Chương 74: Chiếc ghế trống
Quân nhận ra vào tuần thứ hai.
Không phải nhận ra kiểu đột ngột, kiểu giật mình, mà nhận ra kiểu từ từ, kiểu cảm giác lạ len vào mỗi đêm rồi gom lại thành một khoảng trống đủ lớn để anh không thể bỏ qua nữa. Chiếc ghế nhựa trắng sát tường, gần kệ nước đóng chai, chiếc ghế ông Dương hay ngồi mỗi khi ghé, đã trống mười bốn đêm.
Ông Dương ghé không đều. Không phải mỗi đêm, không phải mỗi tuần. Nhưng một tháng ít nhất bốn lần, ông sẽ đẩy cửa kính bước vào lúc hơn 1 giờ sáng, mua một chai nước lọc, ngồi ở chiếc ghế đó, uống chậm, rồi kể. Kể chuyện chung cư, kể chuyện hộ tầng năm nuôi chó, kể chuyện anh xe ôm đậu trước cổng mỗi đêm ngủ trên xe, kể chuyện mười một năm trực bảo vệ mà không ai trong tòa nhà nhớ tên mình.
Bây giờ mười bốn đêm không thấy ông.
Quân đứng sau quầy, nhìn chiếc ghế. Ánh đèn trắng chiếu đều, chiếu lên mặt ghế nhựa trắng có vết xước nhẹ, vết xước từ hồi nào không rõ. Ghế trống không khác ghế có người bao nhiêu, chỉ nhẹ hơn, chỉ lặng hơn, chỉ không có tiếng chai nước đặt xuống bàn lúc 1 giờ 15 sáng.
Chuông cửa. Hải bước vào, mũ bảo hiểm treo lưng ghế, mồ hôi trên trán, áo xanh lá giao hàng ướt nhẹ ở lưng. Đêm cuối tháng mười một, Hải vẫn chạy, vẫn giao hàng, dù còn chưa đầy một tháng nữa là đi Bình Dương.
Hải ngồi xuống bàn giữa, lon nước tăng lực Quân đã để sẵn.
– Ông Dương dạo này không ghé.
Quân nói, không phải hỏi. Hải mở lon, uống một ngụm.
– Ông bảo vệ chung cư đối diện hả?
– Ừ. Hai tuần rồi.
Hải nhìn Quân. Rồi nhìn ra cửa kính, nhìn về phía chung cư cũ bên kia con hẻm. Tòa nhà bảy tầng, cổng sắt sơn xanh đã tróc, đèn bảo vệ vàng đục.
– Để tao hỏi. Tao quen mấy anh bảo vệ bên đó, giao hàng hoài.
Quân gật. Hải uống nốt lon nước, đứng dậy, xách mũ bảo hiểm đi ra cửa. Quân nhìn theo, nhìn Hải băng qua con hẻm nhỏ, đi về phía cổng chung cư. Bóng Hải nhỏ dần trong ánh đèn đường vàng.
Quân quay lại nhìn chiếc ghế.
Ông Dương là người thứ hai ghi trong sổ Quân, sau dòng đầu tiên Quân viết lúc 3 giờ sáng ngày thứ hai làm ca đêm. Không phải dòng đầu tiên. Nhưng là cái tên đầu tiên. Trước đó Quân viết cảm nghĩ, viết quan sát, viết kiểu người chưa biết mình đang viết cho ai. Rồi ông Dương đến, kể chuyện mười một năm trực, kể không ai biết tên mình, và Quân hỏi: "Tên chú là gì?" Ông Dương im một nhịp dài, rồi nói: "Dương. Nguyễn Văn Dương. Lâu lắm rồi không ai hỏi."
Từ đêm đó, Quân bắt đầu ghi tên. Ghi tên ông Dương, ghi tên Hải, ghi tên Phúc, ghi tên chú Bình, ghi tên Vy. Rồi An Nhiên. Mỗi cái tên một trang, mỗi trang có giờ đến, có món hay mua, có câu nói đọng lại. Nhưng trang đầu tiên vẫn là ông Dương.
