – tìm người đã nghỉ hưu, còn ở Hà Nội. Bốn cái tên. Gọi – ba số không liên lạc được. Số bốn: Nguyễn Thị Mai, sáu mươi ba tuổi, cựu giáo viên chủ nhiệm lớp 3A (2005-2007).
Bà Mai nghe điện thoại – giọng khỏe, miền Bắc chuẩn. Khải giới thiệu: nghiên cứu về chất lượng không khí trong trường học thập niên 2000, muốn phỏng vấn ngắn. Bà Mai – không ngại, hẹn chiều ở nhà: phố Lương Yên, tầng hai, chung cư cũ.
Căn hộ bà Mai – nhỏ, gọn, sạch. Đồ nội thất cũ nhưng ngăn nắp. Bà – tóc bạc, dáng thấp, khỏe mạnh cho tuổi sáu mươi ba. Pha trà, đặt đĩa bánh đậu xanh trước mặt Khải.
– Nghiên cứu chất lượng không khí? Hay nhỉ. Ngày xưa trường Nguyễn Trãi đúng là có lắp máy lọc không khí trong lớp đấy.
Khải ngồi thẳng – nhẹ, không để lộ.
– Bà nhớ máy lọc đó?
– Nhớ chứ. Năm 2005 – tôi đang dạy lớp 3A. Một hôm có mấy người từ công ty gì đó đến – "công ty sức khỏe" hay "công ty môi trường" gì đó, tôi không nhớ tên. Họ nói hợp tác với trường, lắp máy lọc không khí miễn phí cho các lớp. Hiệu trưởng đồng ý – miễn phí mà, ai từ chối.
– Máy trông như thế nào?
– Hộp trắng, to bằng cái vali, treo trên tường gần trần. Có đèn xanh nhấp nháy – chạy suốt, không tiếng ồn. Mỗi lớp một cái. Tôi đếm – toàn trường mười tám lớp, mười tám máy. Người ta lắp nhanh lắm – một ngày xong hết. Và có bảo trì: mỗi hai tuần, có người đến kiểm tra. Nhấn nút gì đó phía sau máy, viết sổ, đi. Không nói gì với giáo viên. Tôi hỏi một lần: "Máy hoạt động bình thường không?" Người đó gật rồi đi. Mặt – bà Mai nghĩ – bình thường. Bình thường đến mức tôi không nhớ mặt. Kỳ lạ – mỗi hai tuần gặp suốt hai năm mà không nhớ mặt.
Khải – không phản ứng bề ngoài. Nhưng ghi: người bảo trì mà bà Mai không nhớ mặt. Mỗi hai tuần, suốt hai năm. Không nhớ mặt.
Có thể chỉ là quên thông thường. Có thể không.
Bà Mai tiếp:
– Tôi nghĩ đúng là máy lọc thôi – không khí trong lớp có vẻ dễ chịu hơn thật.
Bà Mai uống trà – nhìn Khải.
– Nhưng cái lạ là bọn trẻ. Năm đó bọn trẻ... ngoan bất thường.
– Ngoan như thế nào?
Bà đặt chén xuống – nghĩ, lựa lời.
– Tôi dạy hai mươi năm. Biết lớp 3 là tuổi nghịch nhất – chạy nhảy, đánh nhau, la hét. Nhưng năm đó – lớp tôi ba mươi hai em – yên. Không phải kiểu sợ cô mà yên. Mà kiểu... ít phản ứng. Bọn trẻ ngồi yên hơn, ít xung đột hơn, ít khóc hơn. Tôi từng nghĩ: chắc mình dạy giỏi lên. Nhưng giáo viên lớp bên cạnh cũng nói vậy. Và lớp trên cũng vậy.
Ít phản ứng. Ít xung đột. Ít khóc. Đúng mô tả của Đức: "Giảm chú ý đến thông tin tiêu cực. Não lọc bỏ kích thích gây lo âu."
– Bà có thấy gì bất thường ở bọn trẻ không? Ngoài việc ngoan?
Bà Mai – dừng. Tay cầm chén trà, không uống. Nghĩ lâu hơn.
