Ngôi Nhà Có Hai Bàn Ăn
Chương 63: Sự Thật Hoàn Chỉnh
Chương 63

Sự Thật Hoàn Chỉnh

Mùi trà mạn bốc lên từ ấm sứ nứt, loại trà Thái Nguyên ông ấy thích, loại bà vẫn mua dù ông ấy không còn uống nữa. Hạnh ngồi ở bàn ăn gỗ xoan đào, hai tay ôm chén trà, nhìn Minh Anh ngồi đối diện, và biết rằng con gái sắp nói thứ gì đó nặng.

Bà biết vì bà đã nhìn Minh Anh hai mươi tám năm. Biết khi con mỉm cười vì vui, khi con mỉm cười vì lịch sự, khi con mỉm cười vì không muốn ai lo. Hôm nay Minh Anh không cười. Cô ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên mặt bàn, ngón tay gõ nhẹ vào vân gỗ, kiểu người đang sắp xếp từ trong đầu trước khi mở miệng.

– Mẹ, con cần kể cho mẹ nghe mấy thứ. Nhiều thứ. Mẹ uống trà đi rồi con nói.

Hạnh nhấp trà. Nóng, đắng, quen. Bà gật.

Con bé nói "nhiều thứ." Nhiều hơn những gì mẹ đã biết. Nhiều hơn hai gia đình, nhiều hơn di chúc, nhiều hơn người phụ nữ ở tang lễ. Còn gì nữa? Còn bao nhiêu?

Minh Anh bắt đầu từ nhật ký. Cô kể chậm, giọng đều, không cố làm nhẹ, không cố làm nặng. Cha viết nhật ký từ năm 2010, 2012, không đều, có khi vài tháng mới một dòng. Cha viết về nỗi sợ, về đêm mất ngủ, về những lần muốn nói thật mà không nói được. Cha viết rằng cha biết mình sai, biết mình hèn, biết sẽ không bao giờ có ngày nào đúng lúc để thú nhận.

Hạnh nghe. Không ngắt lời. Tay bà ôm chén trà, và bà nhận ra tay mình run, nhẹ, kiểu run không phải vì sợ, mà vì cơ thể hiểu trước khi đầu hiểu.

– Trong nhật ký có một trang viết về năm 2019. Cha đặt lịch nói thật. Viết ra giấy, gạch đầu dòng, chuẩn bị sẵn câu đầu tiên. Rồi hủy đêm trước.

Năm 2019. Minh Anh hai mươi ba, sắp ra trường. Nam hai mươi, đang thực tập. Mình năm mươi, mới nhuộm tóc, mới may xong đợt áo dài Tết cho khách. Năm đó ông ấy có khác gì không? Mình không nhớ. Không nhớ vì ông ấy luôn giống nhau, luôn hiền, luôn đi làm về đúng giờ, luôn mang hoa về chiều thứ Sáu. Mình có bỏ lỡ dấu hiệu nào không?

– Lý do cha hủy, Minh Anh nói, giọng nhẹ hơn, là vì cha nhìn vào mắt con mà không mở miệng nổi.

Hạnh đặt chén trà xuống. Bà nhìn vết xước ở góc bàn, vết do Nam kéo ghế hồi lên sáu, vết bà đã nhìn mỗi bữa cơm suốt hai mươi năm mà chưa bao giờ muốn bào đi. Bà hít một hơi, ngực nặng, kiểu nặng không phải vì khóc, mà vì có quá nhiều thứ cùng lúc đè lên một chỗ.

– Con nói tiếp đi.

Minh Anh kể về bệnh án. Cha đi khám tâm lý năm 2017, rồi 2018, rồi ngưng. Chẩn đoán trầm cảm vừa, rối loạn lo âu. Cha không uống thuốc, không quay lại, chỉ ghi vào nhật ký rằng bác sĩ bảo cha cần nói chuyện với ai đó, mà cha không có ai để nói.

Hạnh ngồi im lâu. Ngoài cửa sổ, ngõ nhỏ Hoàn Kiếm vắng, ánh đèn vàng hắt vào phòng qua khe rèm, tiếng xe máy lọc cọc chạy qua, tiếng bà bán phở đầu ngõ dọn hàng khuya, leng keng bát đũa. Mùi phở loãng bay vào, quen thuộc kiểu hai mươi năm ngửi mỗi đêm mà không để ý, đến khi mất thì thấy thiếu.

– Ông ấy trầm cảm.

Bà nói, giọng không phải hỏi, không phải xác nhận, chỉ là nói ra, kiểu người cần nghe chính mình phát âm để tin.

– Ông ấy trầm cảm mà mẹ không biết.