Trang đầu tiên.
Tiếng dép lê. Hải quay lại, bước chậm hơn lúc đi, chậm kiểu người đang cầm một tin mà không biết đặt xuống chỗ nào.
Hải đẩy cửa kính. Chuông kêu. Hải đứng ở cửa, nhìn Quân, mắt hơi cụp.
Quân biết trước khi Hải nói.
– Ông Dương mất rồi.
Hải nói, giọng nhẹ, giọng kiểu người vừa nghe tin buồn từ người lạ rồi phải mang về kể cho người quen.
– Đột quỵ. Tuần trước. Đang trực ca đêm thì ngã. Xe cấp cứu đến thì...
Hải không nói hết câu. Ngồi xuống. Đặt mũ bảo hiểm lên bàn.
– Anh bảo vệ thay ca nói mới đi đám hôm qua.
Im lặng.
Quân đứng sau quầy, tay đặt trên mặt quầy, ngón tay không gõ, không xoay, chỉ đặt. Đèn trắng sáng đều. Tủ lạnh vo vo. Gió tháng mười một lùa qua khe cửa mang theo mùi sương và mùi khói từ xe rác đi ngang.
Ông Dương mất rồi.
Quân nhìn chiếc ghế. Chiếc ghế nhựa trắng sát tường, gần kệ nước đóng chai. Ông Dương hay ngồi đó vì từ đó nhìn ra được cổng chung cư, nhìn ra được nơi mình trực mười một năm, nhìn từ bên ngoài vào bên trong lần đầu tiên.
Mười một năm trực. Biết tên mấy trăm hộ. Không ai biết tên ông.
Quân nhớ đêm đó. Tháng thứ hai, ông Dương ghé lần đầu, mua chai nước lọc, đứng ở quầy, không ngồi. Quân hỏi: "Chú ngồi không?" Ông lắc đầu. Rồi nhìn quanh cửa hàng, nhìn ghế nhựa trống, nhìn ánh đèn trắng sáng đều, rồi ngồi. Ngồi kiểu người lâu lắm rồi không có ai mời ngồi.
Ông kể. Kể từ từ, giọng khàn, giọng người quen ngồi một mình ngoài cổng chung cư suốt mười một năm nên quên cách nói chuyện dài. Kể chuyện hộ tầng ba cô giáo tiểu học hay về khuya, kể chuyện ông già tầng sáu mỗi sáng đi bộ ba vòng sân, kể chuyện thằng nhỏ tầng bảy hay chạy xe nẹt pô lúc mười hai giờ đêm. Kể bằng giọng người biết rõ đời sống của từng hộ mà không ai biết đời sống của mình.
"Không ai biết tên tôi trước khi tôi kể."
Quân nhớ câu đó. Nhớ nguyên, nhớ cả cách ông nói, cách ông dừng giữa câu, cách ông nhìn xuống chai nước lọc rồi nói tiếp. Câu đó là lý do Quân bắt đầu hỏi tên. Hỏi tên ông Dương, rồi hỏi tên mọi người. Vì nếu không ai hỏi, tên sẽ mất.
Hải ngồi im ở bàn giữa. Không uống nước. Tay đặt trên mũ bảo hiểm, ngón tay gõ nhẹ vào nhựa, tiếng lách cách nhỏ.
– Ông ấy bao nhiêu tuổi?
Hải hỏi.
– Sáu mươi hai.
Quân trả lời. Nhớ rõ. Ông Dương kể lần ghé thứ ba: sáu mươi hai tuổi, vợ ở quê Bình Thuận, con trai đi biển, ông lên Sài Gòn làm bảo vệ gửi tiền về.
– Sáu mươi hai.
Hải lặp lại. Giọng nhẹ, giọng kiểu đàn ông nhẩm lại con số rồi đặt nó vào chỗ nào đó trong đầu.
