Ngôi Nhà Có Hai Bàn Ăn
Chương 70: Chỉ Còn Những Người Bị Tổn Thương
Chương 70

Chỉ Còn Những Người Bị Tổn Thương

Trang bắt đầu lau nhà từ sáu giờ sáng, khi ánh sáng tháng Giêng mới chỉ là vệt xám nhạt qua cửa kính ban công. Nước lau sàn mùi sả, cây lau vải cũ, kiểu lau mà bà đã làm mỗi ngày suốt ba tháng kể từ khi mất việc, vì tay quen cầm cái gì đó, và nếu không cầm thì tay sẽ run.

Bà lau bếp trước, rồi phòng khách, rồi hành lang ngắn nối phòng ngủ với nhà tắm. Sàn gạch men trắng, vết xi măng cũ ở góc, chỗ Khang đánh đổ sơn hồi lớp bảy. Bà lau qua vết sơn, không cố chùi, chỉ lau, kiểu đã quen vết đó đến mức nó thuộc về sàn nhà, thuộc về căn hộ, thuộc về mười bốn năm ở tầng mười hai chung cư Long Biên.

Đến phòng ăn, bà dừng lại.

Bàn ăn nhỏ, gỗ ghép công nghiệp, bốn ghế. Ba ghế quay vào bàn. Ghế thứ tư, ghế cha, kéo ra nửa chừng, kiểu kéo ra để ngồi mà chưa ngồi, kiểu bà vẫn để suốt mười tháng qua vì không biết nên đẩy vào hay kéo ra hẳn. Ghế nhựa xám, đệm mỏng màu be, chỗ lưng tựa hơi ố vàng vì mồ hôi, vì da thịt, vì hai mươi sáu năm một người đàn ông ngồi vào đó mỗi cuối tuần, ăn cơm, uống trà, cười, rồi đứng dậy ra về.

Mười tháng. Mười tháng kể từ ngày ông ấy mất. Mười tháng mình để ghế kéo ra nửa chừng, không đẩy vào vì đẩy vào là thừa nhận ông ấy không về nữa, không kéo ra hẳn vì kéo ra hẳn là mời một người đã chết ngồi xuống.

Bà đặt cây lau xuống sàn, ngồi vào ghế mình, ghế phía bên kia bàn, đối diện ghế cha. Nhìn lâu. Ghế trống, đệm be, vết ố. Buổi sáng mùa đông, ánh sáng nhạt, không gian nhỏ, mùi sả từ nước lau sàn, mùi cà phê Mai pha để trên bếp trước khi đi làm.

Mai đi làm từ bảy giờ, công ty thiết kế nội thất ở Cầu Giấy, lương đủ sống, xe buýt bốn mươi phút. Khang đi học từ sáu rưỡi, kỳ hai năm ba, đi sớm vì thư viện Bách Khoa mở cửa bảy giờ. Nhà còn mình bà, mình bà với bốn cái ghế, ba cái đẩy vào, một cái kéo ra.

Ông ấy ngồi đó mỗi thứ Bảy. Chiều thứ Bảy đến, sáng thứ Hai đi. Hai mươi sáu năm. Cơm chiều, trà tối, bún sáng. Ông ấy gắp cá cho mình, hỏi con học hành, sửa vòi nước, thay bóng đèn, rồi đi. Đi về nhà khác. Nhà thật.

Bà đứng dậy, đi vòng qua bàn, đứng trước ghế cha. Tay sờ lưng ghế, nhựa trơn, hơi lạnh. Ngón tay lướt trên vết ố, cảm giác vải đệm hơi thô, hơi sần, kiểu vải đã giặt nhiều lần mà vẫn giữ dấu vết của người ngồi.

Mình giữ cái ghế này mười tháng. Giữ vì sợ. Sợ nếu dời đi thì ông ấy biến mất hẳn, sợ nếu đẩy vào thì mình phải nhìn bàn ăn ba ghế và thừa nhận rằng gia đình này chưa bao giờ đủ bốn người, chưa bao giờ đủ theo cách mình tưởng.

