Ai Cũng Có Thể Là Giả
La Thiên Tước đứng trong phòng hồ sơ cá nhân ở tầng bốn, ngăn kéo mở trước mặt, và nhìn thứ bà đã biết sẽ ở đó nhưng chưa bao giờ dám tìm.
Hồ sơ khai tử.
Giấy vàng, góc gấp, mực xanh đen, con dấu tròn đỏ mờ. Tên: La Thiên Tước. Giới tính: nữ. Ngày sinh: 18 tháng 7 năm 1984. Ngày mất: 3 tháng 9 năm 2012. Nguyên nhân: tai nạn giao thông, xe khách tuyến Đà Nẵng. Nơi khai: phường Thanh Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Bà đọc ba lần. Mỗi lần chậm hơn lần trước.
Ngày mất: 3 tháng 9 năm 2012. Mười hai năm trước. Trước ngày bà được "tuyển" vào Cục bốn tháng. Hồ sơ tuyển dụng của bà ghi ngày vào: 15 tháng 1 năm 2013. Bà nhớ rõ vì bà nhớ mọi thứ liên quan đến Cục, từng ngày, từng giấy tờ, từng cuộc họp đầu tiên. Nhưng trước ngày đó, trước tháng một năm 2013, ký ức bà mỏng. Không phải không có. Mỏng. Kiểu nhớ đã xem bộ phim nhưng không nhớ chi tiết, chỉ nhớ cảm giác chung: tuổi thơ ở Đà Nẵng, học đại học, đi làm, rồi tai nạn.
Tai nạn.
Bà nhớ tai nạn. Hoặc bà nhớ thứ hiện thực cho bà để nhớ: xe khách, đèo, mưa, tiếng phanh. Rồi trống. Rồi tỉnh dậy ở bệnh viện, có người nói bà được chọn, có công việc phù hợp, có tổ chức cần bà. Bà không hỏi tại sao. Không ai hỏi tại sao khi vừa sống sót.
Nhưng bà không sống sót. Hồ sơ khai tử ghi bà đã chết. Có con dấu, có chữ ký cán bộ tư pháp, có số sổ, có mã hồ sơ. Giấy không bị sửa, vì giấy viết tay, và bà biết rõ hơn ai hết: viết tay không bị dị năng thay đổi.
Bà lật trang sau. Ảnh.
Ảnh đen trắng, cỡ 4x6, dán bằng keo, góc hơi bong. Người trong ảnh là bà. Khuôn mặt bà, tóc bà (dài hơn bây giờ, ngang vai, không búi), mắt bà. Nhưng người trong ảnh đang cười. Nụ cười rộng, răng lộ, mắt nheo, kiểu cười của người chưa biết thế giới có thể bị sửa bằng lời nói. Kiểu cười bà không nhớ mình từng có.
La Thiên Tước nhìn ảnh. Nhìn lâu. Tay bà đặt trên mặt bàn, phẳng, không run. Bà đã huấn luyện mình không run trong hai mươi năm. Nhưng tay không run không có nghĩa bên trong không run.
Bà đóng hồ sơ. Đặt xuống bàn. Đứng thẳng.
Hành lang tầng bốn, đèn nháy. Vụ tấn công của Bạch Dữ làm hỏng hệ thống điện ở ba tầng. Tầng trệt mất một bức tường. Tầng hầm một, khóa kho bị phá. Tầng hầm hai, tài liệu bị lấy. Không có thương vong, nhưng có thứ tệ hơn thương vong: hoảng loạn.
La Thiên Tước đi dọc hành lang. Qua phòng họp, qua phòng kỹ thuật, qua phòng theo dõi. Mỗi phòng đều mở cửa, đèn bật, người bên trong. Nhưng không ai làm việc. Họ ngồi, đứng, tựa tường, nhìn màn hình hoặc nhìn nhau bằng mắt của người vừa phát hiện sàn dưới chân không chắc như họ tưởng.
