Tuyến Metro Số 0
Chương 54: Đối tượng cấp A
Chương 54

Đối tượng cấp A

Một giờ sáng. Tunnel Hà Đông, lối cống cũ, đường quen. Khang xuống nhanh hơn những lần trước, chân nhớ đường, tay nhớ vị trí ống dẫn phải cúi, vai nhớ chỗ tường hẹp phải nghiêng. Ba tháng leo xuống lòng đất, cơ thể đã ghi bản đồ bằng cơ bắp thay vì bằng mắt.

Ga 7. An ngồi đúng chỗ, ống dẫn phía nam, chân đung đưa. Gật khi thấy Khang.

– Đêm nay đi đâu?

– Thành Phố. Phía bắc. Có khu cách ly riêng ở đó không?

An nhìn anh. Cậu nghĩ mất vài giây, mắt nhìn xuống ống dẫn rồi nhìn lên.

– Có. Sau tường. Không ai vào. Anh muốn vào?

– Muốn xem.

– Canh gác bởi người dưới. Không phải bảo vệ hệ thống. Cư dân tự quản. Họ canh vì... An dừng, tìm từ. Vì sợ. Người trong đó, nếu ra, sẽ... có chuyện.

Khang nhìn An. Cậu bé nói "sợ" không phải kiểu sợ trẻ con. Là kiểu sợ của người đã thấy, đã biết, đã sống gần. An sinh dưới lòng đất, lớn lên giữa những người mang ký ức lây nhiễm, biết phân biệt ai nguy hiểm ai không, bằng bản năng, bằng kinh nghiệm, bằng cách mẹ cậu dặn: "đừng đến gần tường phía bắc."

– An dẫn tôi đến rìa được không? Tôi tự vào.

An gật. Nhảy xuống khỏi ống dẫn, chân trần không tiếng, dẫn đường.

Hai giờ mười phút theo đồng hồ tay Khang. Qua tunnel phụ ga 7, qua cửa thép ga 11 bằng tín hiệu 121.5 MHz, qua vùng sống im lặng trong ánh đèn ngủ. An đi nhanh hơn mọi khi, bước ngắn nhưng dày, tránh được mọi điểm sáng, mọi góc camera, mọi cửa phòng mở hé. Cậu biết lịch trình bảo vệ đêm nay: ai đi đâu, đến mấy giờ, ngả nào trống.

Không lên tàu T-000-B lần này. An dẫn Khang đi đường bộ: hành lang phụ song song đường ray chính, rộng vừa đủ hai người đi hàng một, trần thấp, ống dẫn chạy dọc tường. Hành lang này không có trên bản đồ K-07 mà Khang đã thấy, có thể đào sau 1992, có thể đào bởi cư dân, có thể đào bởi ai đó muốn có đường đi mà hệ thống không kiểm soát.

Qua ga 12. Qua ga 13. Đến rìa ga 14. An dừng.

– Từ đây em không đi tiếp. Khu cách ly ở phía bắc, sau cổng bê tông. Anh đi thẳng, rẽ phải ở ngã ba thứ hai, thấy tường. Khoảng năm trăm mét.

– Canh gác?

– Hai người. Đổi ca bốn giờ sáng. Bây giờ hai giờ rưỡi, họ mệt. Nhưng không ngủ. Cẩn thận.

Khang gật. An ngồi xuống, lưng tựa tường, chờ. Cậu sẽ chờ ở đây cho đến khi Khang quay lại, kiểu An luôn chờ: im, kiên nhẫn, không hỏi bao lâu.

Khang đi một mình vào Thành Phố Thứ Hai. Lần thứ hai. Lần trước đi từ cửa ga 14 chính, qua hành lang trắng, qua cửa bê tông. Lần này đi từ hành lang phụ, cửa nhỏ, vào rìa phía đông Khu D, khu cũ nhất. Tường sơn đỏ: "Ba mươi năm là đủ." Đèn LED yếu, chế độ đêm, ánh sáng đủ thấy đường nhưng không đủ nhìn rõ mặt. Tốt. Khang cần bóng tối.

Anh đi dọc rìa phía đông, tránh giao lộ có camera, bám tường, đi nhanh. Khu D vắng lúc này, hai giờ rưỡi sáng theo thời gian dưới (khoảng năm giờ sáng theo thời gian trên, nhưng ở đây không ai biết giờ trên). Vài người ngủ trên ghế dài ngoài hiên, một bà cụ ngồi trước cửa nhà, mắt mở nhưng không nhìn, kiểu người ngồi vì không ngủ được và không có gì khác để làm.

