Mai bị soi mói
Tiếng trống trường bảy giờ. Mai đứng ở cổng trường tiểu học Đoàn Thị Điểm, quận Long Biên, tay ôm cặp giáo án, áo sơ mi trắng, chân váy xanh đen, tóc buộc gọn. Phụ huynh dắt con qua cổng, xe đạp, xe máy, tiếng trẻ con gọi nhau, tiếng giày dép chạy trên sân gạch, mùi sữa đậu nành từ xe hàng rong trước cổng, ấm, ngọt, mùi mỗi sáng.
Hai phụ huynh đứng gần gốc bàng, nói chuyện. Một người mặc áo hoa, tay cầm cặp lồng cơm trưa cho con, một người đội mũ lưỡi trai, tay bế đứa nhỏ trên hông. Mai đi ngang, bước chậm vì đang xem tin nhắn trong nhóm lớp, và nghe tiếng mình.
Không nghe rõ. Nhưng nghe đủ. "... cô Mai..." rồi giọng thấp hơn, rồi im khi Mai ngước lên. Hai người phụ huynh nhìn cô, nhanh, rồi quay đi, tiếp tục nói chuyện về thứ khác, giọng to hơn, cố ý, kiểu người đang che đi cái vừa nói bằng cái đang nói.
Mình không nghe nhầm. Họ nói về mình. Về gia đình mình. Về cha. Về mẹ. Về chuyện mà mình không biết kể từ đâu, kể bao nhiêu, kể cho ai, nhưng ai cũng đã biết rồi.
Cô đi nhanh hơn, qua sân, lên cầu thang, vào lớp 3A. Lớp trống, bàn ghế xếp ngay ngắn, hai mươi lăm bộ, hai mươi lăm cái bàn nhỏ, hai mươi lăm cái ghế nhựa xanh, bảng trắng sạch. Cô đặt cặp giáo án lên bàn giáo viên, mở sổ, ghi ngày, ghi bài, ghi tên học sinh vắng, kiểu mỗi sáng, kiểu quen.
Mình ổn. Mình vào lớp, mình dạy, mình cười với bọn trẻ, mình ổn. Ngoài kia nói gì kệ ngoài kia. Trong lớp mình không ai biết, không ai hỏi, bọn trẻ chỉ biết cô Mai dạy toán và kể chuyện hay.
Tiết một qua bình thường. Toán, phép nhân, bọn trẻ ngoan, có đứa giơ tay, có đứa ngáp, có đứa vẽ bậy trong vở. Mai đi giữa hai hàng bàn, cúi xuống chỉ bài, tay đặt nhẹ lên vai học sinh, giọng nhẹ, đều, kiểu giọng cô dùng với trẻ con, kiểu giọng không có chỗ cho đau.
Giữa tiết hai, hiệu trưởng gõ cửa lớp.
– Cô Mai, ra ngoài một chút.
Mai giao bài cho lớp, bước ra hành lang. Cô Hằng, hiệu trưởng, đứng cạnh cửa sổ, tay cầm tờ đơn, mặt khó.
– Có phụ huynh xin chuyển lớp cho con.
Mai nhìn tờ đơn. Tên phụ huynh, tên học sinh. Bé Tuấn, bàn thứ ba, hay giơ tay, hay cười.
– Lý do?
Cô Hằng im một lúc. Rồi nói, giọng thấp, kiểu người không muốn nói nhưng phải nói:
– Phụ huynh nói "cô giáo không phù hợp." Không nói lý do cụ thể. Nhưng em hiểu.
"Không phù hợp." Mình dạy bé Tuấn hai năm rồi. Bé từ trung bình lên khá. Bé hay vẽ con mèo tặng cô. Bé gọi "cô Mai ơi" bằng giọng ré lên mỗi khi cô đi ngang. Và bây giờ mẹ bé muốn chuyển lớp vì cô giáo "không phù hợp." Vì cô giáo có cha hai gia đình. Vì cô giáo là con của người đàn bà mà người ta gọi là "bồ nhí."
– Em xử lý được.
Cô Hằng đặt tay nhẹ lên vai Mai.
– Tôi sẽ nói chuyện với phụ huynh. Lý do không chính đáng, tôi không duyệt. Nhưng em cần biết.
