Ngôi Nhà Có Hai Bàn Ăn
Chương 46: Mẹ Hạnh không ngủ được
Chương 46

Mẹ Hạnh không ngủ được

Tiếng quạt trần quay, đều, chậm, xoay bóng trên trần nhà tối. Ba giờ sáng, tháng tám, nóng.

Hạnh nằm ngửa, mắt mở, nhìn bóng cánh quạt xoay qua xoay lại trên nền trắng đục. Bà đã nằm từ mười một giờ. Bốn tiếng rồi. Không ngủ được.

Không phải đêm nay. Nhiều đêm rồi. Mười mấy đêm, hai mươi đêm, bà không đếm nữa. Cứ đặt lưng xuống, nhắm mắt, thở đều, rồi nằm, rồi nằm, rồi nằm, và giấc ngủ không đến.

Gối bên trái vẫn ở đó. Trắng, phẳng, không vết lõm. Năm tháng rồi không ai nằm lên. Bà chưa cất, chưa dẹp, vẫn đặt hai cái gối, vẫn trải đôi ga, vẫn gập chăn vuông vắn bên trái như thể sáng nào ông ấy cũng dậy, gập chăn, rồi xuống bếp pha cà phê.

Ông ấy gập chăn gọn lắm. Ba mươi hai năm chưa một sáng nào bà phải gập lại cho ông. Cái gì ông cũng gọn, cũng ngăn nắp, cũng đâu vào đấy. Hai gia đình cũng vậy, gọn, ngăn nắp, đâu vào đấy, không ai biết, không ai ngờ, cho đến khi ông chết.

Bà trở mình, nằm nghiêng, nhìn ra cửa sổ. Ngõ Hoàn Kiếm tối, đèn đường cuối ngõ hắt ánh vàng mờ qua khe rèm, in vệt dài trên sàn gỗ cũ. Tiếng dế ở đâu, không biết, nhà ai, kêu nhỏ, đều, kiểu sinh vật không cần ngủ. Mùi long não nhạt từ tủ quần áo ở góc phòng, mùi cũ, mùi đồ ông ấy còn treo trong đó, bà chưa dọn, áo sơ mi trắng, áo vest xám, mùi ông ấy phai dần qua tháng nhưng chưa hết.

Mình cũng không cần ngủ. Hay là không ngủ được. Hai cái khác nhau mà kết quả giống nhau: ba giờ sáng, nằm đây, nhìn tường.

Bà ngồi dậy. Chậm, hai tay chống xuống nệm, lưng đau nhẹ, kiểu đau của người năm mươi lăm tuổi dậy giữa đêm quá nhiều lần. Chân chạm sàn gỗ, mát, quen. Bà xỏ dép, đứng lên, lấy cái áo khoác mỏng treo sau cánh cửa, khoác lên vai.

Cầu thang gỗ, bậc thứ ba kêu cọt kẹt, bậc thứ bảy cũng kêu. Ba mươi hai năm bà đi cầu thang này, biết bậc nào kêu, bậc nào không, bậc nào ông ấy thường bước qua hai bậc một vì chân dài. Bà đi nhẹ, sợ đánh thức Minh Anh ở phòng bên cạnh. Con gái về ở nhà từ sau tang lễ, nói "ở với mẹ một thời gian," bà biết con lo, bà nói "mẹ ổn," con gật nhưng mắt không tin.

Con gái không tin vì con gái giống mẹ. Nhìn người khác nói "ổn" mà biết không ổn. Mẹ cũng nhìn ông ấy nói "đi công tác" mà không biết không ổn. Hay biết mà không muốn nhìn?

Bếp tối, bà bật đèn nhỏ trên tủ bếp, ánh vàng yếu, chỉ đủ soi mặt bàn ăn gỗ. Bàn gỗ lim, sáu ghế, ghế cha đầu bàn, ghế mẹ bên phải, ghế Minh Anh bên trái, ghế Nam đối diện mẹ. Hai ghế còn lại không ai ngồi cố định, để cho khách, cho bà Nguyệt hàng xóm sang ăn cỗ, cho thằng bạn Nam đến chơi.

