Kẻ Chỉnh Sửa Thiên Mệnh
Chương 98: Kẻ Xóa Học Viết
Chương 98

Kẻ Xóa Học Viết

Bạch Tẫn mua bút lông ở chợ Lâm Thủy.

Bút rẻ. Lông dê. Cán tre. Mực đen đựng trong hũ sành nhỏ bằng nắm tay. Cô mua vì MUỐN, muốn lần đầu tiên trong hai mươi năm mua thứ gì đó không phải để sinh tồn (không phải lương khô, không phải thuốc, không phải giày cỏ thay giày rách), muốn vì cô thấy bút ở sạp ông Trần và tay cô GIƠM, giơ về phía bút, giơ trước khi đầu nghĩ, giơ vì cơ thể biết cô cần viết trước khi cô biết mình cần.

Cô mang bút về phòng trọ. Phòng nhỏ. Bàn gỗ cạnh cửa sổ. Ghế thấp. Và trên bàn: giấy. Giấy mua cùng bút, giấy rẻ, giấy thô, giấy vàng ố nhẹ, nhưng giấy TRỐNG, và trống thì chờ, và chờ thì mời, và mời thì cô ngồi xuống.

Cô ngồi.

Cầm bút. Chấm mực. Và DỪNG.

Dừng vì tay RUN. Run nhẹ, run vì cảm giác ĐÃ QUAY (cảm giác quay lại mỗi tháng thêm một chút, như mùa xuân nở hoa chậm, và run thì thuộc nhóm quay sớm, quay cùng đau, cùng lạnh, cùng buồn, vì nhóm khó chịu thì quay trước nhóm dễ chịu, vì cơ thể học cảm giác xấu nhanh hơn cảm giác tốt). Run vì cô CHƯA BAO GIỜ viết. Hai mươi năm. Hai mươi năm cô chỉ XÓA. Xóa thiên mệnh. Xóa chữ trên đầu người. Xóa để giải phóng (cô nghĩ thế) hoặc xóa để phá (người khác nghĩ thế). Tay cô quen xóa, quen chạm vào chữ và làm chữ BIẾN MẤT, quen với cảm giác trống sau khi xóa, trống và nhẹ và lạnh.

Bây giờ cô cầm bút. Không phải để xóa. Để VIẾT.

Và viết thì KHÁC. Viết thì TẠO. Viết thì để lại DẤU thay vì lấy đi dấu. Và để lại thì sợ, sợ vì nếu viết sai thì dấu ở lại, ở lại trên giấy trên đời trên thế giới, và cô quen với việc xóa sai, không quen với việc VIẾT sai.

Nhưng cô viết.

Chữ đầu tiên. Chậm. Nét run. Mực loang nhẹ vì giấy thô hút mực nhanh.

Bạch Tẫn.

Tên cô.

Cô nhìn hai chữ. Nhìn lâu. Và cô CẢM: lạ. Lạ vì cô chưa bao giờ thấy tên mình TRÊN GIẤY. Hai mươi năm lang thang, không ai ghi tên cô, không ai khắc, không ai nhớ (vì cô xóa dấu vết mình đi mỗi khi rời nơi nào đó, xóa vì sợ bị tìm, xóa vì quen, xóa vì cô nghĩ mình không đáng được ghi). Bây giờ tên cô NẰM trên giấy. Bằng mực đen. Bằng tay cô. Và nằm thì TỒN TẠI, và tồn tại thì thật, và thật thì đáng.

Cô viết tiếp.

Lục Dạ.

Tên đứa trẻ. Đứa trẻ mà cô ở cạnh. Đứa trẻ mà ai đó (ai? Trầm... Trầm gì?) bảo cô "giữ." Và cô giữ. Giữ vì đã hứa. Giữ vì đứa trẻ CẦN (cần người lớn gần, cần người không hỏi nhiều, cần người im lặng cạnh bên, và cô giỏi im lặng, giỏi nhất trong mọi thứ cô làm). Giữ vì cô cũng cần hắn (cần vì hắn làm cô cảm thấy mình ĐANG SỐNG chứ không chỉ đang tồn tại, và sống thì khác tồn tại, sống thì có mùi bún buổi sáng và tiếng dép gỗ trên đất và tiếng "chị Bạch Tẫn" gọi mỗi tối).

Cô viết thêm hai chữ nữa, viết chậm hơn, viết vì hai chữ này CHÁY, cháy ở ngực, cháy vì ai đó đã nói với cô, ai đó mà cô gần nhớ, gần lắm, mặt mờ, giọng mờ, nhưng hai chữ thì RÕ:

Can đảm.

Cô nhìn hai chữ. Can đảm. Ai đó đã gọi cô là can đảm. Ai đó đã nhìn cô, nhìn hai mươi năm xóa, nhìn tóc trắng, nhìn mắt trống, nhìn tay lạnh, và nói: "can đảm." Không phải lạnh lùng. Không phải tàn nhẫn. Không phải kẻ phá. CAN ĐẢM. Và hai chữ đó đã thay đổi cách cô nhìn chính mình, thay đổi từ "kẻ xóa" thành "người dám," và thay đổi thì lớn, lớn hơn xóa thiên mệnh, lớn hơn phá hệ thống, vì thay đổi CÁCH NHÌN BẢN THÂN thì lớn nhất.