– Mấy tháng trước tao giao hàng cho hộ tầng bốn, ông ấy mở cổng cho tao. Tao chào "chú ơi", ổng cười, nói "vào đi con." Tao không biết tên ổng.
Hải dừng.
– Giờ tao mới biết tên ổng vì ông mày nói.
Im lặng. Dài. Tiếng tủ lạnh. Tiếng xe máy thưa thớt ngoài hẻm. Gió tháng mười một lạnh hơn tuần trước, lạnh kiểu Sài Gòn cuối năm, lạnh vừa đủ để biết mùa đang đổi.
Quân bước ra khỏi quầy. Đi đến chiếc ghế ông Dương hay ngồi. Đứng trước ghế, nhìn xuống. Mặt ghế trắng, sạch, bình thường, giống mọi chiếc ghế nhựa khác trong cửa hàng. Nhưng nó là ghế của ông Dương. Ông ngồi đây mỗi lần ghé, lưng tựa tường, chân hơi duỗi, chai nước lọc cầm tay, mắt nhìn ra cổng chung cư qua cửa kính. Ông ngồi đây và kể, và được nghe, và có tên.
Bây giờ ghế trống.
Quân ngồi xuống ghế đó. Ngồi ở chỗ ông Dương ngồi, lưng tựa tường, nhìn ra cửa kính. Từ đây nhìn ra, thấy cổng chung cư bên kia hẻm, thấy đèn bảo vệ vàng đục, thấy bóng ai đó đang ngồi ở vị trí ông Dương từng ngồi mười một năm. Người khác. Bảo vệ mới.
Ông Dương mất, và có người ngồi vào chỗ ông. Ở chung cư, ở cửa hàng, ở đâu cũng vậy. Ghế trống thì có người ngồi vào. Nhưng người cũ thì không thay được.
Quân đứng dậy. Đi lại quầy. Mở ngăn kéo, lấy quyển sổ ra. Quyển sổ bìa cứng màu nâu, đã dày hơn mười ba tháng trước vì kẹp thêm giấy, góc bìa sờn, gáy hơi cong vì mở nhiều. Quân lật trang đầu tiên.
Trang đầu tiên không có tên. Trang đầu tiên là dòng Quân viết lúc 3 giờ sáng ngày thứ hai: một quan sát về cửa hàng ban đêm, vài chữ nguệch ngoạc, chưa rõ hướng. Quân lật sang trang hai.
"Nguyễn Văn Dương. Bảo vệ chung cư. 62 tuổi. Vợ ở Bình Thuận, con trai đi biển. Trực 11 năm, biết tên mấy trăm hộ. Không ai biết tên ông trước khi ông kể."
"Thích uống nước lọc. Ngồi ghế sát tường gần kệ nước. Nhìn ra cổng chung cư."
"Giọng khàn. Kể chậm. Dừng giữa câu rồi mới nói tiếp."
Quân đọc. Đọc lại những dòng mình viết mười ba tháng trước, chữ còn nguyên, mực còn rõ, tên còn đầy đủ. Nguyễn Văn Dương. Ba chữ. Cái tên một người đàn ông sáu mươi hai tuổi mà không ai hỏi, cho đến đêm ông bước vào cửa hàng tiện lợi lúc 1 giờ sáng và một nhân viên ca đêm hỏi: "Tên chú là gì?"
Ông có tên. Trong sổ này, ông có tên.
Quân gấp sổ. Đặt xuống quầy. Nhìn chiếc ghế.
Hải nhìn Quân từ bàn giữa. Không nói gì. Uống lon nước, uống chậm, uống kiểu người đang ngồi cùng bạn trong một khoảng buồn mà không cần lấp đầy.
Rồi Hải nói, nhẹ:
– Mày ghi ổng trong sổ hả?
– Ừ. Dòng đầu tiên.
Hải gật.
– Vậy thì ổng không mất hẳn.