Bà pha trà. Trà xanh Thái Nguyên, ấm đất nhỏ, nước sôi. Mùi trà bốc lên, nhẹ, hơi chát, mùi quen, mùi đêm khuya, mùi bà vẫn pha khi không ngủ được từ khi biết sự thật.

Ngồi xuống ghế mình, tay ôm chén trà nóng, nhìn ghế cha.

Ghế đó. Ông ấy ngồi đó mỗi tối. Ăn cơm, uống nước, nói chuyện, cười, hỏi "hôm nay tiệm may thế nào," hỏi "Minh Anh ăn chưa," hỏi "Nam đi đâu rồi." Ngồi đó, bình thường, ba mươi hai năm, và mình không hề biết rằng ông ấy cũng có một cái ghế khác, ở bàn khác, ở nhà khác, cũng ngồi, cũng ăn, cũng cười, cũng hỏi.

Trà nóng, bà nhấp một ngụm, chát, ấm cuống họng.

Mình có giận không? Có. Giận lắm. Nhưng giận kiểu gì? Giận ông ấy lừa? Giận mình tin? Giận vì ba mươi hai năm mình ngủ cạnh một người đàn ông mà mình tưởng là chồng mình, và ông ấy là chồng mình thật, nhưng cũng là chồng người ta?

Giận vì mình không biết. Giận vì mình không nghi ngờ. Giận vì mình quá tin, quá hiền, quá "ăn cơm đi con, để mẹ lo" mà không hỏi: lo gì? Lo cho ai? Cho mấy người?

Bà đặt chén trà xuống bàn. Nhìn tay mình, tay chai, móng cắt ngắn, vết kim đâm cũ trên ngón trỏ, vết kéo cắt trên mu bàn tay, tay thợ may, tay người đàn bà ba mươi hai năm cầm kim, cầm kéo, cầm bàn là, ủi áo cho chồng đi "công tác."

Mình ủi áo cho ông ấy. Ủi thẳng, xếp gọn, bỏ vali. Ông ấy xách vali đi, nói "ba ngày," nói "Thanh Hóa," nói "Hải Phòng," và mình tin. Mình ủi áo, ủi thẳng, cho ông ấy mặc đi gặp người phụ nữ khác. Nghĩ đến đó mà cổ họng nghẹn.

Ngoài cửa sổ bếp, ngõ vẫn tối. Xa xa, tiếng xe máy chạy qua phố lớn, rồi im. Hà Nội tháng tám, ba giờ sáng, nóng, ẩm, mùi nhựa đường, mùi rác ngõ nhỏ, mùi hoa nhài ai đó trồng ở bậu cửa sổ tầng một.

Bà ngồi yên. Không khóc. Đã qua giai đoạn khóc rồi, những tuần đầu, khi Minh Anh kể sự thật, khi bà đọc thư, khi bà nằm một mình nhìn trần nhà và hiểu rằng nửa giường trống kia có lẽ chưa bao giờ hoàn toàn thuộc về bà. Bây giờ nước mắt cạn rồi, còn lại là thứ khác, nặng hơn, tĩnh hơn, kiểu mệt của người không ngủ đủ quá nhiều đêm mà cơ thể bắt đầu quen với mệt.

Ba mươi hai năm. Mình sống với ông ấy ba mươi hai năm. Sinh hai đứa con. Nuôi chúng lớn. Lo cho chúng ăn, cho chúng học, cho chúng ngủ, cho chúng sốt thì chạy viện giữa đêm. Mình làm hết. Ông ấy cũng làm, khi ông ấy ở đây. Nhưng "khi ông ấy ở đây" là bao nhiêu phần trăm của ba mươi hai năm? Nửa? Ít hơn nửa? Những buổi tối ông ấy "ở nhà," ông ấy có thực sự ở nhà, hay chỉ là cái vỏ ngồi đây, đầu ở bên kia?

Chén trà nguội dần trong lòng bàn tay bà. Bà không uống nữa, chỉ cầm, kiểu cầm một thứ gì đó cho tay có việc làm, cho không phải nắm chặt vào mép bàn. Sành mát dần, trơn, quen tay, chiếc chén bà mua ở chợ Đồng Xuân mười mấy năm trước, cùng bộ sáu chiếc, giờ còn bốn, hai chiếc vỡ, không ai nhớ vỡ khi nào.