Phòng kỹ thuật. Đặc vụ Trần Văn Hào ngồi trước ba màn hình, hai tay trên bàn phím nhưng không gõ. Mắt nhìn màn hình giữa, nơi hồ sơ cá nhân của anh ta hiện lên. Mắt đỏ.
La Thiên Tước dừng ở cửa.
– Báo cáo.
Hào quay lại. Mất nửa giây để nhận ra bà đứng đó. Đứng dậy, nhưng chậm, kiểu người không chắc mình còn thuộc về tổ chức này.
– Tôi đang kiểm tra hồ sơ cá nhân, chỉ huy. Hào nói, giọng khô. Bà bảo kiểm tra sau vụ tấn công. Tôi kiểm tra.
– Và?
Hào nhìn màn hình. Rồi nhìn bà.
– Hồ sơ ghi tôi tốt nghiệp Học viện An ninh năm 2015. Anh ta nói. Tôi nhớ tôi tốt nghiệp năm 2015. Nhưng bản lưu giấy, bản viết tay trong kho, ghi tôi không có trong danh sách sinh viên Học viện An ninh bất kỳ khóa nào.
Im lặng. Đèn huỳnh quang nhấp nháy, tắt, bật lại.
– Tôi gọi Học viện ba mươi phút trước. Hào nói tiếp. Họ có tên tôi trong hệ thống. Nhưng khi tôi hỏi giấy tờ gốc, hồ sơ giấy, họ nói đang tìm. Chưa tìm được.
La Thiên Tước nhìn anh ta. Không nói gì. Không cần nói. Bà biết anh ta sẽ nói gì tiếp.
– Tôi có thật không, chỉ huy?
Câu hỏi treo trong phòng, giữa tiếng quạt máy tính và ánh đèn nhấp nháy. La Thiên Tước không trả lời, vì bà không có câu trả lời, vì nửa giờ trước bà đã hỏi chính mình câu đó trước tấm ảnh người phụ nữ cười mà bà không nhớ mình từng là.
– Tiếp tục kiểm tra, bà nói. Ghi lại mọi bất nhất giữa hồ sơ số và hồ sơ viết tay. Nộp báo cáo cho tôi trước sáng.
Bà quay đi. Sau lưng, Hào ngồi xuống, hai tay trên bàn phím, vẫn không gõ.
Phòng theo dõi. Bốn đặc vụ, hai ngồi, hai đứng. Một người cầm tập giấy, lật qua lật lại. Một người nhìn điện thoại cá nhân, mặt trắng.
La Thiên Tước bước vào. Cả bốn nhìn bà.
– Ai đã kiểm tra hồ sơ cá nhân? Bà hỏi.
Ba tay giơ. Người thứ tư, đặc vụ Nguyễn Thị Mai, ngồi yên, tay đặt trên đùi, mắt nhìn thẳng.
– Mai?
– Tôi không kiểm tra, chỉ huy. Mai nói, giọng phẳng.
– Tại sao?
– Vì tôi không muốn biết.
Im lặng. Ba đặc vụ kia nhìn Mai. La Thiên Tước cũng nhìn, và trong ánh mắt bà có thứ gì đó gần với thấu hiểu, vì bà đã không mở ngăn kéo của mình suốt hai mươi năm vì cùng lý do đó.
Đặc vụ cầm tập giấy lên tiếng. Phạm Quốc Bảo, ba mươi hai tuổi, bảy năm trong Cục.
– Hồ sơ ghi tôi có vợ. Bảo nói, giọng bằng nhưng mắt không bằng. Tên vợ tôi: Lê Hồng Nhung. Tôi nhớ cô ấy. Tôi nhớ đám cưới, nhớ căn hộ, nhớ cô ấy hay mặc áo xanh ngày chủ nhật. Nhưng hồ sơ giấy gốc ghi tôi chưa kết hôn. Và khi tôi gọi về số điện thoại Nhung, tổng đài nói số không tồn tại.
