Chương 34: Một chuyến du lịch bị hủy
Hè 2013. Tháng bảy. Nóng.
Nóng kiểu Hà Nội tháng bảy, nóng từ sáng, nóng từ lúc mặt trời chưa lên đã thấy hơi nóng bốc từ mặt đường nhựa, từ mái tôn, từ tường bê tông chung cư giữ nhiệt qua đêm. Quạt trần phòng khách chạy số ba, cánh quạt cũ kêu è è, gió không đủ mát, chỉ đủ xáo trộn không khí nóng từ góc này sang góc kia.
Mai mười lăm tuổi, vừa thi xong học kỳ hai lớp chín, đang nghỉ hè. Cô ngồi ở bàn ăn, trước mặt là tờ lịch trình Khang viết bằng bút dạ đỏ trên giấy A4: "Đà Nẵng, 5 ngày 4 đêm. Bơi biển. Ăn mì Quảng. Chụp ảnh cầu Rồng."
Bốn vé tàu. Mẹ mua từ tuần trước, xếp trong phong bì nâu, kẹp vào cuốn sổ chi tiêu. Bốn vé, bốn chỗ, toa giường nằm, tàu SE3 Hà Nội đi Đà Nẵng, khởi hành mười chín giờ ba mươi, đến sáng hôm sau. Mai đã gấp quần áo vào ba lô, đã nhét sách đọc trên tàu, đã mượn kính bơi của bạn Hương cùng lớp.
Khang mười một tuổi, chạy quanh phòng khách cầm cuốn sách hướng dẫn du lịch miền Trung mẹ mua ở hiệu sách, mở trang Đà Nẵng, chỉ vào ảnh bãi biển Mỹ Khê, hỏi: "Chị ơi nước biển có mặn không?"
– Mặn. Mặn lắm.
– Mặn hơn nước mắm không?
– Khác.
Khang cười. Cậu chưa bao giờ đi biển. Mười một tuổi, chưa thấy biển, chỉ biết biển qua ảnh, qua sách, qua phim. Bố hứa sẽ dạy cậu bơi, hứa từ đầu hè, hứa bằng giọng nhẹ bên bàn ăn tối thứ Bảy: "Bố sẽ dạy con bơi ở biển, bơi ở hồ bơi chán lắm."
Mẹ Trang ngồi ở ghế đối diện, khâu lại quai ba lô Khang bị sút chỉ, mũi kim lên xuống đều, tay chai nhưng khéo. Bà mặc áo thun xám, tóc búi gọn, mặt bình thường, kiểu bình thường của người đang chờ chiều đến để đi.
Điện thoại bàn reo. Mẹ đặt kim chỉ xuống, đứng dậy, nhấc máy.
– Alô?
Im lặng. Mẹ nghe. Lâu. Tay trái nắm dây điện thoại xoắn, ngón cái xoay xoay. Mai nhìn mẹ từ bàn ăn, thấy vai mẹ hạ xuống, chậm, như buông thứ gì nặng.
– Ừ. Ừ. Được rồi, em biết rồi.
Mẹ đặt máy. Quay lại bàn, ngồi xuống, cầm lại mũi kim. Không nhìn ai.
– Bố không đi được. Công trình đột xuất. Ba mẹ con mình đi.
Khang ngẩng lên, sách vẫn mở trước mặt.
– Sao bố không đi?
– Bố bận, con ạ. Công trình.
– Nhưng bố hứa dạy con bơi.
Mẹ không trả lời. Tay bà luồn kim qua vải, kéo chỉ, đều. Mai nhìn mẹ, nhìn sợi chỉ trắng chạy qua vải xám, nhìn mặt mẹ không đổi, bằng phẳng, kiểu mặt của người đã quen với câu "bố không đi được" từ lâu rồi.
– Mẹ ơi, bố bận thật hả mẹ?
