Cả Lớp Đều Chết Từ Năm Ngoái
Chương 32: Người nhớ
Chương 32

Người nhớ

Thứ Ba tuần thứ tám. Minh không đến lớp.

Cậu ngồi trong quán cà phê gần bưu điện thị trấn từ bảy giờ sáng. Ly đen đá không đường, laptop mở, điện thoại đặt sấp. Đây là lần đầu tiên cậu nghỉ học kể từ ngày nhập lớp 12A3, và cậu tự hỏi liệu bàn cậu trong lớp có bị bỏ trống hay vòng lặp sẽ lấp đầy nó bằng một thứ gì đó.

Kế hoạch hôm nay: tìm người biết Thầy Hoàng trước năm 2010.

Hồ sơ nhân sự ghi ông ta vào trường năm 2010, nhưng ảnh trên đĩa CD chứng minh ông ta đã có mặt từ 1978. Bốn mươi lăm năm chênh lệch giữa hồ sơ và thực tế. Ai đó phải nhớ.

Minh bắt đầu từ nguồn duy nhất cậu có: danh sách giáo viên trường Minh An trong tệp số 14 trên đĩa CD. Cha đã chụp ảnh một trang sổ lưu trữ phòng tổ chức, ghi tên giáo viên theo năm. Từ 1982 đến 2010, Hoàng Minh Đức xuất hiện liên tục. Nhưng tên các giáo viên khác thay đổi theo từng giai đoạn. Minh chọn ra năm cái tên có mặt từ 1995 đến 2005, khoảng thời gian trùng với hai bức ảnh trên đĩa CD. Năm người đã từng đứng cạnh Thầy Hoàng trong ảnh nhóm.

Bước tiếp theo: tìm số điện thoại hoặc địa chỉ.

Cậu không có quyền truy cập hồ sơ nhân sự trường. Nhưng cậu có danh bạ điện thoại trực tuyến, có trang hội cựu giáo viên trên mạng xã hội, và có thời gian. Hai giờ tìm kiếm, ba cái tên không ra kết quả, một cái tên dẫn đến tài khoản bị khóa. Cái tên thứ năm: Trần Thị Lan, giáo viên Văn, có mặt trong danh sách từ 1993 đến 2012. Tài khoản mạng xã hội mở, ảnh đại diện là bà ngoại bế cháu, địa chỉ ghi thị trấn Minh An.

Minh gọi. Chuông đổ bốn lần.

– A lô?

Giọng phụ nữ, trung niên, hơi khàn.

– Cô Lan ạ? Cháu là sinh viên khoa Sử phạm, đang làm bài nghiên cứu về lịch sử trường Minh An. Cháu tìm được tên cô trong danh sách giáo viên cũ. Cô có thể cho cháu hỏi vài câu không ạ?

Im lặng hai giây. Minh đếm.

– Trường Minh An à. Lâu rồi. Cô nghỉ hưu từ 2012.

– Vâng, cháu biết ạ. Cháu đang tìm hiểu về các giáo viên kỳ cựu. Cô có nhớ thầy Hoàng Minh Đức không ạ? Thầy dạy Toán.

Im lặng lần này dài hơn. Năm giây. Minh nghe tiếng tivi trong nền, tiếng trẻ con.

– Nhớ chứ.

Giọng cô Lan thay đổi. Không phải sợ. Không phải giận. Một thứ gì đó gần với cẩn trọng.

– Thầy Đức cô biết từ bao giờ ạ?

– Cô vào trường năm 1993. Thầy Đức đã ở đó rồi. Tổ Toán. Dạy lớp 11 và 12.

– Có ai biết thầy vào trường năm nào không ạ?

– Cô hỏi hồi đó, năm đầu mới về. Mấy người trong tổ nói thầy Đức dạy từ lâu lắm, trước cả họ. Cô Hạnh, tổ trưởng Toán lúc đó, nói thầy Đức đã ở trường khi cô Hạnh về nhận việc năm 1985. Nghĩa là ít nhất từ 1985, hoặc sớm hơn.

Minh ghi vào sổ. Xác nhận: Thầy Hoàng có mặt trước 1985. Khớp với ảnh 1978 trên đĩa CD.

– Thầy Đức có gì đặc biệt không ạ?

Cô Lan cười nhẹ. Tiếng cười không có gì vui.