Minh Anh nhìn mẹ. Cô không nói "không phải lỗi mẹ." Cô biết nếu nói bây giờ thì mẹ sẽ không nghe, vì bà đang nghe chính mình, đang nghe cái giọng bên trong hỏi tại sao ba mươi hai năm ngủ cạnh một người mà không biết người đó đang sợ cái gì.

Mẹ nhìn bàn tay mình. Bàn tay may áo, bàn tay nấu cơm, bàn tay tắt đèn mỗi đêm, bàn tay chạm vào lưng ông ấy khi ông ấy ho lúc nửa đêm. Bàn tay này đã gần ông ấy ba mươi hai năm, mà không chạm tới chỗ ông ấy đau nhất.

Mình có hỏi bao giờ chưa? Có hỏi "anh có ổn không?" Có. Có hỏi. Ông ấy bảo "ổn." Và mình tin. Vì tin dễ hơn hỏi tiếp, vì hỏi tiếp thì phải nghe câu trả lời, mà câu trả lời có khi làm sụp cả cái nhà này.

Minh Anh kể tiếp. Về ông Thành. Ba lần gặp ở quán phở. Ông Thành giữ bí mật cho cha suốt ba mươi mấy năm, không phải vì đồng tình, mà vì bạn bè. Cha nhờ Thành giữ hộp gỗ. Cha tự tay đóng hộp gỗ bằng gỗ mua phố Hàng Hòm, mất hai tuần, không biết làm mộc, khắc tên hai đứa con gái lên nắp. Chữ Minh Anh sâu hơn chữ Mai vì khắc trước, tay chưa quen.

Hạnh nhắm mắt. Bà hình dung ông ấy, ngồi ở xưởng gỗ nào đó bên Gia Lâm, tay cầm dao nhỏ, chậm rãi khắc từng nét. Ông ấy vốn không khéo tay. Lắp cái kệ trong bếp còn xiêu, bà phải gọi thợ đến chỉnh lại. Mà ông ấy ngồi hai tuần khắc hộp gỗ cho hai đứa con gái, một đứa bà sinh, một đứa bà không biết đến.

Ông ấy yêu chúng nó. Cả hai. Cùng lúc, cùng tay, cùng con dao. Khắc tên con mình trước, sâu hơn. Không phải vì yêu hơn, mà vì chưa biết giữ dao.

– Ông Thành nói gì nữa? Hạnh hỏi, giọng bình tĩnh đến mức Minh Anh ngạc nhiên.

– Ông ấy nói cha yêu chúng con. Và cha đã tổn thương tất cả mọi người. Cả hai đều đúng.

Hạnh gật, chậm. Bà đứng dậy, đi vào bếp, rót thêm nước sôi vào ấm trà, đứng chờ trà ngấm, lưng quay về phía con gái, lưng gầy, áo bà ba xám nhạt, vai hơi gù vì may nhiều năm, kiểu lưng của người đã cúi xuống quá lâu trên vải, trên bàn ăn, trên cuộc đời.

Bà quay lại, đặt ấm trà xuống bàn, ngồi, rót cho Minh Anh một chén, rót cho mình một chén.

– Ông ấy đã khổ. Mẹ cũng khổ. Không ai trong câu chuyện này không khổ.

Minh Anh nhìn mẹ, mắt cay nhưng không khóc. Cô cầm chén trà, uống, đắng, ấm.

– Mẹ không giận cha sao?

Hạnh nhìn con, rồi nhìn cái ghế phía trong tựa tường, cái ghế cha vẫn ngồi, cái ghế bà đã kéo ra rồi đẩy vào mỗi ngày suốt tám tháng nay, có lúc muốn vứt đi, có lúc muốn giữ nguyên.

– Giận. Giận chứ. Nhưng giận một người đã mất thì giận vào đâu, con? Giận cái ghế này à? Giận chén trà này à?

Giận vào đâu. Câu hỏi đó mẹ hỏi từ ngày biết, mà chưa có ai trả lời. Giận ông ấy thì ông ấy không nghe. Giận mình thì mình đâu có lỗi. Giận cái cô ấy thì cô ấy cũng bị lừa. Vậy giận ai? Giận cái gì? Giận hai mươi sáu năm nào?

Im lặng. Trà nguội. Mùi trà mạn nhạt dần trong phòng, thay bằng mùi gỗ xoan đào từ mặt bàn, mùi cũ, mùi quen, mùi ba mươi hai năm bữa cơm.

Minh Anh nắm tay mẹ. Tay mẹ gầy, chai, ấm. Bà không rút tay ra, chỉ siết nhẹ, kiểu người cần biết con gái vẫn ở đây, vẫn thật, vẫn không biến mất như mọi thứ khác.