Bảo dừng. Lật giấy.
– Tôi không có vợ. Anh ta nói, chậm, từng từ, kiểu người đang cố quen với âm thanh của câu đó. Hoặc tôi có vợ và ai đó đã xóa cô ấy. Hoặc ai đó đã viết ký ức về cô ấy vào tôi. Tôi không phân biệt được.
La Thiên Tước nhìn Bảo. Nhìn tập giấy trong tay anh ta, góc nhàu vì siết quá chặt.
– Thu thập tất cả bất nhất, bà nói. Mỗi người một bản báo cáo riêng. Không trao đổi nội dung với nhau cho đến khi tôi đọc xong.
– Tại sao không trao đổi? Mai hỏi, vẫn ngồi yên.
– Vì nếu một người kể ký ức giả cho người khác, người nghe có thể bắt đầu nhớ thứ chưa bao giờ có. La Thiên Tước đáp. Dị năng Bạch Dữ hoạt động qua lời nói. Chúng ta không biết phạm vi ảnh hưởng còn sót lại bao xa.
Bốn đặc vụ im. La Thiên Tước bước ra.
Hành lang. Đèn nhấp nháy. Bụi bê tông từ tầng trệt bay theo gió lùa, mỏng, trắng, đọng trên vai áo bà lần thứ hai trong đêm.
Tầng ba, phòng làm việc của bà. Bàn gỗ, ghế, máy tính, tủ hồ sơ. Bà ngồi xuống. Mở ngăn kéo bàn, lấy cuốn sổ tay bìa da nâu, sổ bà dùng để ghi chép cá nhân. Viết tay. Luôn viết tay, từ ngày đầu tiên, vì bà biết dữ liệu số không đáng tin trong thế giới này.
Bà mở trang mới. Viết:
3 tháng 9 năm 2012: hồ sơ khai tử ghi tôi chết. Tai nạn xe khách tuyến Đà Nẵng.
15 tháng 1 năm 2013: hồ sơ tuyển dụng Cục ghi tôi vào làm. 4 tháng sau ngày chết.
Ký ức trước 2013: mỏng. Có nhưng mỏng. Tuổi thơ, đại học, công việc, nhớ khung nhưng không nhớ chi tiết. Không nhớ tên bạn thân hồi đại học. Không nhớ địa chỉ nhà cha mẹ. Không nhớ mình hay cười.
Bà dừng bút. Nhìn dòng cuối. Đặt bút xuống, lật lại vài trang. Sổ tay này bà dùng mười hai năm, từ khi vào Cục. Trang đầu tiên, chữ nhỏ, ngày 15 tháng 1 năm 2013:
Ngày 1. Vào Cục. Không rõ vì sao được chọn. Người tuyển: không ghi tên. Phòng làm việc tầng 3, bàn góc trái, cửa sổ nhìn ra hẻm.
Bà đọc lại dòng đó. Mười hai năm trước. Bà nhớ buổi sáng hôm đó: trời se lạnh (Sài Gòn, nhưng se lạnh, kiểu gió mùa cuối năm), bà mặc áo khoác dài tối màu (chiếc áo bà vẫn mặc), đi bộ từ bến xe đến tòa nhà xám quận 3. Ai đưa bà đến? Không nhớ. Ai phỏng vấn? Không nhớ. Ai ký giấy tuyển dụng? Không nhớ. Chỉ nhớ: ngồi xuống bàn góc trái, nhìn ra hẻm, và nghĩ, đây là nơi tôi thuộc về.
Thuộc về. Câu đó bà nghĩ hay hiện thực cho bà nghĩ?
Bà lật tiếp. Trang hai, ngày thứ ba:
Ngày 3. Được giao hồ sơ NND #3. Sự kiện Phiên An. 2.3 triệu người mất ký ức. Tôi đọc 7 tiếng liên tục.
