Tha Thứ Không Có Nghĩa Là Quên
Gió nghĩa trang tháng Hai lạnh hơn gió phố, kiểu lạnh không có tường chắn, không có mái che, chỉ có đồng trống và hàng cây bạch đàn rung lá trong nắng sớm. Minh Anh đứng ở cổng nghĩa trang ngoại thành, tay cầm bó hoa cúc trắng bọc giấy nâu, nhìn đồng hồ. Chín giờ mười lăm. Mai nói chín giờ.
Tin nhắn Mai gửi tối qua: "Chị có định thăm cha trước Tết không?" Minh Anh đọc, nghĩ một lúc, trả lời: "Có." Mai: "Em cũng muốn đến. Có thể cùng đi không?"
Có thể cùng đi không. Sáu chữ. Minh Anh đọc đi đọc lại sáu chữ đó trong bóng tối phòng mình ở Đống Đa, ánh sáng màn hình điện thoại chiếu lên trần, nghĩ xem câu trả lời nào đúng. Không phải đúng theo nghĩa lịch sự, đúng theo nghĩa mình muốn hay không.
Mình muốn không? Đi thăm mộ cha cùng cô ấy. Hai đứa con gái cùng cha đứng trước một ngôi mộ. Ngôi mộ duy nhất. Trong khi sống cha chia đôi, khi chết cha chỉ có một chỗ nằm. Và hai đứa con gái, lần đầu tiên, đứng cùng nhau ở chỗ đó.
Cô trả lời: "Được. Chín giờ sáng."
Xe máy chạy từ phía đường lớn vào, dừng ở bãi đất trước cổng. Mai bước xuống, mũ bảo hiểm treo ghi đông, tay cầm bó hoa cúc vàng nhỏ, kiểu cúc hàng chợ giống cúc mẹ cô trồng trên ban công. Áo khoác dạ nâu, khăn len quấn cổ, mặt hơi đỏ vì gió.
– Xin lỗi chị, em muộn mười lăm phút. Kẹt xe Cầu Chương Dương.
– Không sao.
Hai người đi vào nghĩa trang. Đường bê tông nhỏ, hai bên là hàng mộ xếp đều, bia đá xám, chậu hoa nhựa, nhang cắm trước bia. Buổi sáng trước Tết, nghĩa trang vắng hơn ngày thường, chỉ vài người già đi thăm mộ sớm, quét lá, thắp nhang, lầm rầm khấn.
Minh Anh dẫn đường. Cô đã đến đây ba lần kể từ tang lễ, mỗi lần một mình, mỗi lần đứng trước mộ cha mười phút rồi đi, không nói gì, chỉ đặt hoa, nhìn bia, rồi quay lưng. Lần nào cũng vậy. Mười phút. Không khóc, không khấn, không nói. Vì không biết nói gì với một người đã dối mình hai mươi tám năm mà vẫn yêu mình thật.
Mộ cha nằm cuối dãy hàng bảy, bia đá xám khắc chữ đỏ: Nguyễn Văn Phúc, 1966-2024. Chậu hoa nhựa trắng trước bia, nhang cũ đã tàn, tro bay lấm tấm trên đất. Ai đó đã đến trước, thắp nhang, quét lá, có lẽ mẹ Hạnh hoặc Nam.
Hai người đứng trước mộ. Mỗi người đặt bó hoa xuống, cúc trắng bên trái, cúc vàng bên phải. Hai bó hoa trên cùng một ngôi mộ, từ hai gia đình mà cha đã chia đôi suốt hai mươi sáu năm.
Im lặng. Gió thổi qua hàng bạch đàn, lá rung xào xạc, ánh nắng mùa đông xiên qua tán cây, vẽ bóng lốm đốm trên đất. Mùi nhang cũ, mùi đất ẩm, mùi hoa cúc tươi. Minh Anh nhìn bia mộ, đọc tên cha, năm sinh, năm mất. Hai con số. Một đời người. Sáu mươi ba năm sống, hai mươi sáu năm dối, không biết bao nhiêu năm yêu thật.
Cha. Con đến rồi. Hôm nay không đến một mình.
Cô quay sang nhìn Mai. Mai đứng lặng, hai tay buông, mắt nhìn bia mộ, không khóc, không nói. Gương mặt bình tĩnh kiểu người đã tập được cách đứng trước nỗi đau mà không ngã, không phải vì hết đau mà vì đã quen đứng.
Minh Anh nói khẽ, gần như thì thầm, không chắc Mai nghe hay không, cũng không chắc mình nói cho ai nghe.
– Cha. Con gặp Mai rồi.