Nhưng hôm nay mình muốn dời.

Bà cầm lưng ghế, nhấc lên. Nhẹ. Ghế nhựa nhẹ, không nặng hơn hai ký, nhưng mười tháng qua nó nặng hơn mọi thứ trong căn hộ, nặng hơn tủ quần áo, nặng hơn bàn thờ, nặng hơn hộp ảnh cũ dưới gầm giường. Bây giờ bà nhấc lên và nó nhẹ. Nhẹ vì bà sẵn sàng.

Bà mang ghế đến góc phòng khách, cạnh chậu cây trầu bà Mai trồng tháng trước. Đặt xuống, quay mặt ghế vào tường, lưng ghế ra ngoài. Không phải giấu. Chỉ là đặt vào chỗ khác, chỗ không phải trung tâm, chỗ không phải vị trí ông ấy từng chiếm suốt hai mươi sáu năm.

Mình không xóa ông ấy. Mình chỉ đặt ông ấy vào đúng vị trí. Không phải trung tâm nữa. Ông ấy là người đã đi qua cuộc đời mình, đã ở đây, đã yêu, đã dối, đã đi. Ghế vẫn ở đây. Chỉ ở chỗ khác.

Bà quay lại bàn ăn. Ba ghế. Bà, Mai, Khang. Đủ. Không thừa, không thiếu, không kéo ra nửa chừng. Ba người, ba ghế, ba bát, ba đôi đũa. Đây là gia đình bà bây giờ. Không phải gia đình bà từng tưởng, nhưng là gia đình bà có.

Bà ngồi xuống ghế mình, nhìn bàn ăn ba ghế. Ánh sáng đã sáng hơn, vệt nắng mùa đông nhạt lọt qua cửa kính ban công, vẽ hình chữ nhật trên sàn gạch. Gió nhẹ, lá trầu bà rung khẽ, mùi sả thoảng.

Mười tháng trước, mình ngồi đây trong bóng tối, kể cho Mai nghe mình đã tin ông ấy hai mươi sáu năm. Mình nói "mẹ cũng lừa mình, chọn tin vì tin dễ hơn biết." Câu đó đúng. Vẫn đúng. Nhưng hôm nay mình không còn đau khi nói câu đó nữa. Không phải vì hết đau. Là vì mình đã đau đủ rồi, và đau thêm cũng không thay đổi gì.

Bà đứng dậy, đi ra ban công. Ban công nhỏ, lan can sắt sơn xanh đã bong, chậu hoa cúc vàng mới trồng vụ đông. Chậu cũ, đất mới, cây mới. Chậu sứ trắng viền xanh ông ấy mua ở chợ Đồng Xuân năm nào, Tết, ông bảo "em thích hoa thì trồng đi, ban công trống quá." Bà trồng, ông tưới mỗi cuối tuần, kiểu tưới của người không biết trồng cây mà vẫn tưới vì muốn góp phần gì đó vào cuộc sống ở đây.

Ông ấy mất rồi. Chậu hoa vẫn ở đây. Bà thay đất tháng trước, trồng cúc vụ mới, tưới mỗi sáng bằng bình nước nhựa cũ. Hoa nở rồi, vàng nhạt, cánh mỏng, kiểu cúc đại đóa hàng chợ, không đẹp lắm nhưng sống khỏe, chịu rét, chịu gió tầng mười hai.

Ông ấy mua chậu hoa này cho mình. Mình giữ chậu hoa. Không giữ lý do ông ấy mua.

Bà tưới hoa, nước chảy xuống đất, thấm, mùi đất ẩm thoảng lên trong gió lạnh tháng Giêng. Nhìn xuống đường, xe máy chạy thưa, hàng phở đầu ngõ bốc khói, bà Hoa mặc áo phao xanh đứng múc nước dùng. Phở bà Hoa. Hai mươi năm bà ăn phở sáng thứ Hai một mình ở đó, sau khi ông ấy đi. Bây giờ bà ăn phở ngày nào cũng được, vì ngày nào ông ấy cũng không ở đây, và bà đã quen với việc không ở đây của ông ấy từ lâu rồi, chỉ là bây giờ lý do khác.

