Chương 59: Người duy nhất biết sự thật
Mưa nhỏ rơi trên mái hiên quán phở, tiếng lộp bộp đều, tiếng nước chảy từ máng xối xuống vỉa hè, mùi đất ướt trộn mùi nước phở bốc hơi. Bát Đàn buổi trưa, quán vắng hơn sáng, vài bàn còn khách, ánh đèn vàng trong quán sáng hơn ngày mưa.
Mai ngồi cạnh Minh Anh, đối diện ông Thành. Lần đầu cô gặp người đàn ông này, nhưng cảm giác không phải lần đầu, vì Minh Anh đã kể hết về buổi gặp tuần trước, kể về dáng đi, giọng nói, cách ông ăn phở chậm, cách ông dừng lại giữa câu để thở.
Minh Anh kể giỏi. Kể kỹ. Kể kiểu người muốn mình nhìn thấy dù không ở đó. Chị kể xong, im lặng, rồi nói: "Tuần sau em đi cùng chị nhé." Không hỏi, nói. Và mình gật, vì mình cũng muốn nghe, không chỉ nghe qua chị, muốn nhìn vào mắt ông Thành mà thấy cha.
Ông Thành nhìn Mai, lâu, mắt ông dừng ở khuôn mặt cô, rồi nhìn Minh Anh, rồi nhìn lại Mai, kiểu người đang so sánh hai bức tranh mà không nói ra.
– Cô là Mai.
– Vâng.
– Cô giống mẹ cô nhiều hơn. Nhưng cái nhìn thì giống anh Phúc.
Giống mẹ. Mọi người đều nói mình giống mẹ, khuôn mặt tròn, miệng nhỏ, da trắng. Nhưng cái nhìn giống cha. Ông Thành thấy điều đó trong lần gặp đầu tiên, vì ông đã nhìn cha suốt ba mươi mấy năm, đã nhìn cái nhìn đó qua bao nhiêu bữa rượu, bao nhiêu buổi trà khuya, đã thấy cái nhìn đó khi cha vui và khi cha đau.
Ông Thành gọi phở. Lần này cũng phở chín, nước dùng nhiều, không rau sống, giống tuần trước theo lời Minh Anh. Ba người ăn. Mai húp nước dùng, nóng, ngọt thanh, mùi xương bò ninh kỹ, mùi gừng nướng. Cô hiểu vì sao cha hay ăn ở đây. Phở Bát Đàn là kiểu phở không cần cố, không cần chọn quán, chỉ cần quen, và cái quen đó thành nhà. Cha hay ăn ở đây với ông Thành, hai người đàn ông trung niên ngồi quán phở buổi sáng, nói chuyện mà không ai xung quanh biết một trong hai người đang sống hai cuộc đời.
Ông Thành đặt đũa, lau miệng, rồi nhìn Mai:
– Tuần trước tôi kể cho Minh Anh về năm 2019. Hôm nay tôi kể phần còn lại. Phần liên quan đến mẹ cô.
Mai gật. Tay cô đặt trên đùi, nắm nhẹ, kiểu người chuẩn bị nghe điều mình đã đoán nhưng chưa chắc.
– Anh Phúc biết chuyện mẹ cô mất con năm 1998.
– Cháu biết. Nhật ký cha có viết.
Ông Thành gật, chậm, kiểu người đang cân nhắc nói gì tiếp.
– Nhưng có điều nhật ký không viết. Anh Phúc đã ở bệnh viện với mẹ cô đêm hôm đó. Không phải ngồi nhà Hoàn Kiếm như anh ấy viết. Anh ấy viết vậy trong nhật ký vì sợ ai đọc, nhưng anh ấy đã ở đó, ở bệnh viện Đức Giang, cầm tay mẹ cô suốt đêm.
Mai ngồi im. Nước mắt không chảy, nhưng ngực cô thắt lại, kiểu đau không nhìn thấy, chỉ cảm thấy, kiểu đau của người vừa biết thêm một mảnh mà mảnh đó không làm bức tranh đẹp hơn hay xấu hơn, chỉ thật hơn.