Ở Long Biên, chung cư tầng mười hai, ban công hướng sông, gió tháng mười một thổi qua cửa sổ hé, lạnh kiểu Hà Nội cuối thu, lạnh từ từ, không buốt, chỉ thấm.

Mai ngồi cạnh mẹ trên sofa. Hai cốc nước ấm trên bàn kính, chưa ai uống. Khang đi học thêm, sẽ về muộn. Căn hộ vắng, chỉ có tiếng đồng hồ treo tường kêu đều, tiếng tủ lạnh rù nhẹ phía bếp.

– Hôm nay con gặp ông Thành lần cuối, Mai nói, giọng nhẹ, tay đặt trên đùi, ngón cái xoay xoay nắp cốc. Ông ấy kể hết rồi. Phần cuối cùng.

Trang ngồi thẳng lưng, kiểu ngồi kế toán, kiểu ngồi không cho phép mình gục. Bà nhìn con gái, gật.

– Cha đóng hộp gỗ bằng tay. Năm 2015. Mua gỗ phố Hàng Hòm, tự khắc tên con và chị Minh Anh. Mất hai tuần. Cha không biết làm mộc.

Cha không biết làm mộc. Mình biết. Cái kệ trong bếp cha lắp cũng xiêu, mình phải kê miếng bìa cho thăng bằng. Mà cha ngồi hai tuần khắc gỗ cho hai đứa. Tay cha cầm bút ký hợp đồng, tay cha cầm đũa gắp cá cho mình, tay cha cầm tay mình đêm ở bệnh viện. Tay cha cũng cầm dao khắc tên hai đứa con gái mà cha không dám nhận trước mặt nhau.

– Cha tự nói mình hèn. "Viết thư thay vì nói, vì nói thì phải nhìn vào mắt chúng nó."

Trang nhắm mắt. Bà thở chậm, dài, kiểu thở của người đang nén, không phải nén khóc, mà nén cái gì đó lớn hơn khóc. Nén hai mươi sáu năm, nén tám tháng, nén đêm ở bệnh viện, nén bàn tay ấm mà bà không biết là tay ai.

– Ông ấy gánh nặng cả đời mà không nói.

Mai nhìn mẹ. Câu đó không phải tha thứ. Cũng không phải trách. Chỉ là nhìn thấy, kiểu người lùi lại một bước, nhìn toàn bộ, và thấy một người đàn ông gánh nhiều quá mà không biết đặt xuống đâu.

– Con hỏi ông Thành "cha có yêu chúng con không." Ông ấy nói "có." Rồi ông ấy nói "cả hai đều đúng." Yêu và tổn thương, cùng lúc.

Trang mở mắt. Bà nhìn ra ban công, nhìn chậu cúc ở góc, bông cuối cùng của mùa, cánh vàng nhạt đang cong xuống, sắp rụng. Bà vẫn tưới mỗi sáng, dù biết hoa sẽ hết. Tưới vì thói quen, vì bà vẫn dậy năm giờ nấu xôi cho Khang, vẫn gấp chăn vuông vức, vẫn lau bàn ăn trước khi đi làm. Thói quen giữ bà đứng vững khi mọi thứ khác lung lay.

– Biết điều đó có làm dễ hơn không? Trang hỏi, giọng nhẹ, không nhìn Mai.

Mai nghĩ lâu. Cô nhìn cốc nước ấm, nhìn hơi nước bay lên mờ, nhìn đồng hồ treo tường cha mua năm ngoái, kim giây vẫn chạy đều, không biết cha đã mất.

– Không. Nhưng biết rồi thì bớt chỗ trống hơn.

Bớt chỗ trống. Không phải lấp đầy. Không ai lấp đầy được hai mươi sáu năm bằng vài câu trả lời. Nhưng bớt, vì ít nhất bây giờ mình biết cha không phải không yêu. Cha yêu sai, yêu tệ, yêu hèn, nhưng yêu. Và biết điều đó không giúp mình tha thứ, nhưng giúp mình không phải tự hỏi nữa. Không phải nằm đêm tự hỏi "liệu cha có bao giờ thật sự thương mình không."

Trang đưa tay chạm vai Mai. Nhẹ, kiểu người không quen ôm nhưng muốn con biết mình ở đây. Mai nghiêng đầu, tựa vào vai mẹ, hai mẹ con ngồi im, nghe gió thổi qua ban công, nghe tiếng thành phố phía dưới, tiếng còi xe, tiếng ai đó gọi con về ăn cơm vọng lên từ tầng dưới.

Buổi tối, hai nhà, hai thành phố trong cùng một thành phố.