Mai gật. Cổ họng nghẹn nhưng mặt bình thường, kiểu bình thường cô đã tập suốt mấy tháng nay, kiểu bình thường của người đau nhưng không để đau lên mặt, vì nếu lên mặt thì bọn trẻ trong kia sẽ thấy, và cô không muốn bọn trẻ thấy.
Cô Hằng nhìn Mai thêm một lúc, rồi bóp nhẹ vai cô, quay đi. Tiếng giày hiệu trưởng gõ trên hành lang, đều, nhỏ dần, rồi mất.
Mai quay vào lớp, đứng trước bảng, nhìn hai mươi lăm khuôn mặt nhỏ đang ngước lên, đợi cô. Cô hít một hơi, nhẹ, kiểu không ai nhận ra, rồi cười.
Cả buổi sáng cô dạy bình thường. Giọng đều, mắt sáng, cười đúng lúc, khen đúng chỗ. Không ai trong lớp nhận ra cô vừa nghe phụ huynh muốn chuyển con đi vì cô "không phù hợp." Bọn trẻ tám tuổi không biết gì ngoài bài toán trên bảng, ngoài câu chuyện cô kể giờ sinh hoạt, ngoài cái cách cô Mai đặt tay lên vai bảo "giỏi lắm" mỗi khi chúng làm đúng.
Bọn trẻ không biết. Và mình muốn chúng không biết. Lớp học này là chỗ duy nhất mình không phải là "con gái của ông ấy." Ở đây mình là cô Mai, cô dạy toán, cô kể chuyện, cô cười hiền. Ở đây mình chỉ là cô giáo.
Bữa trưa, phòng giáo viên. Mai ngồi ăn cơm hộp, cơm trắng, trứng chiên, rau luộc, mùi dầu ăn, mùi cơm nguội. Cô Linh, đồng nghiệp dạy lớp bên, kéo ghế ngồi cạnh. Linh hơn Mai vài tuổi, dáng nhỏ, giọng Thanh Hóa, hay cười, kiểu người hay cười nhưng mắt quan sát kỹ.
– Mai ơi.
– Dạ.
– Em ổn không?
Mai nhìn Linh. Cô bạn không hỏi "chuyện gì," không hỏi "nghe nói," không vòng vo. Chỉ hỏi "ổn không." Đơn giản, thẳng, kiểu người đã biết rồi và không cần Mai giải thích.
– Em ổn chị ạ.
Linh nhìn Mai. Mắt cô nheo nhẹ, kiểu không tin nhưng không ép.
– Em không cần phải ổn nếu không ổn.
Mai dừng nhai. Đặt đũa xuống. Nhìn hộp cơm, nhìn miếng trứng chiên vàng, nhìn hạt cơm trắng.
Câu đó. Quá giản dị. Quá đúng. "Em không cần phải ổn." Bao nhiêu ngày mình bắt bản thân ổn, bắt bản thân cười, bắt bản thân dạy, bắt bản thân ăn, bắt bản thân ngủ, bắt bản thân nói "dạ em ổn" mỗi khi ai hỏi. Và bây giờ có người nói "em không cần phải ổn" và mình không biết nói gì.
– Cảm ơn chị, Mai nói, nhẹ, giọng hơi nghẹn.
Linh không hỏi thêm. Cô ngồi cạnh, ăn cơm, đôi lúc nhìn Mai, đôi lúc nhìn ra cửa sổ phòng giáo viên nơi cây phượng già đã rụng hết hoa, chỉ còn lá xanh đậm che nắng trưa. Hai cô giáo ngồi ăn cơm, im lặng, cạnh nhau, kiểu người biết rằng đôi khi ngồi cạnh là đủ, không cần nói, không cần giải thích, chỉ cần ở đó.
Chiều, tiết cuối, sinh hoạt lớp. Bọn trẻ ngồi ngay ngắn, mắt nhìn cô Mai. Nắng chiều lọt qua cửa sổ, hắt vàng lên bàn ghế, lên tóc bọn trẻ, lên bàn tay cô đặt trên giáo án. Mai đứng trước bảng, kể chuyện cổ tích, "Sự tích cây nêu," bọn trẻ nghe, có đứa há mồm, có đứa hỏi "rồi sao nữa cô," có đứa ngủ gật rồi giật mình tỉnh. Bình thường. Mọi thứ bình thường, và Mai muốn khoảnh khắc bình thường này kéo dài thêm, lâu hơn nữa, vì khi lớp tan thì cô lại ra ngoài, lại đi ngang những ánh mắt, lại nghe những tiếng thì thầm.