Cha đã ở bệnh viện với mẹ. Không phải ngồi nhà Hoàn Kiếm ăn cơm với vợ. Cha đã cầm tay mẹ suốt đêm, trong bệnh viện Đức Giang, khi mẹ mất đứa bé. Nhật ký cha viết khác vì sợ ai đọc. Nhưng sự thật là cha đã ở đó.
Và mẹ không biết cha biết. Mẹ giấu. Cha cũng giấu. Hai người cùng giấu nhau về cùng một chuyện, cùng đau mà không nói với nhau rằng mình đau.
Minh Anh ngồi bên cạnh, im, tay cầm cốc trà, mắt nhìn xuống, kiểu người đang nghe điều mới nhưng không muốn phản ứng để Mai có không gian.
Ông Thành nói tiếp, giọng thấp hơn, như sợ bàn bên cạnh nghe:
– Anh Phúc nói với tôi sau đêm đó: "Nếu rời Trang lúc này, tao như người đá cô ấy xuống khi cô ấy đang dưới đáy. Tao không nỡ." Tôi hiểu câu đó. Tôi không đồng ý, nhưng tôi hiểu. Vì anh ấy yêu mẹ cô, theo cách mà anh ấy yêu. Không đúng, không đủ, nhưng yêu.
Cha yêu mẹ. Theo cách không đúng, không đủ, nhưng yêu. Mình đã biết điều đó từ lâu, biết từ cách cha nhìn mẹ, cách cha ngồi ăn cơm với mẹ, cách cha dạy mình đi xe đạp ở sân chung cư chiều Chủ nhật. Cha yêu mẹ thật. Và cha yêu bà Hạnh thật. Hai thứ tình yêu đó không triệt tiêu nhau, chúng cùng tồn tại, cùng thật, cùng thiếu, và cùng phá hủy.
– Nhưng có một điều nữa.
Ông Thành dừng lại, nhìn Mai, rồi nhìn Minh Anh, như cân nhắc lần cuối trước khi nói.
– Trước khi mất, khoảng nửa năm trước, anh Phúc gọi tôi. Giọng yếu. Anh ấy nói: "Tao viết thư rồi. Để trong hộp gỗ. Nhờ luật sư sắp xếp. Nhưng có một chuyện, tao muốn Mai biết." Tôi hỏi chuyện gì. Anh ấy nói: "Chuyện đứa bé."
Mai nhìn ông Thành, mắt không chớp. Tay cô dưới bàn nắm chặt hơn, móng tay ấn vào lòng bàn tay, kiểu đau nhỏ để giữ mình ở đây, ở bây giờ, không trôi đi.
– Cha cháu muốn cháu biết chuyện mẹ cháu mất con?
– Anh ấy muốn cô kể cho mẹ cô. Anh ấy nói: "Trang không biết tao biết. Cô ấy giữ chuyện đó một mình hai mươi mấy năm. Cô ấy có quyền biết rằng tao đã biết, rằng tao đã ở đó đêm hôm đó, rằng tao không bỏ đi."
Im lặng. Tiếng mưa ngoài hiên nặng hơn, nước chảy trên kính cửa sổ quán, ánh đèn vàng run theo gió.
Cha muốn mình kể cho mẹ. Muốn mẹ biết rằng cha đã biết, đã ở bệnh viện đêm đó, đã cầm tay mẹ. Hai mươi sáu năm mẹ giữ nỗi đau đó một mình, nghĩ rằng cha không biết, nghĩ rằng mình mất con mà người đàn ông của mình không hay. Và sự thật là cha biết. Cha đã ở đó. Cha đã không bỏ đi. Nhưng cha cũng không nói.
Mẹ có quyền biết. Cha nói đúng. Mẹ có quyền biết rằng mình không cô đơn đêm đó, dù mẹ nghĩ mình cô đơn suốt hai mươi sáu năm. Nhưng biết rồi thì sao? Mẹ sẽ vui hơn hay đau hơn? Sẽ thấy cha tốt hơn hay thêm giận? Mình không biết. Mình chỉ biết cha muốn mẹ biết, và cha nhờ mình.