Mai nghe. Cô biết vì Mai hơi quay đầu, nhưng không nhìn Minh Anh, vẫn nhìn bia mộ. Rồi im.
Một phút. Hai phút. Gió vẫn thổi, nhang cũ vẫn tỏa mùi, nắng vẫn xiên, và hai cô gái con cùng một người cha đứng trước mộ ông trong im lặng, kiểu im lặng không cần phá, vì không có lời nào đúng hơn im lặng ở chỗ này, ở lúc này.
Mai nói trước.
– Em nghĩ em không tha thứ được cho cha ngay. Nhưng em cũng không muốn mang oán đó theo mãi.
Giọng nhẹ, đều, không run, kiểu giọng người đã nghĩ câu này lâu rồi, nghĩ đi nghĩ lại trong bao nhiêu đêm nằm nhìn trần nhà chung cư Long Biên, nghĩ xong rồi nói ra, không phải cho cha, cho Minh Anh, cho chính mình.
Minh Anh nhìn Mai. Rồi nhìn lại bia mộ.
– Mình cũng vậy.
Mình cũng vậy. Không tha thứ được ngay. Có lẽ không tha thứ được bao giờ, theo nghĩa xóa sạch, quên hết, coi như chưa xảy ra. Nhưng ôm oán đó thì nặng quá, nặng hơn cành đào, nặng hơn hộp gỗ, nặng hơn hai mươi tám năm ký ức. Mình không muốn nặng nữa.
Mai quay sang nhìn Minh Anh lần đầu kể từ khi đứng trước mộ. Đôi mắt giống nhau, đôi mắt cha, nghiêm, không chớp khi đau, kiểu mắt mà mười một tháng trước Minh Anh nhìn thấy ở Mai và giật mình vì giống mình quá.
– Chị nghĩ thế nào thì được?
Minh Anh nghĩ. Không nghĩ lâu, vì câu trả lời đã ở đó từ lâu rồi, chỉ là chưa nói ra.
– Tha thứ không có nghĩa là quên. Mình không cần quên. Chỉ cần đặt xuống.
Đặt xuống. Như mẹ Hạnh đặt bát cháo thứ tư xuống bồn rửa. Như mẹ Trang đặt ghế cha vào góc phòng. Không xóa, không quên, chỉ đặt xuống, bỏ ra khỏi tay, để tay rảnh cầm thứ khác, cầm cà phê, cầm bút vẽ, cầm đào Tết, cầm tay con mình sau này.
Mai im lặng một lúc. Nhìn mộ cha, nhìn hai bó hoa, nhìn nắng trên bia đá.
– Đặt xuống. Nghe được.
Hai chữ. Không phải đồng ý, không phải hứa, chỉ là thừa nhận câu đó có lý, có thể thử, có thể bắt đầu. Nghe được, theo nghĩa đã nghe, đã cân nhắc, đã không gạt đi.
Minh Anh gật nhẹ. Không cần nói thêm. Ở đây, trước mộ cha, giữa nghĩa trang gió lạnh, không cần nhiều lời. Cha đã nói quá nhiều trong nhật ký, trong thư, trong di chúc. Con gái ông chỉ cần đứng đây, đặt hoa, và nói vài câu thật.
Hai người đứng thêm vài phút. Gió nhẹ dần, nắng ấm hơn, ánh sáng mùa đông Hà Nội nhạt nhưng đủ sáng để nhìn rõ từng nét chữ trên bia mộ, từng cánh hoa cúc, từng vết rêu xanh trên đá.
– Mình đi, Minh Anh nói.
Mai gật. Cả hai quay lưng, đi ra, không ngoái lại. Không phải vì lạnh lùng, vì đã nói đủ, và ngoái lại sẽ phải nói thêm, mà thêm thì không biết nói gì nữa.
Ra đến cổng nghĩa trang, nắng rộng hơn, đường lớn, xe cộ qua lại, tiếng còi, tiếng động cơ, cuộc sống bên ngoài nghĩa trang, cuộc sống không dừng lại vì hai cô gái vừa thăm mộ cha.
Minh Anh dừng ở bãi đất, lấy xe. Mai dừng cạnh xe mình.
– Chị về hướng nào?
– Đống Đa. Em?
– Long Biên.
Hai hướng. Như mọi lần. Hai nhà, hai đường, hai cuộc sống. Nhưng hôm nay, lần đầu tiên, cùng đi thăm một người.
Mai mỉm cười nhẹ, kiểu cười không cần răng, chỉ cần khóe môi hơi cong.
– Hẹn gặp lại chị.