Cô viết mỗi tối.

Mỗi tối, sau khi ngồi hiên với Lục Dạ, sau khi im lặng đầy, sau khi trăng lên rồi trăng xuống, cô về phòng, thắp nến, ngồi trước bàn, cầm bút, và viết.

Viết về gió. Cô cảm được gió bây giờ (cảm từ tháng trước, cảm rõ dần, gió trên da thì mát, gió qua tóc thì nhẹ, gió vào mũi thì mùi, và mỗi cảm giác là MỚI, mới vì hai mươi năm không cảm, mới vì mới cảm, mới vì cô phải HỌC lại từ đầu cách cơ thể tiếp nhận thế giới). Cô viết: "Gió mùa thu khác gió mùa hè. Thu thì khô. Hè thì ẩm. Ta không biết trước đây. Bây giờ ta biết."

Viết về vị. Cô nếm được cơm (nếm từ hai tháng trước, nếm lần đầu thì KHÓC, khóc vì cơm NGỌT, ngọt nhẹ, ngọt kiểu gạo mới, và ngọt thì khóc vì hai mươi năm ăn mà không nếm thì hai mươi năm không ăn, và bây giờ ăn thật thì khóc). Cô viết: "Cơm bà Châu nấu hơi nhão. Nhưng ngọt. Ta thích."

Viết về ánh sáng. Cô thấy màu rõ hơn (trước đây thế giới xám, xám nhẹ, xám vì mắt cô lọc màu ra khi xóa cảm giác, và bây giờ màu quay lại, đỏ thì đỏ, xanh thì xanh, vàng hồng chín thì VÀNG CAM, và vàng cam thì đẹp). Cô viết: "Quả hồng chín màu vàng cam. Đẹp. Ta chưa bao giờ viết chữ 'đẹp' trước đây."

Và viết về khoảng trống.

Khoảng trống hình người trong ký ức cô. Khoảng trống ở thư khố Thanh Vân Tông (dấu ngón tay trên kệ, cuốn sách ấm, ghế mòn). Khoảng trống ở bên lửa trại mà cô nhớ mờ (cô ngồi bên lửa lần đầu tiên, có ai đó bên cạnh, ai đó ấm, ai đó không sợ cô). Khoảng trống ở Phong Lĩnh (hội ngộ, ôm, có ai đó ôm đứa trẻ trước khi cô đến). Khoảng trống ở phòng Người Viết (có ai đó đi xuống cầu thang và không quay lại).

Cô viết: "Có người đã ở đây. Ta không nhớ tên. Không nhớ mặt. Không nhớ giọng. Nhưng ta nhớ: người đó gọi ta là can đảm. Người đó bảo ta giữ đứa trẻ. Người đó viết 'nhẹ hơn một chút' rồi biến mất. Và ta giữ. Và thế giới nhẹ. Và ta cảm được gió."

Cô đặt bút. Nhìn trang giấy đầy chữ. TRANG ĐẦY. Không phải trang trống. Không phải trang bị xóa. Trang ĐẦY vì cô VIẾT, vì cô tạo, vì tay mà hai mươi năm chỉ xóa bây giờ để lại DẤU, và dấu thì ở lại, và ở lại thì tồn tại, và tồn tại thì ngược với xóa, và ngược với xóa thì ĐÚNG, đúng vì cô không phải kẻ xóa nữa, cô là kẻ VIẾT, kẻ viết nhật ký, kẻ viết tên mình, kẻ viết "can đảm" và "gió mùa thu khác gió mùa hè" và "cơm bà Châu hơi nhão nhưng ngọt."

Và cô cười.

Cười nhẹ. Cười lần thứ hai trong đời (lần đầu ở thư khố, khi thấy dấu ngón tay). Cười vì trang giấy đầy chữ ĐÚNG, đúng vì cô viết, đúng vì tay cô tạo thay vì phá, đúng vì kẻ xóa học viết và viết thì KHÓ hơn xóa (xóa thì một chạm, viết thì từng nét, từng chữ, từng ý, chậm, mệt, nhưng mệt thì XỨNG ĐÁNG).

Cô đặt cuốn nhật ký lên kệ. Cạnh cửa sổ. Nơi nắng sáng chiếu vào mỗi buổi sáng.

Và cô nghĩ: ở đâu đó, có một thư khố cũ. Trong thư khố có kệ sách. Trên kệ có dấu ngón tay. Trên bàn có cuốn sổ trắng với ba dòng chữ. Và ai đó đã ngồi ở đó, đã viết ở đó, đã SỐNG ở đó bằng chữ, bằng mực, bằng giấy.

Cô không nhớ ai. Nhưng cô biết: cô đang làm GIỐNG. Không phải giống vì bắt chước. Giống vì đúng. Giống vì kẻ viết và kẻ xóa là hai mặt, và khi một mặt biến mất thì mặt còn lại phải LẬT, và lật thì viết, và viết thì tiếp tục, và tiếp tục thì sống.

Nến cháy thấp. Bóng cô trên tường dài. Gió thu thổi qua cửa sổ, lay trang nhật ký mở trên kệ.

Trang đầy chữ. Chữ của kẻ xóa. Chữ tạo thay vì phá. Chữ ở lại thay vì biến mất.

Và ở lại thì đủ.

Ch.98/100
1.471 từ