Cả Lớp Đều Chết Từ Năm Ngoái
Chương 33: Khoảng trống trong hồ sơ
Chương 33

Khoảng trống trong hồ sơ

Thứ Tư tuần thứ tám. Minh đến lớp đúng bảy giờ.

Diệp Chi nhìn cậu khi cậu ngồi xuống, không nói gì, nhưng đặt chai nước ở góc phải bàn cậu nhanh hơn bình thường. Như sợ cậu lại biến mất. Minh gật đầu. Cô cười, và cậu nhận ra nụ cười đó rõ ràng hơn mọi nụ cười cậu từng thấy trong lớp. Không chỉ rõ vì sắc nét, mà rõ vì cô biết cô đang cười, vì ai, và tại sao. Trong một lớp học đầy người lặp lại theo chu kỳ, nhận thức đó là bất thường.

Thiên Nam ở bàn cuối, mắt nhắm. Mờ hơn hôm Thứ Hai. Minh nhìn kỹ: bàn tay cậu ta đặt trên mặt bàn gần như trong suốt ở phần ngón, ánh sáng cửa sổ xuyên qua lớp da mỏng. Vai Thiên Nam nhòe khi cậu ta cử động, như hình chiếu từ máy chiếu yếu pin. Cậu ta mở mắt, nhìn Minh, gật nhẹ. Vẫn tỉnh.

Thầy Hoàng vào lớp. Điểm danh. Khi đến tên Minh, ông ta dừng nửa giây, nhìn cậu, rồi đánh dấu và đọc tiếp. Nửa giây. Trở lại mức bình thường. Minh ghi nhận: hôm qua cậu nghỉ, hôm nay ông ta không phản ứng khác thường. Hoặc ông ta kiểm soát được phản ứng.

Giờ ra chơi buổi sáng, Minh không lên mái nhà kho. Cậu xuống tầng một, đi bộ ra khu nhà công vụ phía đông trường. Dãy nhà cấp bốn cũ, ba phòng, sơn trắng tróc. Phòng đầu tiên: kho lưu trữ. Phòng thứ hai: phòng hồ sơ (khóa). Phòng thứ ba: phòng họp nhỏ (không khóa).

Minh vào phòng họp nhỏ. Bàn dài, tám ghế nhựa, quạt trần không quay. Trên tường có tủ kính đựng cúp thể thao và giấy khen cũ. Góc phòng: một tủ hồ sơ sắt hai ngăn, loại có ổ khóa nhưng ổ khóa bị gãy từ lâu, thay bằng dây thép xoắn.

Cậu gỡ dây thép, mở tủ. Bản lề kêu cót két, tiếng kim loại cũ ma sát trong phòng trống. Ngăn trên: hồ sơ thi đua giáo viên, xếp theo năm, từ 2015 trở đi, bìa nhựa màu xanh, gáy dán nhãn cẩn thận. Ngăn dưới: hồ sơ cũ hơn, lộn xộn, một số bìa mủn, mùi ẩm mốc và giấy cũ bốc lên khi cậu kéo ngăn ra hết. Ánh sáng từ cửa sổ bụi chiếu vào, in bóng chữ thập khung sắt trên sàn gạch. Cậu lật từng tập.

Tập đầu: danh sách phân công giảng dạy năm học 2008-2009. Photocopy chất lượng thấp, chữ đánh máy. Minh quét tìm tên Hoàng Minh Đức. Trang 3: "Hoàng Minh Đức, Toán, 11A1, 12A3." Năm 2008. Hai năm trước khi hồ sơ nhân sự ghi ông ta vào trường.

Tập thứ hai: năm học 2003-2004. Trang 2: "Hoàng Minh Đức, Toán, 11A2, 11A3." Năm 2003. Bảy năm trước ngày hồ sơ ghi.

Tập thứ ba: không có năm, nhưng giấy ngả vàng, chữ đánh máy cũ hơn. Minh đoán cuối thập niên 90 hoặc đầu 2000 dựa trên kiểu font và cách ghi. Trang 5: "Hoàng Minh Đức, Toán, 10A1, 11A1." Có mặt.

