Chương 85: Thế Giới Sau
Con mắt trên mặt trăng đóng lại.
Không đóng kiểu chớp. Không đóng kiểu ngủ. Đóng kiểu ai đó mãn nguyện, kiểu nhìn đủ rồi, kiểu câu hỏi triệu năm đã có câu trả lời và câu trả lời đang ở giữa, đang giữ, đang lọc, và không cần nhìn nữa vì đã có người đứng ở đó mãi mãi.
Mi khép từ từ. Chậm kiểu thủy triều rút. Chậm kiểu mùa đông chuyển sang xuân mà không ai nhận ra ngày nào là ngày đổi, chỉ biết một hôm ra ngoài thì nắng ấm hơn, lá xanh hơn, gió nhẹ hơn. Mi khép mười hai giờ. Mười hai giờ mặt trăng chuyển từ thứ có đồng tử, có mống mắt, có nỗi cô đơn triệu năm nhìn xuống, thành thứ tròn trắng treo trên bầu trời đêm, bình thường kiểu bình thường, đẹp kiểu đẹp, không ai nhìn lên mà sợ nữa.
Và khi mi khép hoàn toàn, bầu trời hết nứt.
Vết rạn biến mất. Không biến mất kiểu lành, kiểu da non mọc, kiểu bong vảy. Biến mất kiểu xóa. Kiểu bầu trời lúc nào cũng thế, lúc nào cũng xanh ban ngày, đen ban đêm, sao ở đúng chỗ, mây ở đúng hình. Kiểu không ai nhớ bầu trời từng nứt, từng có ánh sáng trắng tự thân phía sau, từng có thứ gì đó nhìn qua khe rạn. Ký ức về bầu trời nứt tan cùng lúc vết nứt tan, kiểu hai thứ chưa bao giờ tồn tại, kiểu giấc mơ buổi sáng: tỉnh dậy biết mình vừa mơ, mười phút sau quên nội dung, một giờ sau quên đã mơ.
Mặt trời mọc.
Mọc bình thường. Chậm. Ấm. Ánh sáng vàng lan trên mặt nước (nước vẫn ngập, vẫn cao, nhưng đã ngừng dâng, và bắt đầu rút, chậm kiểu cen-ti-met mỗi giờ). Ánh sáng vàng chạm mái nhà lộ ra khỏi nước, chạm tường bê tông loang rêu, chạm cột đèn đường nghiêng ba mươi độ, chạm lá cây vừa già đi hai mùa trong một đêm. Bình thường. Ấm. Kiểu mặt trời lúc nào cũng ở đó, lúc nào cũng mọc, chỉ là mọi người quên nhìn.
Trên mái một chung cư bảy tầng ở phía tây thành phố, hai mươi ba người đứng nhìn mặt trời mọc.
Họ không biết tại sao mình đứng trên mái. Không biết tại sao mình ướt. Không biết tại sao thành phố ngập, tại sao cột đèn nghiêng, tại sao cây bàng ở góc đường có thân dày gấp đôi bình thường, tại sao đồng hồ trên tường chung cư chạy ngược. Họ nhìn nhau, nhìn xuống, nhìn nước, nhìn mặt trời, và không ai nói gì trong mười phút đầu tiên.
Rồi một bà cụ (sáu mươi bảy tuổi, tóc bạc, tay cầm nắm rau muống) nói:
– Ai nấu cơm chưa?
Và cuộc sống bắt đầu lại.
Bắt đầu lại kiểu bắt đầu lại. Kiểu tỉnh dậy sau giấc mơ dài, kiểu chân chạm sàn, kiểu bật bếp (bếp gas vẫn có gas, lạ thay, kiểu hạ tầng nào đó vẫn hoạt động trong suốt thời gian mà không ai hiểu đã kéo dài bao lâu). Kiểu nấu cơm vì đói, vì bụng kêu, vì cơ thể nhớ đói dù đầu không nhớ gì khác.
Hai mươi ba người nấu cơm trên mái chung cư. Gạo từ căn hộ tầng bảy (nước ngập đến tầng ba). Nồi từ căn hộ kế bên. Rau muống bà cụ cầm sẵn (không biết hái từ đâu, không nhớ, nhưng rau tươi, rau xanh, rau thật). Cơm chín, mùi cơm bốc lên, và mùi cơm là thứ thật nhất trong buổi sáng đầu tiên sau thảm họa mà không ai nhớ là thảm họa.