– Có. Nhưng lúc đó tôi không nghĩ đó là bất thường. Chỉ bây giờ nghĩ lại – Mấy em hay quên. Quên bài, quên mang sách, quên tên bạn mới. Và có một em – em Hà, lớp tôi – một ngày em khóc vì "không nhớ mặt mẹ." Tôi gọi phụ huynh đến – mẹ em đứng trước mặt, em nhìn ba giây rồi ôm chầm. Nhưng ba giây đó – tôi thấy. Em không nhận ra mẹ mình. Ba giây.
Im – trong căn phòng nhỏ, tiếng đồng hồ trên tư���ng.
– Tôi báo ban giám hiệu. Họ nói: trẻ con hay quên, bình thường. Có lẽ đúng. Nhưng nhiều em quên – không phải một hai em. Và đợt kiểm tra cuối năm – điểm toàn trường cao hơn mọi năm. Ít em bị đuổi, ít em đánh nhau, ít phụ huynh khiếu nại. Trường được khen. Không ai hỏi tại sao.
Khải ghi nhớ – không ghi sổ, ghi trong đầu. Từng chi tiết.
– Máy lọc đó lắp bao lâu?
– Hai năm. Rồi một ngày – hết hợp đồng hay sao đó – người của công ty đến gỡ. Im lặng, nhanh, không báo trước. Sáng đến lớp thì máy đã không còn. Không ai hỏi – giáo viên không hỏi, hiệu trưởng không nói. Như nó chưa từng ở đó.
Như nó chưa từng ở đó. Quy luật lặp lại – bệnh viện T. bỏ hoang, máy lọc biến mất, hồ sơ 00 bị lấy. Mọi thứ liên quan BLINDSPOT đều có cùng thuộc tính: tồn tại, rồi biến mất, không ai hỏi. Gần như... dự án tự áp dụng nguyên lý của nó lên chính mình.
– Sau khi gỡ máy, bọn trẻ có thay đổi không?
Bà Mai gật – chậm.
– Quay lại. Nghịch lại, ồn lại, đánh nhau lại. Và – hay quên hơn. Không phải quên bài – mà qu��n kiểu khác. Vài em không nhớ chuyện xảy ra học kỳ trước. Một em hỏi tôi: "Cô ơi, năm ngoái em có đi dã ngoại không?" – dã ngoại mà cả lớp đi, em đó đứng hàng đầu chụp ảnh. Không nhớ.
Ra khỏi nhà bà Mai – Khải đi bộ. Không về nhà ngay. Đi – dọc phố Lương Yên, sang Bạch Mai, về phía trường Nguyễn Trãi. Chiều – nắng xiên, bóng dài. Đầu đang xử lý.
Trẻ em. Bảy trường – ba tiểu học, hai trung học, hai mầm non. Hai năm mỗi trường. Mỗi trường trung bình bốn trăm đến tám trăm học sinh. Tính thấp: bốn nghìn đến năm nghìn trẻ. Tính cao – nếu tính cả giáo viên, nhân viên, phụ huynh đến đón: gần mười nghìn.
Mười nghìn trẻ em và người lớn. Tiếp xúc hai năm. Một số – như em Hà – có phản ứng rõ: mất khả năng nhận diện khuôn mặt tạm thời. Đa số – không triệu chứng cấp tính, nhưng thay đổi hành vi (ngoan hơn, ít lo âu, ít phản ứng). Và sau khi dừng – lỗ hổng ký ức.
Khải dừng – trước cổng trường Nguyễn Trãi. Giờ tan học. Phụ huynh đứng đợi ngoài cổng – xe máy xếp hàng, tiếng gọi con, tiếng cười. Bọn trẻ ra – ba lô to hơn người, đồng phục trắng, chạy nhảy. Bình thường. Sống.
Nhưng hai mươi năm trước – lứa trẻ này không ở đây. Lứa khác. Giờ đã là ngư���i lớn – ba mươi, ba mươi mốt tuổi. Đi làm, lấy vợ lấy chồng, có con. Và trong đầu họ – lỗ hổng. Một năm, hai năm ký ức nhạt hơn phần còn lại. Không biết tại sao.
Khải cần gặp một người trong số đó.
