Ngôi Nhà Có Hai Bàn Ăn
Chương 61: Toàn Bộ Câu Chuyện
Chương 61

Toàn Bộ Câu Chuyện

Nồi canh bí đang sôi trên bếp, tiếng nước lục bục nhẹ, hơi nóng bốc lên mờ kính cửa sổ bếp, mùi bí ngọt trộn mùi tôm khô quen thuộc. Trang đứng cạnh bếp, tay cầm muôi, mắt nhìn nồi canh nhưng đầu đang nghĩ đến hóa đơn điện tháng này, đến cuộc gọi của chị Hương chiều nay hỏi thăm, đến chồng quần áo chưa gấp trên sofa.

Tám tháng rồi. Tám tháng kể từ ngày ông mất, bà vẫn nấu cơm mỗi tối, vẫn đứng bếp đúng năm giờ, vẫn bật quạt hút mùi trước khi chiên cá. Thói quen không thay đổi, chỉ có số bát trên bàn thay đổi. Hai bát. Hai đôi đũa. Đôi khi ba, nếu Khang về ăn.

Tiếng khóa cửa lách cách. Mai bước vào, cặp sách trên vai, tóc hơi rối vì gió, má đỏ vì lạnh. Tháng mười một, Hà Nội bắt đầu se, gió từ sông thổi vào hành lang chung cư, lạnh kiểu không buốt nhưng đủ khiến người ta rút cổ vào áo khoác.

– Mẹ nấu gì đấy?

– Canh bí. Cá rán.

– Khang về không?

– Nó nhắn ở thư viện.

Mai đặt cặp xuống ghế, vào phòng thay đồ, rồi ra ngồi trên sofa. Bình thường thì cô sẽ vào bếp phụ mẹ, gấp quần áo, hoặc soạn giáo án. Nhưng hôm nay cô ngồi im, lưng tựa nệm, hai tay đặt trên đùi, nhìn mẹ nấu ăn qua ô cửa bếp.

Trang nhận ra. Bà nhận ra kiểu ngồi đó, kiểu im lặng đó, kiểu nhìn đó. Mai muốn nói gì đó mà chưa nói. Bà biết vì bà đã nhìn con gái hai mươi sáu năm, biết khi nào con vui, khi nào con buồn, khi nào con đang giữ thứ gì nặng trong ngực mà không biết cách đặt xuống.

Bà tắt bếp, lau tay, bước ra phòng khách, ngồi xuống cạnh con.

– Có chuyện gì không?

Mai nhìn mẹ. Mắt cô không đỏ, không ướt, nhưng có thứ gì đó sâu hơn nước mắt, kiểu mắt người đang cân nhắc giữa nói và không nói, giữa bảo vệ mẹ và tôn trọng mẹ.

– Mẹ ơi.

– Ừ.

– Con muốn kể cho mẹ một chuyện. Chuyện về cha.

Trang nhìn con, gật nhẹ, kiểu gật của người đã quen nghe tin xấu, đã đi qua tang lễ, di chúc, họp luật sư, mất việc, hai gia đình ngồi cùng bàn, và nghĩ rằng không còn gì có thể khiến mình đau hơn nữa.

Chuyện gì nữa. Mình tưởng đã hết rồi. Đã biết hết rồi. Ông ấy lấy vợ, có con, sống hai cuộc đời, nói dối hai mươi sáu năm, để lại di chúc chia đều, để lại hộp gỗ khắc tên hai cô con gái, để lại nhật ký viết bằng bút bi xanh trong đêm. Còn gì nữa.

Mai hít thở, chậm, rồi nói, giọng nhẹ nhưng rõ từng chữ:

– Cha biết chuyện con mình mất năm 1998. Cha đã biết. Từ đầu.

Trang không nhúc nhích.

Câu nói đó đi vào tai bà, vào đầu bà, nhưng không đi đến đâu, chỉ dừng ở một chỗ mà bà đã đóng kín từ rất lâu, từ hai mươi sáu năm trước, từ cái đêm tháng mười hai ở bệnh viện Đức Giang khi bà nằm trên giường trắng, tay ôm bụng trống, nhìn trần nhà, và quyết định rằng chuyện này sẽ không bao giờ được nhắc lại.

Đứa bé.

Hai chữ đó nổi lên trong đầu bà như bọt nước từ đáy sông, chậm, nặng, mờ.

Đứa bé mà mình mất. Tháng mười hai. Tám tuần. Mình không kể ai. Không kể ông ấy. Không kể Mai. Không kể mẹ. Mình nằm trong bệnh viện một đêm, sáng hôm sau về nhà, nấu cơm, đi làm, sống tiếp. Hai mươi sáu năm mình giữ chuyện đó một mình, nghĩ rằng mình mất con mà không ai biết, không ai ở đó, không ai đau cùng.