Quân nhìn Hải. Câu đó nghe đơn giản. Nhưng Quân nghe, và nghe rõ hơn nhiều thứ Hải nói. Ông Dương có tên trong sổ. Tên ông, tuổi ông, vợ ông, con trai ông, mười một năm trực, chai nước lọc, giọng khàn, câu nói "không ai biết tên tôi trước khi tôi kể." Tất cả ở đó, trên trang giấy, bằng mực, bằng chữ viết tay của một nhân viên ca đêm hai mươi bảy tuổi.
Ông không mất hẳn. Ông ở trong sổ. Ông ở trong cửa hàng này.
Im lặng. Lâu. Tiếng tủ lạnh. Tiếng đồng hồ trên tường chạy đều, tiếng kim giây gõ nhẹ qua từng giây, từng giây, kiểu thời gian vẫn đi dù ai đó đã dừng.
Quân nghĩ đến chú Bình. Chú cũng già, chú cũng một mình, chú cũng đến cửa hàng vì không có chỗ nào khác. Chú Bình sáu mươi gần tới. Ông Dương sáu mươi hai. Khoảng cách bốn năm, mỏng.
Mình sẽ mất thêm người. Cửa hàng mở bao lâu thì mất bấy lâu. Người đến rồi đi, người đến rồi mất, ghế trống rồi có người khác ngồi vào. Nhưng trang sổ thì không ai ngồi vào được.
Quân nhìn đồng hồ. 2 giờ 14 sáng. An Nhiên không đến tối nay, có lẽ ca trực kéo dài. Cửa hàng chỉ có Quân và Hải.
Hải đứng dậy. Xách mũ bảo hiểm.
– Tao còn hai đơn nữa. Chạy xong ghé lại.
– Ừ.
Hải dừng ở cửa.
– Ông Quân.
– Gì?
– Ông ghi tên tao trong sổ chưa?
Quân nhìn Hải. Cười nhẹ, cười buồn, cười kiểu người cười mà mắt nặng.
– Trang ba.
Hải gật. Rồi đi. Chuông cửa kêu rồi tắt.
Quân đứng một mình trong cửa hàng. Đèn trắng sáng đều, chiếu lên kệ hàng, lên tủ lạnh, lên quầy, lên chiếc ghế trống sát tường.
Anh đi tới chiếc ghế, lấy khăn lau sạch mặt ghế. Lau chậm, lau kỹ, lau kiểu người lau cho ai đó dù biết người đó không quay lại nữa. Rồi đặt khăn xuống.
Ghế vẫn ở đây. Tên ông vẫn ở đây.
Anh quay lại quầy. Mở sổ. Lật đến trang ông Dương, trang hai, trang có tên đầu tiên. Đọc lại một lần nữa. Rồi lật sang trang trống phía sau, viết.
"Ông Dương mất rồi. Đột quỵ, ca đêm, tuần trước."
"62 tuổi. 11 năm trực. Không ai biết tên ông trước khi ông kể."
"Nhưng ở đây có người biết. Ở đây ông có tên."
"Mình sẽ giữ chiếc ghế đó. Không xếp đi. Không kê lại."
Gấp sổ.
2 giờ 31 sáng. Cửa hàng trống. Chiếc ghế nhựa trắng sát tường, sạch, trống, lặng. Bên ngoài cửa kính, cổng chung cư đối diện, đèn bảo vệ vàng đục, bóng người ngồi trực ca đêm ở chỗ ông Dương từng ngồi.
Ông Dương ngồi đó mười một năm. Không ai nhớ. Rồi ông bước sang đây, ngồi chiếc ghế này, kể tên mình. Và bây giờ ông mất, nhưng tên ông vẫn còn.
Trong sổ của mình, ông có tên.
Nguyễn Văn Dương.
Gió tháng mười một thổi nhẹ qua khe cửa. Đèn trắng sáng đều. Chiếc ghế trống.
Quân đứng sau quầy, nhìn.