Mẹ nhìn lên, nhìn Mai, một giây. Mắt mẹ không buồn, không giận, chỉ mệt, kiểu mệt cũ, kiểu mệt đã ở đó trước khi cú điện thoại vang.
– Bố nói bận thì bận, con. Mình đi ba người cũng vui.
Mai gật. Không hỏi thêm.
Mình mười lăm tuổi. Mình biết phân biệt giữa "bận thật" và "bận vì không muốn". Nhưng mình chưa biết có loại bận thứ ba: bận vì phải ở chỗ khác, với người khác, không phải không muốn đi mà không thể đi.
Chiều. Ga Hà Nội.
Ba mẹ con đi taxi từ Long Biên sang. Ga cũ, tường vàng nhạt, mái ngói nâu, đồng hồ lớn trên nóc, kim chỉ năm giờ rưỡi chiều. Sảnh ga đông, mùi dầu máy, mùi bụi, mùi mồ hôi người. Tiếng loa thông báo tàu vọng trong sảnh, giọng nữ đều đều, tiếng Việt rồi tiếng Anh, lẫn tiếng trẻ con khóc, tiếng va li kéo trên sàn gạch.
Mẹ cầm ba chiếc vé, bỏ chiếc thứ tư lại trong phong bì ở nhà. Mai xách ba lô của mình và túi đồ ăn mẹ chuẩn bị: bánh mì, nước, trái cây, mấy gói bim bim cho Khang. Khang đeo ba lô nhỏ, tay cầm cuốn sách du lịch, mắt nhìn quanh ga, tròn, rộng, kiểu mắt của đứa trẻ lần đầu đi tàu.
– Tàu to không chị?
– To.
– To hơn xe buýt không?
– To hơn nhiều.
Khang cười. Rồi cậu quay sang nhìn ghế chờ phía bên phải sảnh, nơi một gia đình bốn người ngồi: bố, mẹ, hai đứa con, hành lý chồng cạnh nhau, bố cầm vé, mẹ bế con nhỏ, đứa lớn ăn bánh. Bốn người, đầy đủ.
Khang nhìn, rồi quay đi, không nói gì.
Mai thấy. Thấy em nhìn gia đình đó, thấy mắt em dừng lại một giây ở người bố ngồi cạnh mẹ, tay khoác vai con, tự nhiên, không cố, kiểu tự nhiên của người luôn ở đó. Rồi Khang quay đi, nhìn biển thông báo tàu, hỏi: "Toa mình số mấy?"
Em không nói. Không hỏi tại sao bố không đi. Không khóc. Chỉ nhìn rồi quay đi. Mười một tuổi, Khang đã biết cách không nhìn lâu vào những thứ mình không có.
Mẹ dắt hai đứa vào sân ga. Tàu đã vào, dài, sắt xám, cửa sổ sáng đèn, tiếng máy nổ ầm ì. Mẹ đi trước, lưng thẳng, ba lô một bên vai, tay cầm ba chiếc vé, bước đều, không quay lại. Mai đi giữa, Khang đi sau. Ba cái bóng trên sân ga chiều, nắng xiên vàng qua mái tôn, dài ra phía trước, thiếu một cái.
Lên tàu, toa giường nằm, ba chỗ cạnh nhau, chỗ thứ tư trống. Mẹ đặt đồ lên giường trên, Mai ngồi giường dưới, Khang trèo lên giường giữa, cửa sổ toa mở hé, gió chiều thổi vào mùi dầu máy và mùi sắt nóng.
– Chỗ này của bố phải không? – Khang hỏi, chỉ giường dưới đối diện Mai.
– Không. Chỗ đó của khách khác.
Mẹ trả lời nhanh. Mai nhìn mẹ, thấy tay mẹ sắp xếp đồ trên giường, nhanh, gọn, không dừng, kiểu người muốn bận tay để không phải nghĩ.