Minh chụp ảnh cả ba trang. Bằng chứng: Thầy Hoàng dạy liên tục từ ít nhất cuối thập niên 90 đến nay, trong khi hồ sơ chính thức ở phòng tổ chức ghi ông ta chỉ bắt đầu năm 2010. Ai đó đã thay hồ sơ gốc bằng phiên bản sạch, nhưng quên xóa tài liệu phân công trong tủ hồ sơ thi đua.

Cậu tìm tiếp. Sâu hơn trong ngăn dưới, dưới ba tập hồ sơ bị mủn rìa, có một phong bì nâu không tên. Minh mở ra.

Bên trong: một tờ giấy A4 gấp đôi, photocopy chất lượng kém, gần như mờ. Hồ sơ nhân sự, nhưng không phải bản cậu thấy trên đĩa CD. Bản này cũ hơn. Chữ đánh máy kiểu cũ, khác font. Ảnh dán góc: đen trắng, mờ, nhưng nhận ra khuôn mặt: Thầy Hoàng, trẻ hơn bốn năm trước, nghĩa là giống hệt.

Họ tên: Hoàng Minh Đức. Ngày sinh: để trống. Quê quán: để trống. Bằng cấp: ghi bằng bút mực xanh, chữ viết tay: "Tốt nghiệp ĐHSP Huế, 1977." Ngày vào trường: "01/09/1978."

Đây là bản gốc. Hoặc gần bản gốc nhất.

Minh so sánh với bản trên đĩa CD (cha chụp từ phòng tổ chức): sinh 1988, ĐH Sư phạm Đà Nẵng, vào trường 2010. Hai hồ sơ hoàn toàn khác nhau cho cùng một người. Bản cũ thừa nhận Thầy Hoàng vào trường năm 1978 và tốt nghiệp ĐH Sư phạm Huế năm 1977. Bản mới xóa tất cả và thay bằng thông tin giả.

Nhưng ngay cả bản cũ cũng có khoảng trống: ngày sinh để trống, quê quán để trống. Ông ta không khai. Hoặc người làm hồ sơ không hỏi. Hoặc không có gì để khai.

Minh chụp ảnh bản cũ. Cất phong bì lại đúng vị trí, đặt ba tập hồ sơ mủn lên trên.

Cậu xoắn lại dây thép, đóng tủ. Ra khỏi phòng họp, kiểm tra: không ai trong hành lang. Nắng chiếu xiên trên sân gạch đỏ, mùi hoa phượng và bụi đất trộn nhau. Cậu đi bộ về phía sân, đúng lúc tiếng trống báo hết giờ ra chơi. Bước qua dãy nhà công vụ, cậu liếc phòng đầu tiên trong dãy: cửa đóng, rèm kéo, nhưng phía dưới khe cửa có ánh sáng vàng mỏng. Phòng Thầy Hoàng. Đèn đang bật lúc chín giờ ba mươi sáng, khi ông ta đang dạy trên lớp. Hoặc đèn không bao giờ tắt.

Buổi trưa, Minh ngồi ở ghế đá góc sân dưới gốc bàng, giả vờ đọc sách, thực chất nhìn vào điện thoại. Tiếng ve ran trong tán lá, nắng xuyên qua kẽ hở tạo vệt sáng chạy trên mặt gạch. Xa xa, lớp 12A3 đang ăn trưa, tiếng cười và tiếng bát đũa vọng xuống từ tầng bốn, lặp lại đúng thứ tự tuần trước, phút không sai. Minh không ăn. Cậu mở ảnh hai hồ sơ: bản cũ và bản mới.

Bản cũ: ĐH Sư phạm Huế, 1977. Minh tra cứu: ĐH Sư phạm Huế thành lập năm 1957, đào tạo giáo viên cho miền Trung và Tây Nguyên. Khóa 1977 có nghĩa là Thầy Hoàng nhập học khoảng 1973-1974, ra trường 1977, vào trường Minh An 1978. Nếu đúng, ông ta ít nhất 18 tuổi khi nhập ĐH (1973), nghĩa là sinh khoảng 1955 hoặc sớm hơn. Hiện tại: 68-70 tuổi. Ngoại hình: 35-40.

Nhưng Minh không tin bản cũ hoàn toàn. Bản cũ cũng có thể là lớp vỏ đầu tiên, phiên bản che giấu đầu tiên. Nếu Thầy Hoàng thật sự bất tử hoặc tồn tại dưới dạng khác, bất kỳ hồ sơ nào cũng chỉ là phiên bản gần nhất của lời nói dối.