Cha luôn nhờ người khác. Nhờ ông Thành giữ bí mật. Nhờ luật sư sắp xếp. Nhờ mình kể cho mẹ. Cha không trực tiếp nói với ai điều quan trọng, cha luôn đi vòng, luôn nhờ người thứ ba, luôn tránh cái khoảnh khắc phải nhìn vào mắt người kia mà nói thật. Ngay cả lúc sắp chết, cha vẫn vậy.
Ông Thành nhìn Mai, mắt ông mềm, kiểu mắt người già nhìn đứa trẻ đang gánh thứ không phải của mình.
– Tôi biết cô không muốn nghe chuyện này. Nhưng anh Phúc nhờ tôi, và anh ấy đã mất. Tôi không muốn giữ thêm bí mật nào nữa.
Mai nhìn ông Thành, rồi nhìn Minh Anh. Chị ngồi im, mắt ướt nhẹ, nhưng không nói, để Mai tự quyết.
– Cháu hiểu. Cháu cảm ơn chú đã nói.
Giọng cô bình tĩnh, nhưng bình tĩnh kiểu người đang cố giữ, không phải kiểu người không đau. Cô biết mình sẽ đau sau, khi về nhà, khi nằm xuống giường, khi nhắm mắt và hình dung mẹ nằm trong bệnh viện Đức Giang đêm đó, tay cha cầm tay mẹ, mà mẹ không biết cha biết, và cha không nói.
Ba người ngồi thêm một lúc. Mưa nhỏ dần, tiếng lộp bộp thưa, ánh sáng ngoài cửa sáng hơn, kiểu trời Hà Nội sau mưa tháng mười một, xám nhạt, sạch, mùi đất ướt bay vào quán.
Ông Thành đứng dậy, để tiền, gật đầu chào hai người rồi đi. Dáng ông trên vỉa hè ướt, lưng cong, bước chậm, nhưng nhẹ hơn tuần trước, kiểu người vừa đặt xuống thứ gì đó nặng.
Ông ấy nhẹ hơn. Vì ông ấy vừa trả lại bí mật cuối cùng. Ba mươi mấy năm giữ cho bạn, giờ trả lại cho con gái bạn, xong. Ông ấy có thể về nhà, uống trà, ngủ, không còn phải thức vì giữ thứ không phải của mình.
Minh Anh và Mai đi ra khỏi quán, đứng dưới mái hiên, nhìn mưa tạnh, nhìn phố ướt.
Minh Anh hỏi, nhẹ:
– Em có kể cho mẹ không?
Mai nhìn ra phố. Xe máy chạy qua, bánh xé nước trên mặt đường, tiếng bắn nước nhẹ. Một bà bán hoa cúc đi ngang, gánh hoa vàng ướt mưa, cánh hoa dập mà vẫn vàng.
Mẹ có quyền biết. Cha muốn mẹ biết. Ông Thành đã nhờ mình. Nhưng kể thì mẹ sẽ đau. Không kể thì mẹ sẽ tiếp tục nghĩ mình mất con một mình, không ai biết, không ai ở đó. Cái nào tệ hơn? Đau vì biết, hay cô đơn vì không biết?
Mình không biết. Mình hai mươi sáu tuổi, chưa mất con bao giờ, chưa yêu ai đủ lâu để giấu nhau một bí mật hai mươi sáu năm. Mình không đủ hiểu để quyết thay mẹ. Nhưng cha nhờ mình. Và mẹ có quyền biết.
Mai không trả lời Minh Anh. Cô đứng im dưới mái hiên, nhìn phố ướt, nhìn mưa tạnh, nhìn bà bán hoa cúc đi xa dần, gánh hoa vàng trên vai, cánh hoa ướt mà vẫn vàng. Minh Anh không hỏi lại, không ép, chỉ đứng cạnh, vai gần chạm vai, kiểu người hiểu rằng có những câu hỏi cần thời gian, không phải cần câu trả lời.
Hai chị em đi về phía bến xe buýt. Mai nhìn thẳng, không nói, không khóc, chỉ đi, bước chậm trên vỉa hè ướt, qua phố Bát Đàn, qua Hà Nội tháng mười một sau cơn mưa, và không nói gì suốt đoạn đường còn lại.