Cuối giờ, bé Hà, bàn đầu, ngước lên:
– Cô Mai, cô có buồn không?
Mai nhìn bé Hà. Mắt tròn, tóc buộc hai bên, áo đồng phục trắng dính vết mực xanh ở tay áo. Tám tuổi. Tám tuổi không biết gì về cha hai gia đình, về mẹ bị gọi là bồ nhí, về phụ huynh xin chuyển lớp. Tám tuổi chỉ biết nhìn vào mặt cô giáo và hỏi "cô có buồn không" vì bé nhìn thấy cô buồn.
– Cô hơi buồn, Mai nói, cúi xuống ngang tầm mắt bé. Nhưng không sao. Buồn thì qua được.
Bé Hà gật, nghiêm túc, kiểu trẻ con nghiêm túc khi nghe người lớn nói thật. Rồi bé cười, xòe tay đưa cho cô một tờ giấy gập nhỏ: bức vẽ cô Mai bằng bút sáp, tóc dài, váy xanh, miệng cười to, bên cạnh là dòng chữ nguệch ngoạc: "Cô Mai đẹp."
Mai cầm bức vẽ. Giấy mỏng, bút sáp ấn mạnh, đường nét vụng về nhưng chắc chắn, kiểu trẻ con vẽ, không sợ sai. Cô cười. Nụ cười thật, lần đầu trong ngày, nụ cười đến mắt, đến mí mắt hơi nhíu, đến nốt ruồi nhỏ ở khóe mắt trái nhấp nhô theo gò má.
Tan trường. Bọn trẻ chạy ra sân, phụ huynh đón, xe máy nổ, tiếng gọi, tiếng cười, tiếng khóc, ồn ào mười phút rồi vắng. Sân trường im lại, chỉ còn tiếng quạt trần trong phòng bảo vệ, tiếng lá bàng rơi trên sân gạch.
Mai ngồi lại trong lớp, một mình. Hai mươi lăm chiếc bàn trống, ghế đẩy vào, bảng trắng có vệt phấn mờ. Ánh nắng chiều chiếu xiên qua cửa sổ, vàng, ấm, in hình khung cửa trên sàn gạch, bóng cây bàng ngoài sân lay nhẹ.
Cô nhìn bức vẽ của bé Hà trên bàn. Cô Mai bút sáp, tóc dài, váy xanh, miệng cười to.
Ngày mai bọn trẻ lại đến. Hai mươi lăm đứa. Chúng không cần biết cô giáo đang nghĩ gì, đang đau gì, đang bị ai soi mói. Chúng chỉ cần cô Mai cười, cô Mai kể chuyện, cô Mai khen "giỏi lắm." Mình cần ổn cho chúng. Đó là lý do để ổn.
"Buồn thì qua được." Mình nói với bé Hà, tám tuổi, và bây giờ mình tự nói với mình, hai mươi sáu tuổi. Cùng một câu. Cùng một hy vọng. Và mình phải tin câu đó, vì nếu không tin thì sáng mai mình không đứng trước lớp được.
Mai đứng dậy. Cầm cặp giáo án, cầm bức vẽ, kẹp vào sổ. Tắt đèn lớp, đóng cửa, đi dọc hành lang vắng, xuống cầu thang, ra sân.
Nắng chiều vàng trên sân gạch trống. Cây bàng gốc lớn, lá rụng vàng lác đác. Tiếng xe máy chạy ngoài đường, xa, nhỏ. Mai đi qua sân, ra cổng, về nhà.
Trong cặp, bức vẽ của bé Hà kẹp giữa trang giáo án ngày mai, cô Mai bút sáp cười to, và cô Mai thật đang đi bộ về nhà trong nắng, lặng lẽ, mệt, nhưng vẫn đi.
Về đến chung cư Long Biên, Mai dừng ở cầu thang tầng mười hai, tay vịn lan can, nhìn xuống sân. Bọn trẻ chơi đá bóng dưới sân, tiếng la hét, tiếng bóng nảy trên gạch, tiếng xe máy đi qua, nắng chiều nghiêng qua mái tôn nhà để xe, vàng, mỏng. Cô đứng thêm một lúc rồi mở cửa vào nhà.