Cậu ghi sổ: "Hai hồ sơ cho cùng 1 người. Bản cũ (1978): thừa nhận vào trường sớm, ngày sinh/quê trống. Bản mới (2010+): xóa sạch, thay thông tin giả. Có thể còn bản cũ hơn, nhưng trường thành lập 1975, 3 năm trước bản cũ nhất. Khoảng 1975-1978 là lỗ hổng.

Câu hỏi: ai đổi hồ sơ? TH tự đổi? Ai đó che giúp? HP Hưng (ký chỉ đạo ban QLCSVC) có liên quan đến việc đổi hồ sơ?"

Buổi chiều. Tiết cuối. Thầy Hoàng giảng hình học không gian. Minh nhìn ông ta vẽ hình lập phương trên bảng: nét phấn chính xác, góc vuông, đường thẳng không rung. Bàn tay đã vẽ cùng hình này bao nhiêu lần trong bốn mươi lăm năm. Bao nhiêu lớp học đã nhìn ông vẽ. Bao nhiêu đã chết.

Khi quay lại phía lớp, mắt Thầy Hoàng quét như mọi ngày. Nhưng hôm nay Minh nhìn thấy thứ khác trong ánh mắt đó. Không phải canh gác thuần túy. Có gì đó gần với quen thuộc, kiểu nhìn của người đã làm cùng việc quá lâu, không còn phân biệt được giữa muốn và phải.

Cuối tiết, Thầy Hoàng đóng sổ. Bước đến cửa. Dừng lại. Không quay đầu.

– Khải Minh.

Minh không giật mình. Cậu nhìn lưng ông ta.

– Dạ.

– Hôm qua em nghỉ, ông nói, giọng bình thản. Lý do gì?

– Bệnh ạ.

Im lặng hai giây. Thầy Hoàng vẫn không quay.

– Em đừng đi xa quá, ông nói. Rồi bước ra.

Minh ngồi yên. Diệp Chi nhìn cậu.

– Thầy lo cho cậu đấy, cô nói.

Minh không đáp. Cậu nhìn cửa lớp, nơi bóng Thầy Hoàng vừa biến mất qua ô kính mờ. Nghĩ đến hai hồ sơ trong điện thoại: một bản thừa nhận ông ta tồn tại từ 1978, một bản phủ nhận tất cả. Nghĩ đến cô Lan: "Mắt đó như người đã biết từ trước." Nghĩ đến Thiên Nam trên mái nhà kho: "Ông ta sẽ ở đây sau khi tất cả bọn tôi biến mất."

Và nghĩ đến câu vừa rồi: "Em đừng đi xa quá." Không phải mệnh lệnh. Không phải đe dọa. Giọng ông ta khi nói câu đó nặng hơn mọi lần Minh nghe ông ta nói. Nặng theo kiểu của người đã nói câu tương tự nhiều lần, với nhiều người, và không ai nghe.

Cảnh báo. Nhưng cảnh báo của kẻ thù hay cảnh báo của người canh gác đang mệt?

Tối. Nhà trọ. Quạt trần quay chậm, bóng cánh quạt chạy vòng trên trần. Minh ngồi trước laptop, bức tường điều tra phía sau lưng. Cậu mở đĩa CD, tệp số 22: "22_1998_warehouse_collapse." Báo cáo vụ sập nhà kho trường Minh An, tháng 5 năm 1998.

Ba trang, đánh máy, có dấu mộc phòng giáo dục huyện.

Nội dung: ngày 12 tháng 5 năm 1998, lúc 16 giờ 30, mái tôn nhà kho phía sau trường bị sập do mưa lớn và gió giật. Ba học sinh lớp 11A1 trú mưa trong nhà kho bị mái đè. Danh sách: Nguyễn Thanh Hải, Lê Văn Phong, Trần Thị Yến. Cả ba tử vong tại chỗ. Phát hiện bởi giáo viên trực đêm Hoàng Minh Đức lúc 6 giờ sáng ngày 13.

Minh đọc kỹ đoạn kết luận: "Nhà kho được xây năm 1986, không sửa chữa từ 1995. Mái tôn cũ, cột gỗ mục. Sập do nguyên nhân tự nhiên (mưa bão). Kết luận: tai nạn. Đề xuất: phá dỡ nhà kho, xây dựng lại."