– Mẹ?

Trang chớp mắt. Nhìn Mai. Con gái đang nhìn bà với đôi mắt lo lắng, kiểu mắt Mai mỗi khi sợ mẹ khóc.

– Con nói tiếp đi.

Mai nói, chậm, cẩn thận, kiểu người đang đặt từng viên gạch xuống đất mà sợ rung:

– Nhật ký cha viết. Cha biết mẹ mang thai, biết mẹ mất con. Nhật ký ghi khác vì cha sợ ai đọc, nhưng sự thật là cha đã ở bệnh viện Đức Giang đêm hôm đó. Cha cầm tay mẹ suốt đêm.

Trang ngồi im. Hai tay bà đặt trên đùi, ngón tay không nắm, không run, chỉ đặt im, kiểu tay người đang chịu đựng mà không biểu lộ.

Ông ấy ở bệnh viện. Ông ấy cầm tay mình. Đêm đó.

Mình nhớ đêm đó. Mình nhớ bàn tay ai đó nắm tay mình khi mình mê man, mình tưởng là y tá, tưởng là bác sĩ, tưởng là giấc mơ. Trời lạnh, mùi thuốc sát trùng, ánh đèn trắng lạnh trên trần, tiếng máy nhịp tim bíp bíp đều, và một bàn tay ấm, ấm hơn mọi thứ trong phòng, nắm tay mình suốt đêm.

Ông ấy. Không phải y tá. Không phải giấc mơ. Là ông ấy.

Mai nói tiếp, giọng nhẹ hơn:

– Ông Thành kể cho con. Bạn thân của cha. Sau đêm đó, cha nói với ông Thành: "Rời Trang lúc này như đá cô ấy xuống khi cô ấy đang dưới đáy. Không nỡ." Đó là lý do cha không rời mẹ.

Trang không nói gì. Bà nhìn thẳng, nhìn qua cửa kính ban công, nhìn đèn đường vàng phía xa, nhìn bóng chung cư đối diện, nhìn trời tháng mười một tối sớm, mây xám thấp, gió thổi cây bàng dưới sân nghiêng nhẹ.

Không rời mình vì thương. Không rời mình vì tội lỗi. Không rời mình vì sợ mình sụp đổ. Ba lý do, cái nào đúng? Hay cả ba đều đúng, hay không cái nào đủ đúng?

– Mẹ ơi.

Trang quay lại nhìn Mai.

– Ông ấy biết. Mà không nói.

Giọng bà bình tĩnh, nhưng bình tĩnh kiểu tường chắn, kiểu người đã xây bức tường quanh nỗi đau đó từ lâu, và bây giờ có ai đó đang gõ vào tường, nhẹ, nhưng nghe rõ, và bà không biết nên mở hay nên giữ.

Mai gật:

– Cha không biết cách nói. Cha sợ.

– Sợ gì?

– Sợ mẹ biết cha biết mà lại thêm đau. Sợ nhắc đến đứa bé thì mẹ sẽ sụp. Sợ mẹ hỏi tại sao cha biết mà không ở bên mình nhiều hơn.

Tại sao cha biết mà không ở bên mình nhiều hơn. Câu đó. Câu mà cha sợ. Vì câu trả lời sẽ là: vì cha còn gia đình khác. Vì cha cầm tay mình đêm đó xong, sáng hôm sau cha phải về nhà Hoàn Kiếm, ăn cơm với vợ, đưa Minh Anh đi học, sống cuộc đời kia. Cha biết mình mất con, cha đau, cha ở đó đêm đó, nhưng sáng hôm sau cha vẫn đi. Vì cha phải đi. Vì cha không phải của mình.

Trang đứng dậy, chậm, bước ra ban công. Gió lạnh thổi vào mặt, vào cổ, vào tay. Bà đứng tựa lan can, nhìn xuống sân chung cư, nhìn ánh đèn vàng chiếu hàng cây bàng trụi lá, nhìn xe máy ai đó đang đỗ dưới mái hiên, nhìn thành phố đêm tháng mười một, rộng, xa, lạnh.

Mai bước ra đứng cạnh, không nói, không chạm, chỉ đứng, vai gần vai, kiểu con gái đứng cạnh mẹ khi biết mẹ cần người ở bên nhưng không cần ai nói.