Mẹ ngồi ở bàn ăn, một mình, trước mặt là mấy hộp giấy và bịch ni-lông đen. Trang đang dọn đồ. Không phải dọn nhà, mà dọn thứ mang về từ công ty. Lọ cắm bút, cuốn lịch để bàn, tấm ảnh nhỏ đặt trong khung gỗ, mấy cuốn sổ gáy lò xo.
Mai nhìn mẹ. Mẹ nhìn lên, mỉm cười, kiểu cười nhẹ, kiểu cười quen, kiểu cười của người đã khóc xong rồi lau mặt trước khi con về.
– Con ăn gì chưa?
– Dạ, con ăn ở trường rồi.
Mai đặt cặp giáo án xuống ghế, ngồi cạnh mẹ. Tay cô cầm tấm ảnh trong khung gỗ. Ảnh mẹ chụp ở công ty, mặc áo sơ mi xanh nhạt, đứng cạnh bàn làm việc, tay cầm tập hồ sơ, cười. Mười hai năm. Mẹ làm ở đó mười hai năm, và bây giờ mười hai năm nằm trong mấy hộp giấy vừa bê về.
Mẹ mất việc. Mình bị soi mói. Khang ít nói hơn mỗi ngày. Ba người, ba vết thương, cùng một nguyên nhân, cùng một người đàn ông đã nằm dưới đất rồi mà vẫn để lại hậu quả trên mặt đất.
– Mẹ ơi.
– Gì con?
– Hôm nay có phụ huynh xin chuyển lớp cho con. Vì cô giáo "không phù hợp."
Trang đặt cuốn lịch xuống bàn. Bà nhìn Mai, mắt không ngạc nhiên, chỉ mệt, kiểu mệt đã quen, kiểu mệt của người biết rằng chuyện này sẽ đến, chỉ không biết đến lúc nào.
– Hiệu trưởng nói gì?
– Cô ấy bảo vệ con. Không duyệt.
Trang gật. Bà kéo ghế, ngồi lại gần hơn, tay bà nắm tay Mai. Tay nhỏ, gầy, chai ở đốt ngón trỏ vì cầm bút mười hai năm ghi sổ, ấm.
– Mai à.
– Dạ.
– Mẹ xin lỗi.
Mai nhìn mẹ. Mắt mẹ đỏ nhưng không khóc. Bà không nói "xin lỗi vì chuyện của cha con." Không nói "xin lỗi vì mẹ đã tin ông ấy." Chỉ nói "mẹ xin lỗi," hai chữ, và hai chữ đó nặng hơn bất kỳ câu giải thích nào.
– Mẹ không có lỗi, Mai nói, giọng nhẹ nhưng rõ, kiểu giọng cô dùng khi muốn mẹ tin. Không ai trong ba mẹ con mình có lỗi.
Trang không nói thêm. Bà bóp nhẹ tay con, rồi đứng dậy, đi vào bếp, mở tủ lạnh, lấy rau, lấy thịt, bắt đầu nấu cơm tối. Tiếng dao chặt trên thớt, đều, chậm, quen. Mùi hành phi bắt đầu lan trong căn bếp nhỏ, vàng, ấm, mùi mỗi tối.
Mai ngồi ở bàn, một mình, nhìn mấy hộp giấy mẹ mang về. Mười hai năm trong mấy cái hộp. Cô nhìn xuống tay mình, tay vẫn cầm bức vẽ bé Hà, cô Mai bút sáp cười to.
Buồn thì qua được. Mình nói với bé Hà, tám tuổi. Và bây giờ mình tự nói với mình, hai mươi sáu tuổi. Cùng một câu. Phải tin câu đó, vì nếu không tin thì sáng mai mình không đứng trước lớp được. Và mẹ sáng mai cũng phải tin, vì nếu không tin thì mẹ không nấu được bữa cơm tối này.
Tiếng dao vẫn gõ trên thớt. Mùi hành phi vẫn vàng trong bếp. Mai đứng dậy, đi vào bếp, đứng cạnh mẹ, lấy rổ rau muống bắt đầu nhặt.