– Đặc biệt thì nhiều. Thầy ấy không già. Cô vào trường năm 93, thầy ấy trạc ba mươi lăm. Cô nghỉ hưu năm 2012, thầy ấy vẫn trạc ba mươi lăm. Gần hai mươi năm cô dạy cùng, thầy ấy không thêm một sợi tóc bạc.

Minh không ngạc nhiên. Nhưng cậu cần cô nói tiếp.

– Cô có hỏi thầy ấy về chuyện đó không ạ?

– Ai cũng thấy. Nhưng không ai hỏi. Đó là kiểu người... cháu biết không, kiểu mà người ta tự động né ra, không chạm vào, không hỏi thêm. Không phải vì sợ. Mà vì cảm thấy không nên. Như bản năng.

Minh ghi: "TH tạo vùng cấm tâm lý tự nhiên, mọi người tránh hỏi dù thấy bất thường."

– Còn chuyện gì khác cô nhớ về thầy Đức ạ?

– Năm 1998 có vụ sập nhà kho sau trường. Ba em học sinh chết. Cháu biết vụ đó không?

Minh biết. Cha ghi trong thư: 1998, 3 học sinh chết, nhà kho.

– Cháu có đọc qua ạ.

– Sau vụ đó, thầy Đức nghỉ dạy hai tuần. Khi quay lại, thầy ấy khác. Trước đó thầy cũng ít nói, nhưng vẫn ngồi uống trà với tổ, vẫn cười khi ai đó kể chuyện. Sau vụ nhà kho, thầy không ngồi cùng nữa. Ăn một mình, dạy xong đi thẳng. Mắt thầy ấy lúc nào cũng như đang canh gác. Cô nói với cô Hạnh: thầy Đức mang cái gì đó nặng lắm. Cô Hạnh bảo: đừng hỏi.

Minh nghĩ đến cách Thầy Hoàng nhìn lớp hiện tại. Mắt quét từ bàn đầu đến bàn cuối. Dừng ở những người cần dừng. Không bao giờ quay lưng.

– Ba em học sinh năm 1998, cô có nhớ tên không ạ?

– Nhớ một. Nguyễn Thanh Hải. Lớp 11A1 của cô. Con nhà nghèo, hiền, hay giúp cô xách nước tưới cây. Hai em còn lại cô không nhớ tên. Nhà kho sập lúc các em trốn mưa, mái tôn cũ rơi xuống. Nhà trường nói sập do mưa lớn. Nhưng nhà kho đó đã cũ mười mấy năm, mọi người biết nó nguy hiểm, ai cũng dặn học sinh đừng vào. Vậy mà ba em vẫn vào. Và mái sập đúng lúc đó.

– Thầy Đức liên quan gì đến vụ nhà kho ạ?

Im lặng bảy giây. Dài nhất từ đầu cuộc gọi.

– Thầy Đức là người tìm ra các em. Sáng hôm sau, sáu giờ. Thầy ấy ở trường từ đêm, như mọi khi. Thầy ấy mang các em ra, đặt trên sân, gọi bảo vệ. Cô đến trường bảy giờ thì thấy thầy ngồi bên cạnh ba cái thân nhỏ, tay đặt trên đầu gối, nhìn xuống. Không khóc. Không nói. Chỉ ngồi.

Cô Lan dừng lại. Minh nghe tiếng bà nuốt nước bọt.

– Có thứ cô nhớ rõ nhất. Tay thầy Đức hôm đó dính đất đỏ. Và mắt thầy ấy, khi ngẩng lên nhìn cô, mắt đó không phải mắt người vừa phát hiện tai nạn. Mắt đó như người đã biết từ trước.

Minh cầm bút chặt hơn. "TH biết trước vụ nhà kho 1998? Hoặc TH có mặt khi xảy ra?"

– Cô Lan ạ, cháu hỏi thêm một câu. Thầy Đức có bao giờ nhắc đến lý do ở lại trường lâu như vậy không? Ông ấy có gia đình không ạ?

– Không gia đình. Cô chưa bao giờ nghe thầy ấy nhắc vợ con, bố mẹ, anh chị em. Thầy ấy sống ở trường. Nghĩa đen. Có phòng riêng trong dãy nhà công vụ, nhưng ai đi ngang cũng thấy đèn sáng đến khuya. Lý do ở lại... Một lần, năm 2005 hay 2006 gì đó, cô hỏi thầy: sao không chuyển trường cho gần thành phố? Thầy ấy nhìn cô rồi nói: "Tôi không đi được, cô Lan." Cô tưởng thầy ấy nói về thủ tục hành chính hay gắn bó gì đó. Nhưng giọng thầy ấy lúc nói câu đó... không phải giọng người chọn ở lại. Mà giọng người bị giữ lại.