Ở Hoàn Kiếm, Hạnh pha ấm trà mới. Bà ngồi ở bàn ăn gỗ xoan đào, một mình, chén trà bốc hơi trước mặt, bốn chiếc ghế quanh bàn mà chỉ một chiếc có người ngồi. Chiếc ghế phía trong tựa tường vẫn trống, vẫn ở chỗ cũ, vẫn đúng khoảng cách ông ấy thích, đủ để tựa lưng mà vẫn nhìn ra ngõ qua cửa sổ.

Bà nhìn chiếc ghế đó. Tám tháng nhìn, có lúc muốn vứt, có lúc muốn giữ, có lúc muốn kéo lại gần rồi ngồi vào đó thay ông ấy để xem nhìn ra ngõ có đẹp không. Bà chưa bao giờ ngồi vào ghế đó. Vì ghế đó là của ông ấy, và dù ông ấy đã nói dối ba mươi hai năm, có những thứ vẫn là của ông ấy.

Ông ấy trầm cảm. Ông ấy sợ. Ông ấy yêu mình, yêu cô ấy, yêu cả bốn đứa con, và cái yêu đó xé ông ấy ra mỗi ngày mà ông ấy không nói với ai. Mình nằm cạnh ông ấy ba mươi hai năm, nghe ông ấy thở, nghe ông ấy trở mình, nghe ông ấy thỉnh thoảng thở dài lúc nửa đêm, mà không biết ông ấy đang nghĩ gì.

Mình có lỗi không? Không. Con Minh Anh sẽ nói "không phải lỗi mẹ." Mình biết. Nhưng mình vẫn hỏi, vì hỏi là thói quen, vì ba mươi hai năm mình luôn hỏi "mình thiếu gì" mỗi khi có chuyện. Thiếu gì để ông ấy cần người khác. Thiếu gì để ông ấy không nói thật. Bây giờ mình biết, mình không thiếu gì. Ông ấy thiếu. Thiếu dũng cảm.

Bà uống trà. Nguội rồi, nhưng vẫn uống. Bà nhìn ra cửa sổ, ngõ vắng, đèn vàng, bà bán phở đã dọn xong, vỉa hè ướt vì mưa phùn tối, ánh đèn phản chiếu trên mặt đường lấp lánh kiểu Hà Nội tháng mười một.

Khoảng trống ở chiếc ghế đó không còn đau như trước. Vẫn trống, nhưng bà đã quen với cái trống. Kiểu người quen đi ngang một khoảng sân cũ, biết ở đó từng có cây, gốc cây đã mất, nhưng đất vẫn lõm, và bà không cố lấp, chỉ bước qua.

Ở Long Biên, Trang đứng trên ban công. Gió lạnh hơn, bà khoác thêm áo len mỏng, tay cầm cốc nước ấm, nhìn xuống đường. Xe cộ thưa dần, đèn đường vàng hắt lên tầng mười hai, chậu cúc ở góc ban công, bông cuối cùng cong cánh, sắp rụng mà chưa rụng, kiểu hoa cúc vàng Hà Nội cuối mùa, giữ đến giây cuối rồi mới buông.

Sự thật đầy đủ. Không có gì thêm. Ông Thành đã trả. Luật sư đã giao. Nhật ký đã đọc. Thư đã mở. Hộp gỗ đã mở. Bây giờ mình biết hết. Ông ấy yêu mình. Ông ấy hèn. Ông ấy sợ. Ông ấy đứng ở bệnh viện đêm mình mất con, cầm tay mình mà không dám nói "anh biết." Ông ấy gánh cả hai gia đình suốt hai mươi sáu năm, và cái gánh đó giết ông ấy trước khi ông ấy kịp đặt xuống.

Đủ rồi.

Bà nhìn bông cúc cuối cùng. Cánh hoa vàng nhạt, mỏng, run trong gió. Bà sẽ tưới sáng mai, như mọi sáng, dù hoa sắp hết. Không phải vì ông ấy, không phải vì kỷ niệm, mà vì bà vẫn sống ở đây, vẫn dậy năm giờ, vẫn nấu xôi, vẫn đi làm, vẫn thở. Và người còn sống thì vẫn tưới hoa.

Gió thổi qua ban công, lạnh, nhẹ, mang theo mùi sông Hồng từ phía xa, mùi bùn, mùi nước, mùi mùa đông đang đến. Trang quay vào nhà, đóng cửa ban công, ngồi xuống sofa. Mai đã vào phòng, đèn phòng con gái vẫn sáng qua khe cửa. Đồng hồ treo tường đánh mười một giờ, nhẹ, một tiếng, rồi im.

Bà tắt đèn phòng khách, đi vào phòng mình. Giường rộng, một bên trống. Bà nằm xuống, kéo chăn, nhắm mắt.

Đủ rồi. Không có gì thêm. Đủ rồi.

Ch.63/81
2.684 từ