Tìm cựu học sinh – không khó bằng tìm bà Lan hay Hưng. Trường Nguyễn Trãi có nhóm cựu học sinh trên mạng – Khải vào, tìm thành viên sinh năm 1997-1998 (lớp 3 năm 2005). Hỏi – lịch sự, nói đang nghiên cứu: "Có ai nhớ gì đặc biệt về năm học 2005-2006 không?"
Hai người trả lời. Hẹn gặp ở quán cà phê – riêng rẽ.
Người thứ nhất: Trần Quốc Huy, ba mươi tuổi, nhân viên ngân hàng. Ngồi đối diện Khải – bình thường, khỏe mạnh, ăn mặc chỉnh tề.
– Năm lớp 3 à? Nói thật – tôi nhớ rất ít. Lạ là tôi nhớ lớp 1, lớp 2 khá rõ. Nhớ cô giáo, nhớ bạn ngồi cạnh. Nhưng lớp 3 – mờ. Như phim bị lỗi. Tôi biết mình có đi học, có thi, có lên lớp 4. Nhưng chi tiết... không có.
– Anh nhớ cô giáo chủ nhiệm năm đó không?
Huy – nghĩ. Lâu. Mặt hơi nhăn.
– Không. Kỳ lạ – tôi nhớ cô lớp 1 (cô Thảo, tóc dài, hay mặc áo dài trắng), nhớ cô lớp 2 (cô Loan, mập, hay la). Nhưng lớp 3 – không. Biết là có cô, nhưng mặt... trống. Tôi từng hỏi mẹ: "Mẹ ơi, lớp 3 con học cô nào?" Mẹ tôi cũng không nhớ. Cả hai – quên cùng một người.
Quên cùng một người. Quên cô giáo – người phụ nữ đứng trước mặt mỗi ngày suốt một năm.
Người thứ hai: Lê Hoài An, hai mươi chín tuổi (ít hơn một lớp), nhân viên thiết kế. Gặp ở quán cà phê khác – trưa hôm sau.
– Năm lớp 3 – tôi có cảm giác thiếu. Không phải quên – mà thiếu. Như mở album ảnh và có mấy trang bị xé. Tôi biết có trang ở đó – nhưng không có hình.
– Anh nhớ gì cụ thể?
– Nhớ... mùi. Kỳ lạ – tôi nhớ mùi lớp học năm đó khác. Không hôi, không thơm – mà khác. Kiểu mùi máy lạnh mới, nhưng lớp tôi không có máy lạnh. Và nhớ – cái này tôi nghĩ mãi không hiểu – nhớ cảm giác bình yên bất thường. Năm lớp 3 tôi không sợ gì cả. Không sợ bị điểm kém, không sợ bạn bắt nạt, không sợ bố mẹ la. Không sợ – không phải vì dũng cảm, mà vì... não tôi không phản ứng. Như tắt.
Như tắt. Hạnh nhân giảm phản ứng – Đức nói: vùng não xử lý sợ hãi bị ức chế bởi tần số kích thích.
An nhìn Khải – mắt tò mò.
– Anh hỏi nhiều về lớp 3. Có chuyện gì à?
Khải – không trả lời thẳng.
– Chỉ nghiên cứu. Cảm ơn anh.
An gật – nhưng trước khi đứng dậy, dừng.
– Tôi nói thêm một chuyện. Không biết có liên quan không. Nhưng năm lớp 3 – có một bạn trong lớp tôi. Ngồi bàn cuối. Tôi không nhớ mặt bạn ấy. Không nhớ tên. Chỉ nhớ – có bạn ấy. Và sau Tết năm đó – bạn ấy không đến nữa. Không ai hỏi. Cô giáo không nói gì. Như bạn ấy chưa từng ngồi đó.
Một đứa trẻ biến mất khỏi lớp học. Không ai hỏi.
Khải nhìn An – anh ta nói giọng bình thường, không sợ, không buồn. Kiểu người kể một chi tiết cũ mà chưa bao giờ gán ý nghĩa cho nó. Cho đến bây giờ.
– Anh có nhớ bạn đó là nam hay nữ?
An nghĩ – lâu. Mắt nhìn xuống tách cà phê.
– Không. Kỳ lạ nhỉ? Ngồi cùng lớp cả năm – mà không nhớ nam hay nữ.