Không nói khi nào. Không nói ở đâu. Chỉ hẹn, kiểu hẹn mà cả hai biết không phải lịch sự xã giao, vì xã giao thì sẽ nói "hôm nào rảnh gặp nhé" kèm nụ cười gượng, còn Mai chỉ nói "hẹn gặp lại chị" rồi đội mũ bảo hiểm, nổ máy.
– Ừ. Đi cẩn thận.
Đi cẩn thận. Mình nói câu đó với Mai như nói với em gái. Không, không phải em gái. Mình không có em gái. Mình có Mai. Không phải chị em, không phải bạn, không phải đồng nghiệp, không phải bất cứ mối quan hệ nào có tên gọi sẵn trong tiếng Việt. Chỉ là người đã đi cùng đoạn đường khó nhất trong cuộc sống mình. Người mang cùng đôi mắt cha, cùng nỗi đau, cùng cành đào phai mua ở chợ Quảng Bá. Người đứng cạnh mình trước mộ cha mà không ai khóc, không ai oán, chỉ đặt hoa và nói thật.
Mình không biết họ là gì với nhau. Không cần biết. Đó cũng đủ.
Mai chạy xe ra đường lớn, rẽ trái, áo nâu khuất dần trong dòng xe máy chiều cuối năm. Minh Anh đứng nhìn theo một lúc, tay cầm mũ bảo hiểm, gió thổi tóc bay. Rồi cô đội mũ, nổ máy, rẽ phải.
Hai người về hai hướng. Như mười một tháng trước, như sẽ còn nhiều lần nữa. Nhưng hôm nay, trước khi rẽ, đã đứng cùng nhau một chỗ, nói cùng nhau vài câu, và biết rằng lần sau gặp lại sẽ không khó như lần trước.
Đặt xuống.
Mình không quên. Không xóa. Không coi như cha chưa từng sai. Nhưng mình đặt xuống, để tay rảnh, để vai nhẹ, để lần sau nhìn vào gương mà thấy mặt mình chứ không phải mặt cha. Mình là Minh Anh. Hai mươi tám tuổi. Kiến trúc sư. Con gái của một người đàn ông đã yêu thật và dối thật, và mình sống tiếp với cả hai điều đó.
Cô chạy xe qua đường Bưởi, qua Cầu Giấy, về Đống Đa. Nắng chiều nhạt vàng trên mái ngói, trên tán cây, trên những tấm biển quảng cáo cũ. Hà Nội chiều cuối năm, người đi lại đông, ai cũng có nhà để về, có mâm cỗ để chuẩn bị, có cành đào để cắm.
Về đến phòng trọ, cô treo áo khoác, rửa tay, ngồi xuống bàn vẽ. Mở cuốn sổ sketch, cầm bút chì, bắt đầu phác. Không phải vẽ mộ cha, không phải vẽ Mai, không phải vẽ hai bó hoa. Vẽ một ngôi nhà. Nhà nhỏ, mái bằng, cửa sổ rộng, có ban công trồng cây. Nhà mình sẽ thiết kế cho mình, nếu một ngày mình có đủ tiền. Nhà không có ghế trống, không có bàn ăn chia đôi, không có bí mật. Chỉ có ghế cho những người thực sự ở đó.
Đó rồi. Mình đang vẽ tương lai. Không phải vẽ quá khứ nữa.
Bút chì lướt trên giấy, nét nhẹ, đều, kiểu vẽ của người đã tập vẽ từ bốn tuổi vì cha dạy, và giờ vẽ vì mình thích, không phải vì cha.
Ngoài cửa sổ, Hà Nội tối dần, đèn đường bật, tiếng xe thưa, trời cuối năm lạnh nhưng không buốt. Minh Anh vẽ xong mặt đứng ngôi nhà, ngắm, nghiêng đầu, thêm một chậu hoa ở ban công. Hoa cúc. Không phải vì cha. Vì mình cũng thích hoa.
Kết thúc rồi. Không phải kết thúc câu chuyện, câu chuyện này không có kết, nó sẽ theo mình suốt đời. Nhưng phần đau nhất thì kết thúc rồi. Phần biết sự thật, phần giận, phần đọc nhật ký cha lúc ba giờ sáng mà muốn xé, phần nhìn Mai mà tưởng nhìn kẻ thù. Phần đó qua rồi.
Còn lại là sống. Sống với ký ức lẫn lộn, với tình yêu không trọn, với một người cha đã sai mà vẫn yêu mình thật. Sống với Mai ở đâu đó bên kia thành phố, với mẹ Hạnh ở nhà mới, với Nam đang lớn lên chậm rãi. Sống, vẽ, thiết kế, pha cà phê sáng, mua đào Tết, thăm mộ cha, rồi về. Không quên. Chỉ đặt xuống.