Một người đàn ông trung niên (bốn mươi hai tuổi, áo trắng bẩn, đôi mắt hõm sâu kiểu nhiều đêm không ngủ) ngồi ăn cơm trắng với muối, nhìn ra biển (biển ở đâu ra giữa thành phố, anh không hiểu, anh sẽ không bao giờ hiểu), và nói với không ai cả:
– Hôm qua tôi mơ thấy gì đó.
Không ai hỏi. Vì ai cũng mơ thấy gì đó. Vì giấc mơ đó đang tan, đang mờ, đang trở thành thứ không ai muốn nhớ và không ai có thể nhớ dù muốn.
Thể Ngắm Trăng đứng im.
Khắp thành phố, trên mái nhà, trong hẻm ngập, giữa ngã tư nước lên đến hông, những hình dáng cao gầy cổ dài mắt trắng đứng bất động. Không rung cộng hưởng. Không quỳ. Không rung. Chỉ đứng, kiểu tượng, kiểu thứ gì đó đã tắt nguồn cung cấp nhưng chưa kịp ngã.
Rồi chúng bắt đầu tan.
Tan chậm. Tan kiểu sương mai dưới nắng: từ rìa vào giữa, từ ngón tay vào cổ tay, từ bàn chân vào mắt cá. Da xám nhạt dần, trắng dần, trong suốt dần, rồi mỏng dần rồi biến mất, không để lại gì trên mặt nước ngoài vòng gợn nhẹ lan rồi tắt. Không máu. Không xương. Không quần áo. Kiểu chúng chưa bao giờ ở đó, kiểu bong bóng xà phòng vỡ, kiểu giấc mơ tan khi mắt mở.
Một Thể Ngắm Trăng đứng trước cửa nhà thờ cũ ở đường Nguyễn Du. Cao hơn hai mét. Cổ dài ba mươi phân. Mắt trắng không đồng tử. Đứng đó có lẽ ba tuần, có lẽ ba tháng, không ai biết vì thời gian đã méo và giờ đang duỗi lại. Da bắt đầu trong suốt từ vai. Ánh nắng chiếu xuyên qua ngực, in bóng xương sườn lên tường nhà thờ, rồi xương sườn cũng tan, rồi bóng cũng tan, rồi không còn gì ngoài vệt nước trên tường khô dần dưới nắng.
Một bà mẹ bế con đi ngang (nước đến đầu gối, con hai tuổi trên tay, mắt to nhìn mọi thứ kiểu trẻ con nhìn), nhìn vệt nước, nhìn chỗ Thể Ngắm Trăng vừa đứng, và nói với con:
– Có gì đâu. Đi nào.
Không sợ. Không tò mò. Vì bà mẹ không nhớ đã sợ. Vì con mắt trên mặt trăng đã đóng, và khi con mắt đóng, nỗi sợ tan cùng lúc, kiểu nỗi sợ chưa bao giờ thuộc về người, kiểu nỗi sợ là thứ thực thể vô tình gửi qua khe cửa mở, và bây giờ khe cửa có người giữ, có người lọc, nỗi sợ đi qua nhưng nhẹ hơn, dịu hơn, kiểu gió thoảng thay vì bão.
Nước rút.
Rút chậm. Cen-ti-met mỗi giờ. Rút kiểu thủy triều, kiểu biển nhớ đường về, kiểu nước biết mình không thuộc về phố, không thuộc về mái nhà, không thuộc về ngã tư. Rút và để lại: bùn, rêu, vỏ sò (vỏ sò giữa phố, lạ kiểu lạ mà không ai hỏi tại sao), cá nhỏ giãy trên vỉa hè khô dần, mùi muối mùi tanh mùi nắng trên bê tông ướt.
Điện chưa có. Nước máy chưa có. Sóng điện thoại chưa có.
Nhưng người ta nấu cơm. Người ta quét bùn. Người ta phơi quần áo trên dây kẽm giăng giữa hai ban công. Người ta hỏi nhau nhà anh có muối không, bà ơi cho xin ít nước mưa, thằng bé nhà tôi sốt ai có thuốc. Người ta sống kiểu người ta sống khi mọi thứ sụp: bằng bản năng, bằng láng giềng, bằng nồi cơm chia đều, bằng câu hỏi đơn giản nhất: ai cần gì.