Tai nạn. Giống vụ xe buýt: kết luận tai nạn, nguyên nhân tự nhiên. Nhưng cha ghi trong thư: mỗi vụ đều có người tên Hoàng. Và mỗi vụ, Thầy Hoàng đều có mặt.

Minh mở tệp số 31: "31_1975_2023_teacher_roster." Danh sách giáo viên trường Minh An từ 1975 đến 2023, cha tổng hợp từ nhiều nguồn (kho lưu trữ tỉnh, sổ phân công, biên bản họp hội đồng). Bảng dài, mỗi hàng một tên, cột ghi năm bắt đầu và năm kết thúc.

Minh cuộn xuống. Hoàng Minh Đức: bắt đầu 1978, kết thúc: để trống. Không bao giờ nghỉ. Không chuyển. Bốn mươi lăm năm liên tục.

Không giáo viên nào khác trong danh sách ở lâu hơn hai mươi năm. Người lâu thứ hai: Nguyễn Thị Hạnh (Toán), 1979-2006, hai mươi bảy năm. Cô Hạnh mà cô Lan nhắc. Tất cả đều đến và đi. Chỉ Thầy Hoàng ở lại.

Minh nhìn cột năm bắt đầu. Trường thành lập 1975. Giáo viên đầu tiên: ba người, bắt đầu 1975. Năm 1976: thêm bốn. Năm 1977: thêm hai. Năm 1978: Hoàng Minh Đức, cùng ba người khác. Không có ghi chú đặc biệt. Ông ta vào trường năm thứ ba, giống mọi giáo viên mới. Bình thường.

Nhưng bốn mươi lăm năm sau, ông ta vẫn ở đây. Và ba mươi lăm tuổi. Và dạy cùng lớp. Và nhìn học sinh bằng đôi mắt mà cô Lan gọi là "mắt người đã biết từ trước."

Minh đóng laptop. Đứng dậy, nhìn tường. Cậu in ảnh hai hồ sơ từ máy in nhỏ mua ở tiệm đồ cũ tuần trước, dán bản gốc (ngày sinh trống, quê trống) bên trái và bản giả (sinh 1988, Đà Nẵng) bên phải, nối bằng dấu chéo đỏ. Thêm ảnh chụp danh sách phân công 2003 và 2008. Nối chúng vào mạng lưới bằng dây chỉ đỏ ghim vào tường.

Bức tường bây giờ kín hơn. Ảnh, ghi chú, photocopy, bài báo, đường bút đỏ, câu hỏi bút đen. Ở giữa: Thầy Hoàng. Mọi đường nối đều dẫn về ông ta. Nhưng không đường nào cho biết ông ta bắt đầu từ đâu.

Một người không có quê quán. Không có ngày sinh. Không có bằng cấp thật. Không có gia đình. Sống tại trường bốn mươi lăm năm, canh giữ học sinh chết, không già, không đi, không giải thích.

"Em đừng đi xa quá."

Minh không biết ông ta nói cậu đừng đi xa khỏi trường, hay đừng đi xa trong điều tra. Có thể cả hai. Và có thể ông ta nói vì lo, không phải vì dọa.

Cậu tắt đèn. Nằm xuống. Trần nhà tối, quạt quay không tiếng, gió nhẹ đủ để tờ giấy trên tường rung. Trong bóng tối, cậu nghĩ đến ngày mai. Tệp ghi âm số 39 trên đĩa CD: tệp cuối cùng cha thu âm trước khi chết. Minh đã trì hoãn nghe tệp này ba ngày, vì tên tệp ghi "39_2023_last_recording_TDN." Last. Cuối cùng. Bản ghi âm cuối cùng của cha.

Và cậu sẽ hỏi Thiên Nam một câu cậu chưa hỏi: "Cậu có nhớ gì về Thầy Hoàng trước vụ tai nạn? Ông ta dạy lớp cậu bao lâu?"

Vì nếu cả lớp 11A3 từng là học sinh của Thầy Hoàng, và tất cả các lớp trước đó cũng vậy, thì ông ta không chỉ giữ lớp. Ông ta chọn lớp. Và Minh cần biết: ông ta chọn theo tiêu chí nào.

Ch.33/83
2.324 từ