Trước, ông ấy không ở đây vì đi về nhà khác. Bây giờ, ông ấy không ở đây vì đã chết. Kết quả giống nhau: bà ăn phở một mình. Nhưng cảm giác khác. Trước, mình chờ. Bây giờ, mình không chờ ai cả.

Bà vào nhà, rót cà phê Mai pha sẵn, ngồi ở ghế bàn ăn, nhìn ba cái ghế. Cà phê đen, không đường, kiểu Mai pha, đậm hơn bà thích nhưng bà uống quen rồi, quen vì con gái pha thì uống, không cần đúng gu, cần đúng người.

Nghĩ đến bữa cơm tuần trước. Sáu người ở quán cơm Tạ Hiện. Bà Hạnh ngồi đối diện, mời canh chua. Bà gật, nói "dạ." Một chữ. Chữ đó nặng hơn bà nghĩ, vì "dạ" với bà Hạnh không phải "dạ" với người bán hàng, không phải "dạ" với đồng nghiệp, là "dạ" với người phụ nữ mà chồng mình đã về với mỗi tối, là "dạ" với người mà mình từng nghĩ là kẻ thù, rồi nạn nhân, rồi người lạ, rồi bây giờ là gì, bà chưa biết, chỉ biết bà đã nói "dạ" và không hối hận.

Bà ấy mời mình ăn canh chua. Canh chua cá lóc. Mình biết vì ông ấy từng khen canh chua nhà bà ấy, không khen trước mặt mình, nhưng ông ấy mua cá lóc về nấu và nấu không giống cách mình nấu, nấu theo cách ai đó đã dạy ông ấy, và mình biết ai đó không phải mẹ ông ấy. Bây giờ mình biết ai đó là bà Hạnh. Và bà ấy mời mình ăn canh chua của bà ấy.

Buồn cười. Không hài. Chỉ buồn cười theo kiểu cuộc đời buồn cười.

Tiếng chìa khóa ngoài cửa. Mai. Con gái quên mang theo ví, quay lại lấy. Bước vào, nhìn bàn ăn, dừng lại. Nhìn góc phòng khách, ghế cha cạnh chậu trầu bà. Nhìn mẹ.

Không hỏi. Không nói "sao mẹ dời ghế." Chỉ nhìn, rồi nhìn lại bàn ăn ba ghế, rồi nhìn mẹ.

– Trông thoáng hơn không con?

Mai nhìn mẹ thêm một nhịp. Rồi gật.

– Dạ.

Một chữ. Giống chữ bà nói với bà Hạnh tuần trước. Một chữ mà đủ, vì không cần thêm. Không cần hỏi "mẹ có sao không", không cần nói "mẹ làm đúng rồi", không cần giải thích hay an ủi. Chỉ "dạ." Con gái hiểu mẹ, kiểu hiểu của người đã đi cùng mẹ qua mười tháng, đã nghe mẹ kể, đã thấy mẹ khóc, đã ngồi cạnh mẹ trong bóng tối, đã pha cà phê mỗi sáng rồi đi làm, đã biết mẹ sẽ đến đây, chỉ không biết hôm nào.

Hôm nay.

Mai lấy ví trên kệ giày, quay lại nhìn ghế cha ở góc phòng một lần nữa. Rồi nhìn chậu hoa cúc ngoài ban công qua cửa kính.

– Cúc nở đẹp mẹ.

– Ừ. Vụ này nở sớm.

Mai đi ra cửa, dừng lại.

– Tối con mua cá lóc về mẹ nấu canh chua nha.