Không ai nhắc đến con mắt.
Không ai nhắc đến mặt trăng mở mắt, tiếng gọi, Thể Ngắm Trăng, giáo phái, bầu trời nứt, biển dâng. Không phải vì giấu. Vì không nhớ. Ký ức về thảm họa tan kiểu sương, kiểu giấc mơ sáng, kiểu thứ gì đó thuộc về bên kia cánh cửa chứ không thuộc về bên này. Ai đó có thể nói tôi nhớ mơ thấy thứ gì đó buồn, nhưng không ai nói được thứ đó là gì, ở đâu, kéo dài bao lâu. Ký ức bị lọc. Bị nhẹ hóa. Bị dịu bớt.
Bị lọc bởi thứ ở giữa.
Trên đồi phía nam, ngôi chùa nhỏ còn nguyên.
Nước không lên đến đồi. Cây bồ đề trước sân vẫn đứng, lá vàng rụng lên mái ngói rêu. Cửa chùa hé. Bên trong, một người đàn ông trung niên ngồi tựa tường, mắt nhắm, thở đều.
Nguyễn Trung Hào, bốn mươi lăm tuổi. Trung tá. Tóc bạc hơn mấy tuần trước (hay mấy tháng trước, hay mấy năm trước, ông không chắc). Sẹo mới trên trán. Đạn hết từ lâu. Khẩu súng nằm cạnh, nguội kiểu đồ vật đã hoàn thành nhiệm vụ.
Ông tỉnh khi nắng chiếu qua khe cửa chạm mắt.
Nắng ấm. Nắng thật. Nắng kiểu mặt trời, không kiểu trăng.
Ông ngồi dậy. Nhìn quanh. Sàn chùa bụi. Tượng Phật mỉm cười (lúc nào cũng mỉm cười, dù thế giới ngoài kia có sụp hay không). Mấy gói mì tôm rỗng. Chai nước mưa cạn. Cuốn sổ tay (sổ tay, ông nhớ mang theo sổ tay, nhưng không nhớ đưa cho ai, không nhớ ai đó đã lấy và mang xuống chỗ nào đó sâu dưới lòng đất).
Ông bước ra sân chùa. Nhìn xuống thành phố. Nước ngập một nửa, nhưng đang rút. Mái nhà lộ ra. Có khói bếp (khói bếp, ông nghĩ, có người nấu cơm, vậy là có người sống). Bầu trời xanh. Bình thường. Không nứt.
Ông hít một hơi. Hơi thở dài, sâu, kiểu người vừa qua cơn sốt ba ngày, kiểu phổi nhớ lại cách hít đầy, kiểu cơ thể biết mình còn sống trước khi đầu biết.
Ông nhớ gì? Nhớ mơ hồ. Nhớ tiếng ai đó hát (giọng nam, trẻ, buồn, không lời). Nhớ đã ở lại vì lý do gì đó quan trọng. Nhớ giọng con gái (Hà, tên con gái ông là Hà, mười bốn tuổi, ở Hà Nội với mẹ, ông nhớ tên, nhớ tuổi, nhớ mặt, và điều đó đủ). Nhớ có người trẻ, mắt buồn, tay xám, nói ít (tên gì, ông không nhớ, nhưng nhớ mình tin người đó, nhớ mình đã đưa thứ gì đó cho người đó, nhớ mình đã nói đi đi).
Ông không nhớ tên người đó. Nhưng ông nhớ đã tin. Nhớ bằng ngực, bằng xương, bằng thứ gì đó sâu hơn tên. Và ông đứng ở sân chùa, nhìn khói bếp bốc lên từ thành phố ngập, và cảm giác mình đã hoàn thành thứ gì đó, dù không nhớ thứ đó là gì.
Không ai nhớ tên Lâm Khải.
Và ở thành phố, cuộc sống trở lại.
