Chương 55: Bệnh án cũ
Bụi. Mùi bụi cũ trong tủ gỗ đóng kín, mùi vải mục, mùi giấy ẩm, mùi thời gian đọng lại trong những thứ không ai mở suốt nhiều năm. Minh Anh quỳ trước tủ áo phòng cha, hai tay kéo ngăn cuối, ngăn nặng, kẹt, phải giật mạnh mới ra.
Tháng mười một, trời lạnh hơn, gió luồn qua khe cửa sổ phòng cha, cửa sổ bà luôn mở hé vì cha thích nghe tiếng phố. Giờ phòng trống, giường gấp gọn, chăn xếp vuông, bàn làm việc sạch, chỉ còn cái tủ gỗ chưa dọn.
Mình phải dọn phòng này. Không phải vì muốn, mà vì phải. Nhà cần sắp xếp lại, phòng cha không thể giữ nguyên mãi như bảo tàng, không thể mỗi tối đi ngang cửa mà nhìn vào phòng tối, thấy bóng cha ngồi ở bàn, thấy cái ghế xoay, thấy đôi dép lê mẹ vẫn để ở chân giường dù cha đã đi tám tháng.
Ngăn tủ cuối cùng: quần áo cũ gấp gọn, mấy cái hộp giày, một túi vải đựng giấy tờ linh tinh. Minh Anh lấy ra từng thứ, xếp lên sàn. Áo sơ mi trắng đã vàng cổ, quần tây cũ, một chiếc cà vạt xanh đậm mà cô nhớ cha đeo ngày cưới trong ảnh.
Cha đeo cà vạt này trong ảnh cưới. Cha mẹ cưới năm 1994, Hà Nội, mùa thu. Cha cười trong ảnh, mẹ mặc áo dài trắng, hai người đứng trước cổng nhà, ngõ nhỏ, hoa cúc vàng. Hai mươi mấy năm trước. Cha chưa biết Trang. Cha chưa nói dối. Cha chỉ là một người đàn ông trẻ cười trong ảnh cưới.
Hộp giày đầu tiên: hoá đơn cũ, giấy bảo hành tivi, biên lai. Hộp thứ hai: ảnh gia đình, Minh Anh nhỏ, Nam nhỏ hơn, mẹ trẻ, cha trẻ, cả nhà ngồi ở bàn ăn. Minh Anh nhìn ảnh một lúc, rồi đặt xuống, tiếp tục.
Hộp thứ ba. Nặng hơn, nhỏ hơn. Nắp hộp dán băng keo nâu, cũ, mép cong. Minh Anh bóc băng keo, mở.
Bên trong: một xấp giấy A4 gấp đôi, kẹp bằng ghim giấy rỉ sét. Giấy vàng, viền nâu, kiểu giấy in cũ. Minh Anh lấy ra, mở.
Dòng đầu tiên, in đậm, chữ máy đánh: Bệnh viện Tâm thần Trung ương Hà Nội. Bệnh án ngoại trú.
Tim cô dừng một nhịp.
Tên bệnh nhân: Nguyễn Văn Phúc. Sinh năm: 1968. Địa chỉ: phố Hoàn Kiếm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Ngày khám lần đầu: 15 tháng 3 năm 1999.
Chẩn đoán: Trầm cảm nặng, có ý nghĩ tự tử.
Minh Anh đọc lại dòng đó. Đọc lại lần nữa. Trầm cảm nặng. Có ý nghĩ tự tử. Cha. Năm 1999.
Cha bị trầm cảm. Cha từng nghĩ đến chuyện chết. Cha, người đàn ông ngồi ở bàn ăn cười mỗi tối, người dắt mình đi học, người nấu phở sáng Chủ nhật, người đó từng muốn chết.
Tay cô run nhẹ khi lật trang tiếp. Ghi chép điều trị. Tháng 3 đến tháng 8 năm 1999. Sáu tháng. Thuốc chống trầm cảm, liệu pháp tâm lý, tái khám hàng tháng. Ghi chú của bác sĩ: "Bệnh nhân mất ngủ kéo dài, sụt cân, biểu hiện tội lỗi nặng nề, ám ảnh về sai lầm không thể sửa."
Sai lầm không thể sửa. Bác sĩ viết vậy. Sai lầm gì? Năm 1999, mình ba tuổi. Mình không nhớ gì về năm ba tuổi. Mình không biết cha mất ngủ, sụt cân, uống thuốc. Mẹ có biết không? Mẹ có thấy không?
Minh Anh ngồi lại trên sàn, lưng tựa chân giường, xấp giấy trên đùi. Phòng im, chỉ tiếng gió qua khe cửa sổ, tiếng đồng hồ treo tường nhà hàng xóm vọng sang, đều, chậm.
Năm 1999. Cô tính. Cha mẹ cưới 1994. Cô sinh 1996. Nam sinh 1999. Cha gặp Trang năm 1997, theo những gì cô biết từ nhật ký và hồ sơ luật sư. Năm 1998, Mai sinh. Năm 1999, cha bị trầm cảm.