Trang nhìn con gái. Cá lóc. Canh chua. Không phải vì ông ấy. Không phải vì bà Hạnh mời. Chỉ vì Mai thích canh chua, vì Trang nấu canh chua ngon, vì tối nay ba mẹ con ăn cơm và canh chua là món ngon ngày lạnh.

– Ừ.

Mai đóng cửa. Bước chân trong hành lang, tiếng thang máy, rồi im. Trang ngồi một mình, cà phê nguội dần, ánh nắng mùa đông dịch chậm trên sàn gạch, vệt sáng chạm chân bàn ăn rồi trượt qua.

Bà nhìn ban công. Hoa cúc vàng nhạt trong nắng, cánh mỏng rung trong gió, chậu sứ trắng viền xanh. Ông ấy mua chậu đó. Bà trồng hoa trong chậu đó. Ông ấy đi rồi, hoa vẫn nở, bà vẫn tưới, không phải vì nhớ ông ấy, không phải vì giữ kỷ niệm, chỉ vì bà thích hoa, vì hoa đẹp, vì mỗi sáng nhìn hoa nở bà thấy ngày mới bắt đầu và ngày mới không cần có ông ấy trong đó.

Mười tháng trước mình hỏi: mình được mượn hay được yêu? Câu hỏi đó không còn quan trọng nữa. Không phải vì đã có đáp án, mà vì mình không cần đáp án nữa. Ông ấy yêu hay không, thật hay giả, trọn vẹn hay chia đôi, những câu hỏi đó thuộc về ông ấy. Mình có câu hỏi của mình: mình sống tiếp thế nào?

Mình dời ghế. Mình trồng hoa. Mình uống cà phê con pha. Mình sẽ nấu canh chua tối nay, vì Mai thích, vì Khang ăn cơm nóng về tối mùa đông. Mình sẽ ăn phở sáng mai ở quán bà Hoa, một mình, như hai mươi năm qua, nhưng lần này không phải vì chờ ai về mà vì mình thích phở bà Hoa.

Chỉ còn mình. Những người bị tổn thương. Mình, bà Hạnh, Mai, Minh Anh, Nam, Khang. Sáu người bị một người đàn ông tổn thương, mỗi người một kiểu, mỗi người một mức. Ông ấy đi rồi. Còn lại chúng mình, với vết thương, với ghế trống, với hoa cúc, với canh chua. Không ai lành hẳn. Nhưng ai cũng đang sống.

Nắng dịch thêm, chạm chân ghế bà, ấm nhẹ qua vải quần. Bà uống hết cà phê nguội, đặt cốc xuống bàn, đứng dậy, cầm cây lau, tiếp tục lau phần sàn còn lại. Góc phòng khách, chỗ ghế cha mới đặt, bà lau quanh chân ghế, cẩn thận, nhẹ nhàng, kiểu lau đồ vật thuộc về nhà mình nhưng không thuộc về trung tâm nhà mình nữa.

Lau xong, bà đứng ở cửa ban công, nhìn ra. Tầng mười hai, gió tháng Giêng lạnh, trời xám nhạt đã chuyển sang xanh mỏng, ánh nắng yếu nhưng có, kiểu nắng mùa đông Hà Nội, không đủ ấm nhưng đủ sáng. Hoa cúc nở. Bà nhìn hoa, không nghĩ gì, chỉ nhìn, chỉ thấy hoa đẹp, và thấy mình đang đứng đây, một mình, tay cầm cây lau, sàn nhà sạch, bàn ăn ba ghế, cà phê con gái pha, cá lóc tối nay.

Đủ rồi. Không phải đủ theo kiểu đầy. Đủ theo kiểu vừa. Vừa với một người đàn bà năm mươi tư tuổi đã mất chồng, mất việc, mất hai mươi sáu năm tin tưởng, nhưng còn hai đứa con, còn chậu hoa, còn phở bà Hoa, còn sáng mai.

Bông hoa này không phải để nhớ ông nữa. Là vì mình thích hoa.

Ch.70/81
2.229 từ