Phiên An. Tệp hồ sơ đầu tiên bà chạm tay vào. Thành phố bà vừa giải thích cho Khải Minh hai ngày trước. Thành phố bà biết từng chi tiết, từng con số, từng tên đường (dù không ai nhớ tên đường), vì bà đã đọc hồ sơ đó hàng trăm lần trong mười hai năm.
Nhưng bà sinh ở Đà Nẵng. Gần Phiên An. Đà Nẵng cách khoảng trống nơi Phiên An từng đứng khoảng sáu mươi kilômét.
Bà đã bao giờ đến Phiên An chưa? Trước khi nó biến mất? Bà không nhớ. Ký ức trước 2013 mỏng, và mỏng ở chỗ nào bà không kiểm soát được.
Bà viết thêm:
Bạch Dữ nói: "Cô ở đây vì hiện thực cần người vận hành tổ chức này, và hiện thực chọn phiên bản cô phù hợp nhất."
Nếu đúng: tôi là bản sao của người đã chết. Được kéo từ phiên bản khác, cho ký ức mới, cho công việc mới.
Nếu sai: Bạch Dữ muốn tôi tin mình là bản sao, để tôi ngừng chống lại.
Cả hai đều có thể đúng. Cả hai đều có thể sai. Và không có cách phân biệt.
Bà đóng sổ. Đặt bút xuống. Nhìn ra cửa sổ, hẻm tối, đèn đường vàng, xe máy ai đó chạy qua.
Mười một giờ đêm. La Thiên Tước đi xuống tầng hầm ba.
Phòng Trắng vẫn khóa. Thiết bị đo bên ngoài cửa vẫn nhấp nháy, đèn đỏ mỗi giờ mạnh thêm một phần trăm. Tần số thứ mười tám. Của Bạch Dữ, sống trong Khải Minh, và bây giờ Bạch Dữ đã lấy bản ghi gốc, bà không biết ông ta sẽ làm gì với nó.
Bà không mở cửa. Đứng ngoài, lưng tựa tường đối diện, nhìn cánh cửa thép.
Bên trong, Khải Minh và Mẫn Nhi. Hai thực thể mà hai tuần trước bà phân loại rõ ràng: Người Nói Dối cấp nguy hiểm và thực thể sai lệch mức bảy. Bây giờ, sau Mẫn Nhi nói "ông ấy nói cô ấy vẫn sống" và sau hồ sơ khai tử trong ngăn kéo tầng bốn, bà không chắc ai đang giam ai.
Bà đang giữ Khải Minh. Hay Cục đang giữ bà?
Câu hỏi đó treo trong hành lang tầng hầm ba, giữa tiếng huỳnh quang rè và tiếng thông gió nhẹ. Bà không trả lời. Bà không cần trả lời. Bà cần làm thứ bà luôn làm: ghi chép, phân loại, kiểm soát. Nhưng tối nay, lần đầu trong hai mươi năm, bà không biết mình đang kiểm soát cái gì.
Tổ chức này được tạo ra bằng lời nói dối. Mẫn Nhi nói vậy. Bạch Dữ không phủ nhận. Và nếu tổ chức là giả, thì lệnh truy nã mức S là giả, thiết bị đo tần số là giả, cái ghế bà ngồi họp mỗi sáng là giả, hai mươi năm bà dành cho Cục là hai mươi năm phục vụ lời nói dối của ai đó.
Đặc vụ Hào không tồn tại trong danh sách Học viện An ninh. Đặc vụ Bảo có vợ trong ký ức nhưng không có vợ trong giấy tờ. Đặc vụ Mai không dám kiểm tra vì biết câu trả lời sẽ không dễ chịu.
Và La Thiên Tước, người đứng đầu, chết mười hai năm trước, đang tựa tường nhìn cánh cửa thép giam hai người mà bà bắt đầu nghi ngờ có thật hơn chính bà.