Mình không muốn oán ông ấy. Oán mệt lắm. Nhưng mình cũng không muốn tha thứ. Tha thứ là nói "không sao," và mình không nói "không sao" nữa. Minh Anh nói đúng, hôm đó ở nghĩa trang, con bé nói "con không nói không sao nữa." Con gái giống mẹ. Hay mẹ giống con gái.

Tiếng bước chân trên cầu thang. Nhẹ. Bà biết đó là Minh Anh, vì Nam bước nặng hơn, và Nam đã về phòng trọ rồi. Cánh cửa bếp mở nhẹ.

– Mẹ.

Hạnh không quay lại. Nhìn chén trà.

– Mẹ không ngủ à?

– Ngủ được. Dậy uống nước.

Minh Anh đi vào bếp, im lặng, lấy cốc, rót nước lọc, ngồi xuống ghế cạnh mẹ. Không phải ghế cha. Ghế bên phải mẹ, ghế mình.

Bà nhìn con gái. Tóc xõa, mắt sưng nhẹ vì mới ngủ, áo ngủ cũ. Minh Anh không hỏi thêm. Chỉ ngồi. Cầm cốc nước, uống, đặt xuống, nhìn bàn ăn, nhìn mẹ, nhìn chén trà nguội.

Con biết mẹ nói dối. "Ngủ được" là nói dối. Nhưng con không vạch ra, vì con cũng nói dối kiểu đó, "con ổn," "con không sao," "để chị lo." Mẹ con mình, hai người đàn bà, ngồi bếp lúc ba giờ sáng, cầm cốc, nhìn ghế trống, và nói dối nhau vì sợ người kia lo.

Im lặng. Đèn bếp vàng yếu. Hai mẹ con ngồi cạnh nhau, vai chạm vai nhẹ, không nói gì, không cần nói gì.

Ngoài ngõ, tiếng xe đạp. Ai đó đi bán báo sáng sớm, bánh xe lăn trên đường gạch, lạch xạch, nhẹ, rồi xa dần. Rồi tiếng gà gáy đâu đó, không biết nhà ai nuôi gà ở phố cổ, nhưng gà vẫn gáy, mỗi sáng, kiểu sinh vật không biết gì về chuyện người.

Mùi canh hành loãng từ nhà hàng xóm bay sang, nhạt, ấm, mùi sáng sớm Hà Nội, mùi ai đó dậy nấu ăn cho chồng đi làm ca sáng.

Hà Nội vẫn tiếp tục. Người ta vẫn nấu canh, vẫn bán báo, vẫn gà gáy, vẫn dậy sớm. Mình cũng phải tiếp tục. Nhưng mình không biết tiếp tục bằng cách nào. Ba mươi hai năm mình tiếp tục vì có ông ấy ở bên. Bây giờ ông ấy không ở bên nữa, và mình phát hiện ra ông ấy chưa bao giờ hoàn toàn ở bên, thì mình tiếp tục bằng gì?

Minh Anh đặt tay lên tay mẹ. Tay con gái mát, ngón dài, tay kiến trúc sư, tay cầm bút vẽ, tay giống tay cha.

Hạnh nhìn tay con gái đặt trên tay mình. Không nói. Chỉ để tay con ở đó, ấm dần, trên bàn gỗ lim, cạnh chén trà nguội, cạnh ghế trống.

Có lẽ bằng cái này. Bằng con gái ngồi cạnh lúc ba giờ sáng. Bằng con trai gọi điện mỗi tối dù không biết nói gì. Bằng chén trà, bằng bếp quen, bằng cầu thang kêu cọt kẹt bậc thứ ba và thứ bảy.

Có lẽ chưa biết bằng cách nào. Nhưng mình vẫn ngồi đây. Vẫn còn đây.

Trời sáng dần. Ánh sáng xám lọt qua cửa sổ bếp, nhạt, loãng, kiểu sáng tháng tám Hà Nội, nóng từ sớm. Hai mẹ con ngồi trong bếp, im lặng, tay trong tay, nhìn ngày mới bắt đầu qua ô cửa sổ nhỏ.

Ch.46/81
1.681 từ