Một năm sau khi Mai sinh. Một năm sau khi cha có đứa con thứ ba mà mẹ không biết. Cha trầm cảm vì cái gì? Vì tội lỗi? Vì sợ bị phát hiện? Vì muốn dừng lại mà không dừng được? Hay vì cái gì khác, cái gì đó xảy ra năm 1998 mà mình chưa biết?
Cô lật tiếp. Trang cuối cùng của bệnh án, ghi chú tái khám tháng 8/1999: "Bệnh nhân cải thiện. Ngủ được. Ăn uống bình thường. Vẫn còn cảm giác tội lỗi nhưng kiểm soát được. Dừng thuốc, theo dõi." Và dòng cuối, bút bi, chữ viết tay của bác sĩ: "Bệnh nhân cho biết đã 'quyết định sống vì con.'"
Quyết định sống vì con. Cha quyết định sống vì con. Con nào? Con là mình, là Nam, hay là Mai, hay là cả ba? Cha muốn chết, rồi cha nhìn con, rồi cha chọn sống. Và cha tiếp tục sống thêm hai mươi lăm năm, tiếp tục nói dối, tiếp tục hai gia đình, tiếp tục hai bàn ăn, vì cha đã chọn sống.
Minh Anh gập bệnh án lại, đặt trên sàn. Hai tay ôm đầu gối, nhìn vào khoảng trống trước mặt, nhìn sàn gỗ cũ, vết xước, vết bước chân mòn qua năm tháng.
Tại sao không ai nói với mình về điều này? Mẹ có biết cha đi khám tâm thần sáu tháng không? Mẹ có thấy thuốc trầm cảm trong ngăn kéo không? Hay mẹ cũng chọn không thấy, giống cách mẹ chọn không thấy số điện thoại lạ, mùi nước hoa lạ, tin nhắn T.?
Hay mẹ không biết thật. Vì cha giỏi giấu. Vì cha đã giấu cả một gia đình suốt hai mươi sáu năm, thì giấu sáu tháng đi khám bệnh viện tâm thần có khó gì.
Cô lấy điện thoại. Lướt đến tên Mai. Bấm gọi.
Chuông reo ba lần. Mai nghe.
– Em ơi.
– Chị.
Giọng Mai ở đầu dây, nhẹ, hơi khàn, kiểu giọng chiều tối, mệt.
– Chị tìm thấy bệnh án cũ của cha. Trong phòng cha, đáy tủ. Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, năm 1999. Trầm cảm nặng. Có ý nghĩ tự tử.
Im lặng bên kia. Minh Anh nghe tiếng thở của Mai, nhẹ, đều, kiểu thở của người đang xử lý thông tin.
– Năm 1999.
Mai nói, giọng chậm hơn bình thường.
– Một năm sau khi cha gặp mẹ em.
Đúng. Một năm sau khi cha bắt đầu gia đình thứ hai. Một năm sau khi mẹ Trang tin cha đã ly thân. Một năm sau khi lời nói dối bắt đầu.
– Bệnh án ghi: "tội lỗi nặng nề, ám ảnh về sai lầm không thể sửa."
Mai im lâu hơn lần trước. Rồi nói:
– Cha đã muốn chết vì cái cha làm.
Không phải câu hỏi. Là câu khẳng định. Giọng Mai bình tĩnh, kiểu bình tĩnh của người đã quen nghe những điều đau từ cha, đã quen đọc nhật ký, đọc thư, đọc di chúc, và giờ thêm bệnh án cũng chỉ là thêm một lớp nữa trong xấp giấy tờ của một người đàn ông đã chết.
– Chị ơi, trong phòng cha có gì khác không? Nhật ký năm 1998?
– Em có nhật ký năm 1998 không? Trong hộp gỗ hồi trước?
Mai im một lúc.
– Em có. Em chưa đọc kỹ. Em sẽ đọc lại.
– Đọc đi. Năm 1998. Xem cha viết gì năm đó. Trước khi cha trầm cảm. Chuyện gì xảy ra năm 1998 mà khiến cha muốn chết năm 1999.
Mai không trả lời ngay. Rồi:
– Em đọc tối nay.
Tắt máy. Minh Anh đặt điện thoại xuống sàn, nhìn lại bệnh án cũ nằm trên sàn gỗ, giấy vàng, chữ in mờ, ghim rỉ sét. Hai mươi bảy năm trước, cha ngồi trong phòng khám bệnh viện tâm thần, kể với bác sĩ về tội lỗi, về mất ngủ, về muốn chết. Rồi cha chọn sống vì con. Rồi cha giấu bệnh án vào đáy tủ, tiếp tục sống, tiếp tục dối, tiếp tục yêu, tiếp tục hai bàn ăn, thêm hai mươi lăm năm nữa.
Cha, cha có hạnh phúc không trong hai mươi lăm năm đó? Hay cha chỉ đang sống vì đã chọn sống, và sống thì phải tiếp tục, và tiếp tục thì phải diễn, và diễn lâu thành thật, hay thật lâu thành diễn, và cuối cùng không ai biết cái nào là cái nào nữa, kể cả cha.
Ngoài cửa sổ, trời tháng mười một tối sớm, đèn đường đã bật, ánh vàng nhạt rọi vào phòng, vẽ hình chữ nhật trên sàn gỗ, trên bệnh án cũ, trên đôi dép lê cha mà mẹ vẫn để ở chân giường.