Minh dừng ghi. Nhìn câu cuối trên sổ: "Tôi không đi được."

Thiên Nam hỏi trên mái nhà kho: "Cậu nghĩ vì ông ta muốn? Hay vì ông ta phải?"

Hai câu trả lời trùng nhau từ hai nguồn không liên quan.

– Cô Lan ạ, cháu cảm ơn cô rất nhiều. Cô có muốn cháu gửi bài nghiên cứu khi xong không ạ?

– Thôi, cô không cần. Cháu ạ, cô nói thật. Cô dạy trường đó gần hai mươi năm, và cô vui vì đã nghỉ. Có những chỗ ở lâu rồi biết: mình không thuộc về đó. Trường Minh An là chỗ như vậy. Cháu nghiên cứu gì thì cẩn thận.

Cô cúp máy. Minh nhìn màn hình điện thoại tắt.

Chín giờ mười lăm phút. Cà phê nguội. Cậu uống một ngụm, đắng, không cảm nhận nhiệt độ. Tay cậu ôm ly nhưng không biết ly ấm hay lạnh. Cậu không để ý chi tiết này.

Minh mở laptop, vào trang tra cứu hồ sơ sinh viên tốt nghiệp của Đại học Sư phạm Đà Nẵng. Trang web cũ, giao diện từ thập niên trước, nhưng có chức năng tìm kiếm theo tên và năm. Cậu nhập: Hoàng Minh Đức, khóa 2010, ngành Sư phạm Toán.

Không có kết quả.

Cậu thử lại: bỏ năm, chỉ tìm tên. Hai kết quả: một Hoàng Minh Đức khóa 2018 ngành Sư phạm Lý, một Hoàng Minh Đức khóa 2003 ngành Giáo dục Tiểu học. Không có ai khóa 2010, ngành Toán.

Cậu thử trang của ĐH Sư phạm Huế, ĐH Quy Nhơn, ĐH Vinh. Không có. Hoàng Minh Đức không tốt nghiệp sư phạm Toán ở bất kỳ trường nào cậu tra được.

Minh ghi: "Bằng cấp trên hồ sơ nhân sự là giả. Không có sinh viên Hoàng Minh Đức tốt nghiệp Sư phạm Toán ở Đà Nẵng hoặc các trường kiểm tra được. Toàn bộ hồ sơ phòng tổ chức là bịa."

Mười giờ. Minh đóng laptop. Ngồi lại. Nghĩ.

Thầy Hoàng không có quá khứ bên ngoài trường. Không gia đình, không bằng cấp thật, không lý lịch trước 1978. Cô Lan ghi nhận ông ta có mặt ít nhất từ 1985, ảnh chứng minh từ 1978. Hồ sơ ghi ông ta sinh năm 1988, nghĩa là hồ sơ được tạo để che một người đã tồn tại ít nhất mười năm trước khi "hồ sơ" sinh ra. Ông ta ở trường, sống ở trường, không rời trường. "Tôi không đi được."

Ông ta bị giữ. Bởi ai? Bởi cái gì?

Minh nghĩ đến xe buýt trống rỗng dưới sông. Bốn mươi mốt xác biến mất. Bốn mươi mốt bóng người ngồi trong lớp. Và một người đàn ông không già, không đi, không có quá khứ, canh giữ họ mỗi ngày.

Câu hỏi không còn là: Thầy Hoàng là ai?

Câu hỏi bây giờ là: Thầy Hoàng là gì?

Buổi chiều Minh quay lại trường. Ba giờ mười lăm phút, giờ tan học đã qua. Sân trường vắng, vài nhóm học sinh lớp dưới đi về. Tầng bốn im lặng.

Cậu lên hành lang tầng bốn. Lớp 12A3 đóng cửa, bên trong tối. Vòng lặp kết thúc lúc năm giờ, bây giờ lớp trống giữa các chu kỳ. Minh đứng trước cửa, nhìn qua ô kính. Bàn ghế xếp ngay, bảng xanh sạch, phấn nằm máng. Không có gì chứng minh bốn mươi mốt người từng ngồi đây sáng nay.