Bà nhắm mắt. Trong bóng tối sau mí, bà cố nhớ nụ cười trong ảnh khai tử. Không nhớ được. Bà nhớ mặt mình, nhớ tóc, nhớ mắt, nhưng nụ cười đó thuộc về người khác, người đã chết trên xe khách tuyến Đà Nẵng, người có quá khứ thật, có bạn bè thật, có cha mẹ thật, và nụ cười thật.
Bà mở mắt. Đứng thẳng. Hít thở. Bước đi.
Còn một việc phải làm trước sáng.
Tầng hầm hai. Kho lưu trữ. Cửa đã bị Bạch Dữ phá khóa, bản lề cong, cửa khép hờ. La Thiên Tước đẩy cửa, bước vào.
Hai dãy kệ sắt, mười hai ngăn mỗi kệ. Bà đi thẳng đến ngăn mười hai. Kéo hộp.
Nhẹ hơn bà nhớ. Bà mở: bên trong vẫn còn hai mươi chín trang, đóng ghim ba phần. Phần một, hai, ba. Phần bốn, bản ghi gốc, trang cuối, đã bị Bạch Dữ lấy.
Bà biết nội dung trang đó. Bà đã đọc hồ sơ Khải Minh nhiều lần, từ khi cậu ta được nâng cấp theo dõi sáu tháng trước. Bản ghi gốc ghi: "Đối tượng được tạo ra từ lời phủ nhận." Chữ đánh máy, kiểu chữ cũ, giấy vàng.
Nhưng bây giờ bà đọc lại phần ba bằng con mắt khác. Phần phân tích dị năng:
"Dị năng #5 phân loại: Lớp Hai (kế thừa). Nguồn: NND #0 (Bạch Dữ). Phương thức truyền: không rõ, có thể thông qua lời nói dối cấp tạo sinh."
Lời nói dối cấp tạo sinh. Bạch Dữ nói "Đứa trẻ đó chưa từng tồn tại," hiện thực phản ứng bằng cách tạo ra đứa trẻ. Và đứa trẻ đó mang dị năng của người đã nói, vì nó được sinh ra từ lời nói, nên lời nói là bản chất của nó.
Bà lật về phần hai. Bảng theo dõi. Dòng đầu: "2009/08, Đối tượng 7 tuổi, trường tiểu học Bình An. Lần đầu phát hiện tần số sai lệch. Nguồn phát hiện: Người Ghi Nhớ Sương."
Người Ghi Nhớ Sương. Bà nhớ tên đó. Bà nhớ hồ sơ: nữ, khoảng sáu mươi tuổi khi mất, sáng lập mạng lưới Người Ghi Nhớ, theo dõi Khải Minh từ bảy tuổi. Mất bốn năm trước vì ký ức chồng phá hủy não.
Nhưng ai giao hồ sơ Sương cho Cục? Ai quyết định theo dõi mà không can thiệp? "2014/08, Sự kiện: trẻ em mất tích (Lâm Mẫn Nhi, em gái). Phân tích: lời nói dối cấp độ cao, xóa thực thể sống. Không can thiệp, chờ quan sát."
Không can thiệp. Bà đã đọc dòng này trước đây và không thấy vấn đề. Một đứa trẻ mười hai tuổi xóa em gái khỏi hiện thực, Cục quyết định chờ quan sát, và bà đồng ý, vì bà tin Cục biết nó đang làm gì. Nhưng Cục do ai tạo ra? Bạch Dữ. Và lệnh "không can thiệp" do ai ký? Bà lật tìm. Không có chữ ký. Dòng ghi chú không ghi người quyết định.
Ai quyết định? Bà hay ai trước bà? Hay không ai, vì tổ chức tự vận hành theo kịch bản Bạch Dữ viết sẵn, và mỗi quyết định "không can thiệp" là một phần của lời nói dối gốc?
