Chương 60: Bạn thân của cha
Quán cà phê nhỏ cuối phố Trần Nhật Duật, gần bờ sông, nắng chiều xiên qua cửa kính, rọi vào bàn gỗ, vào cốc cà phê đen đá, vào tay Nam đặt trên bàn, ngón tay gõ nhẹ, kiểu người đang chờ mà không thích chờ.
Minh Anh sắp xếp buổi gặp này. Chị gọi tối hôm qua, giọng bình tĩnh, kể về ông Thành, về hai lần gặp ở phở Bát Đàn, về năm 2019, về đêm ở bệnh viện Đức Giang. Kể xong, chị hỏi: "Em muốn gặp ông ấy không?" Nam nói "ừ" trước khi kịp nghĩ, vì từ khi biết chuyện cha, cậu đã muốn gặp một người biết cha từ trước, biết cha không phải qua giấy khai sinh và nhật ký, mà biết cha là ai, sống thế nào, nghĩ gì.
Mình muốn gặp ai đó biết cha. Không phải biết cha qua lời mẹ, qua lời chị, qua di chúc. Biết cha kiểu bạn bè. Kiểu hai người đàn ông ngồi uống rượu nói thật với nhau, thứ thật mà vợ con không bao giờ nghe.
Ông Thành đến, đúng giờ, dáng gầy, lưng hơi cong, áo khoác sẫm, kiểu người Nam hình dung khi nghe chị kể. Ông nhìn Nam, mắt dừng lâu, và Nam thấy mắt ông chớp một cái, nhanh, kiểu người vừa thấy ai quen mà không ngờ.
– Giống anh Phúc quá.
Nam ngồi im. Câu đó không mới, mẹ nói, chị nói, bà Nguyệt ngoài ngõ cũng nói. Nhưng nghe từ bạn thân cha, từ người đã nhìn cha ba mươi mấy năm, câu đó nặng hơn.
– Cháu giống cha ở đâu?
Ông Thành ngồi xuống, gọi trà nóng, nhìn Nam.
– Cái cách cháu ngồi. Lưng thẳng, vai mở, tay đặt trên bàn. Anh Phúc ngồi y vậy. Và cái nhìn. Nhìn thẳng, không tránh, kiểu nhìn người mà biết mình đang đánh giá họ. Anh Phúc cũng nhìn vậy, nhưng anh ấy mềm hơn cháu.
Mềm hơn. Cha mềm hơn mình. Cha biết tránh, biết cười, biết nói đúng lúc đúng câu. Mình thì không. Mình nhìn thẳng, nói thẳng, đánh bạn khi bạn nói câu sai. Mình cứng vì mình chưa phải giấu gì. Hay vì mình sợ mềm thì sẽ giống cha, và giống cha thì sẽ hèn.
– Chú ơi, cha cháu là người thế nào?
Ông Thành uống một ngụm trà, đặt cốc xuống, hai tay ôm cốc, nhìn ra cửa sổ, nhìn sông Hồng phía xa, nước đục, chiều tháng mười một.
– Anh Phúc là người hay lo. Lo nhiều. Lo đủ thứ. Lo vợ biết, lo Trang buồn, lo con bị ảnh hưởng, lo hàng xóm nói, lo đồng nghiệp phát hiện. Anh ấy sống mà lúc nào cũng đang tính, đang cân, đang sắp xếp để tất cả các mảnh ghép không đổ. Như người chơi trò xếp hình mà không bao giờ hết quân.
Nam nghe, tay cầm cốc cà phê, chưa uống.
– Nhưng cha cháu không phải người lạnh. Nhiều người nghĩ đàn ông có hai vợ thì phải lạnh lùng, phải tính toán, phải biết giấu cảm xúc. Anh Phúc không vậy. Anh ấy cảm xúc lắm, chỉ là anh ấy giấu giỏi. Giấu vì sợ, không phải vì không có.
Giấu vì sợ. Giống mình. Mình giấu buồn, giấu sợ, giấu nhớ cha, giấu bằng cách giận, bằng cách đánh bạn, bằng cách nói "bố không phải bố em nữa." Cha giấu bằng cách cười, bằng cách đi "công tác," bằng cách mang quà về cho mẹ mỗi lần đi xa mà không đi xa. Hai kiểu giấu khác nhau, nhưng đều là sợ. Sợ người khác thấy mình yếu.