Cậu đi dọc hành lang, đến cuối, rẽ phải. Dãy nhà công vụ nối liền tầng bốn bằng một cánh cửa sắt luôn đóng. Minh biết Thầy Hoàng sống ở đây. Cha ghi trong hồ sơ: địa chỉ đăng ký là trường. Cô Lan xác nhận: đèn sáng đến khuya. Minh thử đẩy cửa. Khóa. Cậu nhìn qua khe hở: hành lang hẹp, tường sơn trắng cũ, ba cánh cửa gỗ đóng. Đèn tắt.

Cậu không cố mở. Chưa phải lúc. Cậu cần thêm thông tin trước khi đối diện trực tiếp.

Quay lại lớp, Minh dừng trước bức ảnh tốt nghiệp treo trên tường. Bốn mươi mốt vệt trắng. "GVCN: Hoàng Minh Đức." Cậu nhìn kỹ hàng chữ nhỏ phía dưới, lần đầu để ý: dòng cuối ghi "Trường THPT Minh An, Truyền thống 1975."

Trường thành lập năm 1975. Ảnh sớm nhất có Thầy Hoàng: 1978. Ba năm sau khi trường ra đời, ông ta đã ở đây. Có thể ông ta ở đây từ đầu.

Minh ghi nhận và đi xuống cầu thang.

Về nhà trọ, cậu ngồi trước bức tường điều tra. Dán thêm: ảnh chụp màn hình trang tra cứu ĐH Sư phạm Đà Nẵng (không kết quả), ghi chú cuộc gọi cô Lan (tóm tắt 5 điểm chính), mũi tên nối từ ảnh 1978 đến ảnh 2011 qua hồ sơ giả. Bên cạnh, cậu viết hai câu hỏi lớn bằng bút đỏ:

"TH là gì?"

"TH bị giữ bởi ai/cái gì?"

Và dưới cùng, nhỏ hơn, bằng bút đen:

"Nếu TH cũng bị giữ, ai là người giữ cả hai (TH + lớp)?"

Cậu nhìn tường. Mạng lưới đường nối, ảnh, ghi chú, photocopy, bài báo. Giống tường điều tra trong phòng làm việc cha. Cậu đang làm điều cha đã làm, theo cùng con đường, hỏi cùng câu hỏi. Và cha đã chết vì những câu hỏi này.

Minh tắt đèn, nằm xuống giường. Nhìn trần. Trong bóng tối, cậu cảm thấy nhà trọ lạnh hơn bình thường, hoặc bình thường cậu không cảm nhận nhiệt độ nên không biết phòng luôn lạnh như vậy. Cậu nghĩ đến cô Lan: "Mắt đó không phải mắt người vừa phát hiện tai nạn. Mắt đó như người đã biết từ trước."

Thầy Hoàng biết trước vụ nhà kho năm 1998. Biết trước các vụ mất tích. Có thể biết trước vụ xe buýt. Và ông ta vẫn ở đây, vẫn dạy, vẫn canh giữ, với đôi mắt của người mang nợ mà không trả được.

Điện thoại rung. Tin nhắn từ số lạ, không tên: "Mình ngồi trong lớp cả ngày. Cậu không đến."

Diệp Chi. Bằng cách nào đó, cô nhắn tin cho cậu. Hôm trước là qua Gia Huy. Hôm nay là trực tiếp, từ số không có trong danh bạ, số mà cậu không biết cô có.

Minh nhìn tin nhắn. Không trả lời ngay. Cậu nghĩ: vòng lặp đang thay đổi. Diệp Chi tồn tại ngoài khung giờ, nhắn tin ngoài trường, nhận ra cậu vắng. Những thứ này không nên xảy ra với người chết.

Cậu gõ: "Mai mình đi học."

Gửi. Màn hình sáng hai giây rồi tắt. Phòng trọ lạnh. Minh nhắm mắt.

Ngày mai cậu sẽ đọc tệp số 22 trên đĩa CD: báo cáo vụ sập nhà kho năm 1998. Và tệp số 31: danh sách giáo viên trường từ 1975. Nếu Thầy Hoàng có mặt từ đầu, sẽ có dấu vết. Nếu không, sẽ có khoảng trống, và khoảng trống cũng là một loại dấu vết.

Ch.32/83
2.456 từ