La Thiên Tước đóng hộp. Đặt lại ngăn mười hai.
Bà đi đến ngăn bảy. NND #0, Bạch Dữ. Kéo hộp.
Trống.
Ba tờ giấy đã bị Bạch Dữ lấy. Hộp rỗng, chỉ còn lớp bụi mỏng hình chữ nhật nơi giấy từng nằm.
Bà nhìn hộp trống. Rồi nhìn nhãn viết tay: NND #0, Bạch Dữ. Nguồn gốc. Chữ của ai? Không phải chữ bà. Không phải chữ bà Sương, bà đã so sánh nét chữ nhiều lần. Chữ của ai đó trước họ, người lập kho này, người đặt tên cho ngăn kéo, người quyết định Bạch Dữ là số không.
Ai?
Bà đóng hộp. Đặt lại. Bước ra khỏi kho.
Hành lang tầng hầm hai, hai giờ sáng. La Thiên Tước đi chậm, bước đều, tiếng giày gõ bê tông nhẹ. Tòa nhà im. Đặc vụ hoặc đang viết báo cáo ở tầng trên, hoặc đang ngồi trước hồ sơ cá nhân của mình và tự hỏi câu hỏi mà không ai muốn trả lời.
Bà dừng ở cầu thang. Nhìn lên. Nhìn xuống.
Nếu bà mở cửa Phòng Trắng, thả Khải Minh, cậu ta sẽ làm gì? Nói dối. Phá thêm hiện thực. Hoặc không. Hoặc cậu ta sẽ tìm Bạch Dữ, và hai Người Nói Dối đối đầu, và hiện thực rách thêm, và 2.3 triệu người Phiên An vẫn không nhớ gì.
Nếu bà giữ cậu ta, tần số thứ mười tám tiếp tục mạnh lên. Mỗi giờ thêm một phần trăm. Thiết bị đo của Cục ước tính: trong hai mươi ngày, tần số sẽ đạt ngưỡng tới hạn. Bà không biết điều gì xảy ra khi ngưỡng đó bị phá, vì chưa có tiền lệ, nhưng hồ sơ Phiên An ghi: tần số NND #3 đạt ngưỡng trong mười bốn giờ trước khi thành phố biến mất.
Giữ hay thả, cả hai đều dẫn đến thảm họa. Và bà, người đứng đầu tổ chức kiểm soát hiện thực, không biết tổ chức mình có thật hay không.
La Thiên Tước bước lên cầu thang. Từng bậc, đều, chậm, lưng thẳng. Bụi trắng trên vai áo bà rơi theo mỗi bước, nhẹ, mỏng, như thứ gì đó đang bong ra từ bề mặt.
Ở tầng bốn, phòng hồ sơ cá nhân, ngăn kéo vẫn mở. Hồ sơ khai tử nằm trên bàn, ảnh người phụ nữ cười ngửa lên trần. La Thiên Tước bước vào, nhìn ảnh lần nữa.
Người trong ảnh đang cười. Bà không nhớ mình từng cười như vậy.
Bà cầm hồ sơ. Gấp lại. Cho vào túi áo khoác trong, cùng chỗ với sổ tay bìa da nâu. Giấy viết tay không bị sửa. Ảnh in trên giấy không bị sửa. Đó là thứ duy nhất bà tin được trong tòa nhà này.
Bà tắt đèn. Đóng cửa phòng hồ sơ. Bước đi trong hành lang tối.
Và ở đâu đó trong thành phố, Bạch Dữ cũng đang đọc giấy tờ viết tay, ba tờ của mình và một tờ của Khải Minh, dưới ánh đèn đường, trên ghế đá công viên nào đó mà không ai nhớ ông ngồi, và tự hỏi câu hỏi mà ông đã hỏi mấy chục năm: phiên bản nào của ông là thật, hay tất cả đều là lời nói dối ông đã quên mình nói.