– Anh Phúc luôn sợ mất. Sợ mất vợ, sợ mất Trang, sợ mất các con. Nỗi sợ đó làm anh ấy đứng yên. Không tiến không lùi, chỉ đứng yên một chỗ, giữ tất cả, trong khi mọi thứ xung quanh thay đổi, mọi người lớn lên, mọi người chờ, mọi người mệt.
Nam đặt cốc xuống.
– Sợ mất người khác. Vậy cha cháu có nghĩ đến những người đang mất ông ấy không?
Ông Thành nhìn Nam lâu. Rồi gật, chậm.
– Đúng. Anh Phúc ích kỷ. Ông ấy không phủ nhận điều đó. Nhật ký có viết, nhiều lần: "Tao ích kỷ. Tao biết tao ích kỷ." Nhưng biết mà không sửa được. Vì sửa là phải chọn, mà chọn là mất, mà mất thì sợ.
Biết mà không sửa. Kiểu cha. Kiểu mình. Mình biết đánh bạn là sai, vẫn đánh. Biết nói "bố không phải bố em" là câu đau nhất, vẫn nói. Biết mà vẫn làm, vì lúc đó không kiểm soát được, hay vì lúc đó muốn làm, và cái muốn mạnh hơn cái biết.
Nắng chiều dịch trên bàn, ánh sáng vàng trượt qua cốc trà ông Thành, qua cốc cà phê Nam, qua mặt bàn gỗ có vết xước cũ. Quán vắng, chỉ hai người ở góc trong, tiếng nhạc nhẹ từ loa, tiếng xe ngoài đường.
– Chú ơi, cha cháu có hay nói về cháu không?
Ông Thành cười nhẹ, kiểu cười mệt nhưng thật.
– Nhiều. Anh Phúc nói về cháu nhiều nhất. Nói "thằng Nam cứng đầu," nói "thằng Nam nói thẳng quá," nói "thằng Nam giống tao hồi trẻ, cái gì cũng muốn rõ ràng." Rồi nói: "Nhưng nó mạnh hơn tao. Nó dám đối mặt. Tao thì không."
Cha nói mình mạnh hơn cha. Mạnh vì dám đối mặt. Nhưng cha ơi, mình đối mặt vì mình không có lựa chọn. Cha chết rồi, sự thật dồn lên, mình buộc phải nhìn, buộc phải biết, buộc phải xử lý. Không phải mình dũng cảm, mà mình không có đường tránh. Cha có đường tránh, hai mươi tám năm đường tránh, nên cha tránh. Mình không có, nên mình đối mặt. Đó không phải dũng cảm. Đó là bất đắc dĩ.
– Anh ấy cũng nói: "Tao sợ nhất ngày thằng Nam biết. Vì nó sẽ không tha thứ." Anh ấy nói câu đó nhiều lần, mỗi lần uống rượu, mỗi lần nhắc đến cháu, mỗi lần nghe cháu gọi điện hỏi "bố đi công tác hả."
Nam nhìn ông Thành. Mắt cậu khô, không ướt, nhưng mệt, kiểu mắt người đã giận quá lâu mà giận không đi đến đâu.
– Cha cháu nói đúng. Cháu không tha thứ.
Im lặng. Dài. Ông Thành không nói, chỉ nhìn Nam, mắt ông buồn nhưng không ngạc nhiên.
– Nhưng cháu cũng không giận nổi nữa.
Không tha thứ. Nhưng không giận nổi nữa. Hai thứ đó tồn tại cùng lúc, mâu thuẫn mà đúng. Mình không tha thứ vì cha đã chọn nói dối suốt hai mươi tám năm, đã cho mẹ một nửa sự thật và nghĩ đó là đủ. Nhưng mình cũng không giận nổi vì cha cũng đau, cũng sợ, cũng muốn nói mà không nói được, cũng viết trong nhật ký "đừng giống cha" mà biết con sẽ giống.
Ông Thành gật, nhẹ.
– Cha cháu không hoàn toàn xấu.