Chỗ đó của khách khác. Đúng. Vé thứ tư bỏ ở nhà, chỗ thứ tư sẽ là người lạ. Nhưng mẹ trả lời nhanh quá. Nhanh kiểu đã chuẩn bị sẵn câu trả lời, vì biết Khang sẽ hỏi.
Tàu chạy. Đêm.
Khang ngủ từ lúc tàu qua Thanh Hóa, cuốn sách du lịch úp trên ngực, miệng hé, thở đều. Mẹ nằm giường trên, mắt nhắm nhưng Mai không chắc mẹ ngủ, vì thỉnh thoảng mẹ trở mình, và người ngủ thật thì không trở mình nhiều như vậy.
Mai nằm giường dưới, đầu quay ra cửa sổ. Tàu chạy qua đêm, ánh đèn nhà ga nhỏ lướt qua nhanh, vàng, rồi tối, rồi lại vàng ở ga tiếp. Cánh đồng đen ngoài kia, thỉnh thoảng một ánh đèn nhà ai đó giữa ruộng, đơn độc, sáng rồi mất.
Cô nghĩ.
Bố bận công trình. Nhưng hè là mùa ít công trình nhất. Bố nói vậy hồi đầu hè, nói rằng tháng bảy tháng tám mưa nhiều, ít thi công, sẽ rảnh hơn. Rồi vẫn bận. Bận đúng tuần đi Đà Nẵng. Bận gì? Công trình nào? Ở đâu?
Ý nghĩ đó qua nhanh. Qua như ánh đèn ga nhỏ lướt ngoài cửa sổ, sáng một giây rồi tối. Mai không giữ lại. Không kéo ý nghĩ đó ra, không hỏi thêm, không đặt câu hỏi tiếp theo. Vì mười lăm tuổi, Mai tin bố. Vì mười lăm tuổi, nghi ngờ bố là thứ xa xỉ mà cô chưa biết mình có quyền có.
Cô quay sang nhìn Khang ngủ, kéo chăn đắp lên ngực em, đẩy cuốn sách khỏi ngực cậu để cậu thở dễ hơn. Rồi nhắm mắt, nghe tiếng tàu chạy trên đường ray, nhịp đều, lắc nhẹ, và thiếp đi.
Đà Nẵng. Năm ngày.
Ba mẹ con ở khách sạn nhỏ gần biển Mỹ Khê, phòng ba giường đơn, quạt trần, cửa sổ nhìn ra đường, không thấy biển nhưng nghe tiếng sóng nếu lắng tai. Buổi sáng đi biển, Khang chạy ra mép nước, sóng đánh ướt quần, cậu hét lên vì lạnh, vì mặn, vì lần đầu tiên chân chạm nước biển. Mẹ ngồi trên bãi, dưới ô, mặc áo dài tay che nắng, nhìn hai đứa con chơi, mặt cười, nửa dưới cười nửa trên không.
Mai dạy Khang bơi. Không phải bố, là chị. Cô nắm tay em, kéo ra xa hơn, bảo em đạp nước, giữ đầu lên, thở bằng miệng. Khang sặc nước hai lần, mắt đỏ, mũi cay, nhưng cười, vì biển vui, vì chị ở đây.
– Bố mà ở đây thì dạy con bơi giỏi hơn chị.
– Chị dạy cũng được mà.
– Nhưng bố bơi giỏi hơn.
Mai không trả lời. Cô kéo em ra sóng nhỏ, để em tập đạp chân, tay cô giữ dưới bụng em, vững, như mẹ giữ, như bố giữ nếu bố ở đây.
Bố bơi giỏi hơn. Có lẽ. Nhưng bố không ở đây.
Chiều ăn mì Quảng ở quán nhỏ gần chợ Hàn. Tối đi bộ dọc bờ sông Hàn, nhìn cầu Rồng phun lửa. Khang nhảy lên chỉ: "Rồng phun lửa thật!" Mẹ chụp ảnh, điện thoại cũ, ảnh hơi mờ. Ba mẹ con cười. Ba người, đủ vui, đủ ấm, nhưng ở rìa mỗi bức ảnh luôn có một khoảng trống.