Khải không nói gì thêm. Cảm ơn, đứng dậy, đi. Bên ngoài quán – nắng chiều xiên, xe cộ, người đi bộ. Bình thường. Nhưng trong đầu Khải – câu nói của An xoay: "Bạn ấy không đến nữa. Không ai hỏi."
Đối tượng 00 – hai mươi mốt tuổi khi nhập bệnh viện T. Từ trại mồ côi. Trước đó – ở đâu? Trước trại mồ côi – ở đâu? Có thể... trong lớp học?
Không đủ thông tin để kết luận. Nhưng khả năng: BLINDSPOT giai đoạn hai bắt đầu ở trường – và một trong những đứa trẻ tiếp xúc nhiều nhất đã phản ứng mạnh nhất. Đủ mạnh để sau đó – khi lớn hơn – trở thành đối tượng giai đoạn một. Hoặc giai đoạn ba.
Khải ghi nhận – chưa có bằng chứng, chỉ có giả thuyết. Nhưng giả thuyết này nối hai giai đoạn: trường học (2005) và bệnh viện T. (1997 trở đi). Nếu đối tượng 00 từng là trẻ em ở trường Nguyễn Trãi – thì hắn không phải nạn nhân ngẫu nhiên. Hắn bị đưa vào hệ thống từ nhỏ.
Chiều muộn. Khải đứng bên ngoài hàng rào trường Nguyễn Trãi – sân trống, bọn trẻ đã về hết. Cổng đóng. Phượng đứng im trong nắng chiều – lá xanh, hoa chưa đến mùa.
Bảy trường. Hai năm. Bốn nghìn đến mười nghìn trẻ em. Giờ là người lớn – với lỗ hổng trong đầu mà họ nghĩ là "bình thường." Với ký ức bị cắt mà họ giải thích bằng "trẻ con hay quên." Với một năm – một năm mà não họ bị can thiệp, bị thay đổi ngưỡng chú ý, bị điều chỉnh khả năng nhận diện khuôn mặt – và không ai nói cho họ biết.
Hàng nghìn người đi giữa thành phố này mỗi ngày – mang trong đầu dấu vết của BLINDSPOT mà họ không hề hay. Và nếu Đức đúng – nếu tổn thương thần kinh không đảo ngược hoàn toàn – thì hàng nghìn người đó nhận thức thế giới khác với ng��ời bình thường. Ít nhạy hơn. Dễ bị lướt qua hơn. Dễ quên hơn.
Dễ quên hơn – nghĩa là dễ bị đối tượng 00 lợi dụng hơn.
Khải quay lưng – đi về phía ga tàu điện. Bước đều. Trong đầu – câu hỏi khác, dai hơn:
Trường Nguyễn Trãi. Quận Hai Bà Trưng. Năm 2005-2007.
Thư – ba mươi mốt tuổi. Sinh năm 1995. Năm 2005 – Thư mười tuổi. Lớp 4. Hoặc lớp 5. Quận – chưa biết Thư lớn lên ở đâu. Nhưng Hai Bà Trưng – quận nội thành, đông dân. Xác suất?
Không cao. Nhưng không bằng không.
Khải chưa hỏi. Chưa đến lúc. Nhưng câu hỏi nằm đó – giữa các thông tin khác, chờ thời điểm đúng để hỏi: "Thư, cô học tiểu học ở đâu?"
Anh bước lên tàu điện – đông người giờ tan tầm. Đứng giữa toa, tay nắm thanh vịn, mắt lướt qua hàng trăm khuôn mặt. Mỗi người – một câu chuyện, một quá khứ, một khả năng: đã từng là chuột bạch mà không biết.
Và mỗi người – nhìn Khải rồi quay đi. Như mọi ngày. Như mọi khuôn mặt khác.
Nhưng nếu đối tượng 00 đứng trong toa này – ai trong số họ sẽ nhớ?
Tàu chạy. Thành phố trượt qua cửa kính – đèn, nhà, người, bóng tối đang lan dần. Và Khải – nhớ tất cả. Từng mặt. Từng chi tiết.
Gánh nặng đó – lúc này – không nhẹ hơn.