Đứa bé ấy nếu còn sống thì bây giờ hai mươi lăm tuổi. Bằng tuổi Mai. Có thể đang đi làm, đang yêu ai đó, đang nấu cơm chiều, đang gọi điện cho mẹ hỏi tối nay ăn gì. Hai mươi lăm tuổi. Một đời người. Mình mất đứa bé đó trong đêm tháng mười hai, ở bệnh viện Đức Giang, tay nắm chặt thanh giường, mắt nhìn trần, và nghĩ rằng mình cô đơn nhất trên đời.

Nhưng ông ấy đã ở đó. Ông ấy biết. Ông ấy cầm tay mình. Ông ấy gánh điều đó một mình, hai mươi sáu năm, không nói. Không phải vì ông ấy tốt. Vì ông ấy không đủ dũng cảm để chia sẻ. Hay vì ông ấy thương mình quá nên không muốn mình biết ông ấy biết. Hay vì nói ra thì mọi thứ sẽ vỡ, và ông ấy sợ vỡ hơn sợ im.

Hai lý do. Mình nghĩ mãi không biết cái nào đúng hơn.

Gió thổi mạnh hơn, mùi bê tông, mùi sông Hồng phía xa, mùi lá khô bay trên sân. Chậu hoa cúc ở góc ban công vẫn ở đó, mẹ trồng vụ mới sau khi chậu cũ héo, cúc vàng nhỏ, vài bông đang nở, vài bông còn búp.

– Mẹ ơi, cha nhờ con kể cho mẹ. Trước khi mất, cha nhờ ông Thành, muốn mẹ biết rằng cha đã biết, đã ở đó đêm hôm đó. Cha nói mẹ có quyền biết.

Trang nhìn chậu cúc. Nhìn lâu. Nhìn những cánh hoa vàng run trong gió, nhỏ, mỏng, kiểu hoa chịu lạnh mà vẫn nở.

– Mẹ biết rồi.

Mai nhìn mẹ, mắt hơi mở rộng, không hiểu.

– Mẹ biết rồi, con. Không phải biết chuyện cha ở bệnh viện. Biết là... biết rồi. Biết hết rồi. Cha yêu mẹ. Cha cũng yêu người khác. Cha sợ. Cha giấu. Cha đau. Mẹ cũng đau. Không ai trong câu chuyện này không đau.

Mai đứng im, mắt ướt nhẹ, tay nắm lan can.

– Mẹ không giận cha à?

Trang cười, nhẹ, kiểu cười không có tiếng, chỉ có khóe miệng nhếch lên rồi hạ xuống.

– Giận thì mẹ giận từ lâu rồi. Nhưng giận mãi thì sống kiểu gì? Ông ấy đã mất. Giận một người đã mất thì giận vào đâu?

Mình đã giận. Giận lúc biết ông ấy có vợ. Giận lúc mất việc. Giận lúc đồng nghiệp xì xào. Giận lúc nằm một mình trên giường, bên phải trống, gối phẳng, và nhớ rằng ông ấy không bao giờ thuộc về mình hoàn toàn. Mình đã giận đủ rồi. Giận thêm thì không chết, nhưng mệt.

Trang nhìn ra thành phố, rồi nhìn Mai, rồi nhìn lại cúc vàng trên ban công. Gió nhẹ hơn, trời tối hơn, đèn chung cư đối diện sáng từng ô vuông, mỗi ô là một gia đình, mỗi gia đình có bí mật riêng, có nỗi đau riêng, có bàn ăn riêng.

– Con ơi.

– Dạ.

– Cảm ơn con đã kể cho mẹ.

Mai nhìn mẹ, mắt đỏ, nhưng không khóc, kiểu con gái học từ mẹ cách chịu đựng mà không rơi.

Trang đặt tay lên vai con, nhẹ, ấm, rồi bỏ xuống. Hai mẹ con đứng trên ban công tầng mười hai, nhìn thành phố đêm, nhìn gió thổi cúc vàng, nhìn trời tháng mười một sâu và tối.

Ông ấy biết. Ông ấy gánh điều đó một mình. Không phải vì ông ấy tốt. Vì ông ấy không đủ dũng cảm để chia sẻ. Hay vì ông ấy thương mình nên giấu. Hai lý do đó, mình nghĩ mãi không biết cái nào đúng hơn. Và có lẽ không cần biết. Vì dù lý do nào, ông ấy đã ở đó. Và bây giờ ông ấy không ở đây nữa. Chỉ còn mình, và con gái, và chậu hoa cúc, và gió tháng mười một.

– Vào ăn cơm đi con. Canh nguội rồi.

Mai gật, bước vào trước. Trang đứng thêm một lúc, nhìn chậu cúc, rồi quay vào, khép cửa ban công, bước về phía bếp, nơi canh bí đã nguội, cá rán đã lạnh, và hai cái bát đang chờ trên bàn.

Ch.61/81
1.999 từ