Hiện tại. Tháng sáu, 2024.
Mai ngồi ở bàn phòng ngủ, mở cuốn album ảnh cũ, bìa da nâu sẫm, mẹ dán ảnh bằng keo hai mặt, mỗi trang mấy tấm, viết chú thích bên dưới bằng bút bi xanh, chữ nhỏ, nghiêng, nét đều.
Trang 17: "Đà Nẵng, 7/2013."
Ba bức ảnh. Bức đầu: ba mẹ con trên bãi biển Mỹ Khê, mẹ giữa, hai đứa hai bên, sóng trắng phía sau, nắng chói, cười tươi. Bức hai: Khang ôm phao, mặt nhăn vì mặn, mẹ đứng sau đỡ lưng. Bức ba: Mai và Khang trước cầu Rồng đêm, ánh đèn xanh đỏ, mắt Khang tròn.
Cả ba bức, bên phải đều trống. Không phải trống vì cắt ảnh. Trống vì người chụp chỉ chụp ba người, và người thứ tư không có mặt để đứng vào khung hình.
Mình nhìn khoảng trống đó bao nhiêu năm mà không thấy. Không thấy vì mình nghĩ đó là bình thường. Bố bận, ba mẹ con đi, chụp ảnh ba người. Bao nhiêu gia đình cũng vậy. Nhưng bây giờ mình thấy. Khoảng trống bên phải. Chỗ bố đáng lẽ phải đứng, đã hứa sẽ đứng, đã không đứng vì đang ở nhà bên kia sông, trong một ngôi nhà mà mình không biết có tồn tại.
Hè đó, bố "đột xuất có việc." Chị Minh Anh nói: hè đó GĐ1 cũng bị hủy chuyến Hội An. Cùng hè. Cùng lý do. Bố không đi bên nào. Hay bố đã chọn không đi cả hai, vì đi một bên thì phải nói dối bên kia, và có lẽ cả bố cũng mệt với việc nói dối.
Mình đã biết. Mười lăm tuổi, trên tàu đêm, mình đã nghĩ: bận gì giữa mùa hè? Ý nghĩ đó qua nhanh, mình không giữ lại. Vì giữ lại thì phải hỏi. Hỏi thì phải nghe câu trả lời. Và mình sợ câu trả lời hơn sợ không biết.
Mai gấp album lại. Đặt trên kệ sách, cạnh hàng giáo trình sư phạm xếp đều. Tay cô vuốt nhẹ gáy album, da nâu, nhẵn bóng vì bao nhiêu lần mở.
Ngoài cửa sổ, đèn chung cư nhấp nháy ở tầng dưới. Tiếng mẹ rửa bát trong bếp, tiếng nước chảy, tiếng đĩa chạm nhau. Mùi cơm nguội, mùi nước rửa bát, mùi tối thường ngày.
Khoảng trống bên phải bức ảnh. Khoảng trống ở ghế tàu. Khoảng trống trong bữa mì Quảng ba bát. Khoảng trống lúc Khang hỏi "bố mà ở đây." Bao nhiêu khoảng trống mình đã sống qua mà không biết chúng là khoảng trống, vì mình tưởng đó chỉ là hình dạng bình thường của gia đình mình.
Mai tắt đèn bàn, phòng tối. Nằm xuống, kéo chăn, nhắm mắt. Nghe tiếng mẹ tắt vòi nước, tiếng dép lê trên sàn, tiếng cửa phòng mẹ khép lại, nhẹ.
Ba mẹ con trong căn hộ tầng mười hai. Ghế bố ở bàn ăn vẫn kéo ra. Album ảnh trên kệ, trang 17, ba người cười trước biển, bên phải trống.