Trở lại kiểu thành phố trở lại. Kiểu chậm. Kiểu bước một bước rồi dừng, rồi bước tiếp. Kiểu xe cứu hộ (từ đâu đến, không ai biết, nhưng đến) chạy trên đường đã cạn nước, phát loa kêu ai cần giúp thì vẫy. Kiểu quân đội (quân đội nào, đơn vị nào, không rõ, nhưng lính mặc rằn ri, có nước, có mì, có thuốc) dựng lều cứu trợ ở sân vận động. Kiểu phóng viên (sóng đã về, yếu, chập chờn, nhưng có) đứng trước ống kính nói về thảm họa thiên nhiên quy mô lớn, nguyên nhân chưa xác định, nước biển dâng bất thường kết hợp hiện tượng địa chấn. Kiểu chuyên gia (chuyên gia gì, chuyên gia đại dương học, chuyên gia khí tượng, chuyên gia tất cả những gì có thể giải thích bằng khoa học) lên tivi nói hiện tượng chưa từng có nhưng không phải siêu nhiên.
Không ai nói về con mắt.
Vì không ai nhớ con mắt.
Vì cánh cửa đã đóng. Đã lọc. Đã nhẹ hóa. Ký ức về con mắt trở thành ký ức về mặt trăng sáng bất thường, về thủy triều bất thường, về đêm dài bất thường. Bất thường nhưng giải thích được. Bất thường nhưng không đáng sợ. Bất thường kiểu thiên nhiên, không kiểu thứ gì đó nhìn xuống.
Trong vài tháng, thành phố sẽ dọn xong. Nước sẽ rút hết. Đường sẽ sửa. Điện sẽ về. Người sẽ quay lại nhà cũ, quét bùn, sơn tường, trồng lại cây. Trong vài năm, thảm họa sẽ thành đợt ngập lịch sử năm đó, sẽ có tên trong sách giáo khoa (một đoạn ngắn, nửa trang, kèm hình ảnh vệ tinh), sẽ có ngày tưởng niệm (năm đầu đông người, năm thứ ba vắng hơn, năm thứ mười chỉ còn quan chức và nhà báo). Sẽ dần quên. Sẽ thành giai thoại, chuyện kể, hồi đó nhà tao ngập đến nóc, ông ngoại tao kể hồi đó cá bơi trong phòng khách.
Sẽ quên.
Vì cánh cửa lọc. Vì thứ ở giữa giữ cho bên này nhẹ hơn, dịu hơn, kiểu con người chịu nổi. Kiểu nhìn mặt trăng và cảm đẹp thay vì cảm sợ. Kiểu nghe gió đêm và cảm mát thay vì cảm tiếng ai đó thì thầm. Kiểu sống mà không biết mình đang được giữ, đang được lọc, đang được ai đó (thứ gì đó, thứ từng là ai đó) đứng giữa chắn cho.
Đêm đầu tiên sau khi con mắt đóng.
Mặt trăng lên. Tròn. Trắng. Bình thường. Không có đồng tử. Không có mống mắt. Không nhìn xuống.
Nhưng không hoàn toàn.
Ở thành phố, trên mái chung cư bảy tầng, người đàn ông trung niên (áo trắng bẩn, mắt hõm) nhìn lên mặt trăng và dừng lại. Dừng nhai cơm. Dừng thở nửa giây. Nhìn trăng, và cảm thứ gì đó. Nhẹ. Dịu. Kiểu ai đó nhìn lại nhưng không đáng sợ, kiểu ai đó ở đó nhưng không đe dọa, kiểu ai đó nói tao ở đây bằng ánh sáng thay vì tiếng.
Rồi cảm giác tan. Mỏng kiểu tơ. Nhẹ kiểu hơi thở trên gương. Người đàn ông lắc đầu, cười nhẹ (cười kiểu mình nghĩ gì kỳ vậy), nhai tiếp miếng cơm, nói với bà cụ bên cạnh:
– Trăng đẹp ha bà.
Bà cụ nhìn lên. Gật đầu.
– Ừ. Đẹp.
Hai người ăn cơm dưới trăng. Không biết trăng vẫn là trăng. Không biết đằng sau trăng, rất xa, rất sâu, có vô số mắt nhắm, đang mơ, đang cô đơn nhưng bớt cô đơn hơn trước. Không biết ở giữa trăng và họ, ở giữa kẻ mơ và giấc mơ, có thứ gì đó từng là đứa trẻ hai mươi hai tuổi đang đứng, đang giữ, đang lọc, đang ở.
Không biết, và không cần biết.
Vì cánh cửa tốt là cánh cửa không ai thấy.
Và cánh cửa này tốt lắm.