– Cháu biết.
– Nhưng ông ấy cũng không đủ tốt.
Nam nhìn ông Thành, rồi nói, giọng bình tĩnh, không giận, không buồn, chỉ mệt:
– Đó là con người.
Ông Thành gật lần nữa, mắt ông sáng hơn một chút, kiểu mắt người vừa nghe câu mình muốn nghe.
– Đúng. Đó là con người. Không phải anh hùng, không phải tội phạm. Chỉ là người đàn ông sợ mất, sợ đau, sợ nhìn vào mắt con mà nói "bố đã dối con." Và vì sợ, nên ông ấy im. Và vì im quá lâu, nên mọi thứ vỡ khi ông ấy không còn ở đây để dọn.
Nam uống cà phê, đá đã tan gần hết, vị loãng, đắng nhạt. Cậu nhìn ra cửa sổ, nhìn phố chiều, nhìn ánh nắng cuối cùng trước khi trời tối, mùi sông từ xa bay vào, mùi bùn, mùi nước, mùi tháng mười một.
– Cháu cảm ơn chú. Cháu cần nghe những thứ này.
– Tôi cũng cần nói. Giữ mấy chục năm rồi, mệt.
Hai người đứng dậy. Ông Thành bắt tay Nam, tay ông gầy, chai, ấm. Nam bắt lại, nắm chặt hơn bình thường, kiểu nắm tay người mà mình biết sẽ không gặp lại nhiều, nhưng cần gặp đúng một lần.
Ra đường, gió tháng mười một thổi từ phía sông, lạnh, mùi nước, mùi chiều đông. Ông Thành đi về phía bến xe buýt, Nam đi ngược lại, về phía nhà Hoàn Kiếm.
Về đến nhà, trời đã tối. Đèn bếp vàng, mẹ đang nấu cơm, mùi cơm sôi, mùi canh rau cải. Chị ngồi trên ghế sofa đọc gì đó trên điện thoại, chân co lên, kiểu chị ngồi từ hồi bé. Nam đi ngang, chị ngẩng lên, nhìn, không hỏi, chỉ nhìn, kiểu nhìn của người biết em vừa đi đâu và hiểu không cần hỏi.
Nam lên tầng hai, đi ngang phòng cha. Cửa khép, không khóa, tay nắm cửa bằng đồng mà cha hay cầm. Cậu dừng lại, đứng trước cửa, rồi đẩy nhẹ.
Phòng tối, mùi gỗ cũ, mùi sách, mùi cha đã nhạt dần theo tháng. Bàn thờ nhỏ ở góc phòng, ảnh cha trong khung gỗ, hoa cúc vàng cắm trong lọ sứ, nến đã tắt.
Nam đứng trước ảnh thờ, nhìn cha. Cha trong ảnh cười, nụ cười quen, kiểu cười mà Nam nhìn hai mươi lăm năm, kiểu cười ấm mà giờ cậu biết là cười giấu, cười che, cười để không ai hỏi.
Ông không phải anh hùng. Không phải kẻ ác. Chỉ là người đàn ông không đủ dũng cảm. Mình ghét điều đó. Nhưng mình cũng hiểu. Vì mình cũng sợ. Sợ mềm, sợ yếu, sợ giống ông. Và sợ giống ông cũng là một kiểu giống ông.
Cha dặn: "Đừng giống cha." Mình sẽ cố. Nhưng mình biết: không phải lúc nào cũng làm được. Vì cha cũng đã cố, và cha cũng đã không làm được.
Cậu nhìn ảnh thêm một lúc. Nhìn lâu hơn mọi lần, không phải vì cần mà vì muốn. Lần đầu tiên từ khi cha mất, cậu nhìn ảnh mà không tức, không buồn, chỉ nhìn, kiểu người đang nhìn một người mà mình biết đã hết, không thể thêm, không thể bớt, chỉ có thể nhìn rồi sống tiếp.
Rồi quay đi, đóng cửa phòng, nhẹ, không gây tiếng. Xuống bếp, ngồi vào bàn ăn, ba bát, ba đôi đũa, mẹ múc canh, chị xới cơm. Bữa cơm tối bình thường, ba người, không bốn, nhưng đủ.