Phía bắc. Khang đi qua ranh giới giữa Khu D và vùng chưa đặt tên, nơi nhà thưa dần, đường hẹp, tường hang tự nhiên lộ ra thay vì tường xây. Gian hang thu hẹp ở phía bắc, trần thấp hơn, mười mét thay vì hai mươi, ánh sáng yếu hơn. Có đường mòn dẫn đến cổng bê tông, cổng cao ba mét, rộng hai mét, không khóa nhưng có thanh chắn ngang.

Hai người đứng cạnh cổng. Đàn ông, trung niên, mặc quần áo bình thường, không đồng phục, không vũ khí. Một người cầm đèn pin tắt, một người ngồi trên ghế gấp, hai tay ôm cốc, hơi nước bốc lên. Họ nhìn Khang đi đến.

Khang dừng cách ba mét. Không chạy, không lén, đi thẳng, nhìn thẳng. Trốn ở đây vô nghĩa, vì nếu họ kêu, anh không có đường chạy.

– Ai đó? Người cầm đèn hỏi. Giọng trầm, không gấp, không đe dọa. Kiểu hỏi của người canh cổng mỗi đêm và thường không có ai đến.

– Tôi từ trên xuống. Muốn xem bên trong.

Im lặng. Hai người nhìn nhau. Người ngồi đặt cốc xuống, đứng dậy.

– Từ trên. Ông là người thứ hai.

Người thứ hai. Khang ghi nhận. Có ai đó từ trên đã đến đây trước anh. Ai? Khi nào?

– Người thứ nhất là ai?

– Lâu rồi. Mấy năm trước. Cũng hỏi như ông, cũng muốn xem. Vào, xem, rồi đi. Không quay lại.

Hoàng Duy? Hay ai khác? Khang không hỏi thêm. Không đủ thời gian. Không đủ tin tưởng.

– Tôi chỉ muốn nhìn. Không vào bên trong phòng.

Người cầm đèn nhìn Khang, mắt hẹp, đánh giá. Rồi nhấc thanh chắn.

– Mười lăm phút. Đừng nói chuyện với ai bên trong. Đừng chạm vào cửa phòng. Đừng ở lại lâu.

Khu cách ly. Bên trong cổng bê tông là hành lang dài, rộng bốn mét, trần sáu mét, đèn trắng nhẹ thay vì LED vàng như phần còn lại của Thành Phố. Hai bên hành lang: cửa gỗ, cách nhau bốn mét, mỗi cửa có ô kính nhỏ ở ngang tầm mắt, có mã số sơn trắng trên tường: A-01, A-02, A-03...

Khang đi dọc hành lang. Nhìn qua ô kính.

A-01: phòng rộng khoảng mười hai mét vuông, tường bê tông sơn trắng, giường đơn, bàn nhỏ, ghế, đèn đọc sách. Trên giường, một người đàn ông nằm quay lưng, không nhúc nhích. Mền kéo đến vai. Gối có vỏ bọc sạch. Sàn quét dọn. Ông Thắng. Cựu quân nhân. Người gây sự cố sân vận động. Đang ngủ trong phòng mười hai mét vuông, sạch, có đèn, có giường, có ghế. Không bị trói. Không bị giam trong bóng tối. Đang ngủ.

A-02: phòng tương tự. Trống. Giường gấp gọn, bàn sạch, không ai.

A-03: phòng nhỏ hơn. Cô gái ngồi trên giường, lưng tựa tường, mắt mở, đọc sách dưới đèn đọc. Sách gì Khang không thấy rõ qua ô kính. Lê Thị Liên. Hai mươi lăm tuổi khi phát hiện, bây giờ có thể ba mươi hoặc hơn, nhưng dưới lòng đất thời gian chậm, có thể cô vẫn trông hai mươi bảy, hai mươi tám. Cô đọc sách lúc hai rưỡi sáng, bình thản, không run, không khóc, không gào. Một người tự xin cách ly, sống trong phòng mười mét vuông, đọc sách, chờ ngày không bao giờ đến.

Khang dừng ở cửa A-03. Nhìn qua kính. Cô gái không nhìn lên. Không biết có người đứng ngoài, hoặc biết nhưng không quan tâm, vì người đứng ngoài đến rồi đi, hàng trăm lần, không thay đổi gì.

Anh đi tiếp. A-04: trống. A-05: đàn ông trung niên, ngồi trên ghế, hai tay đặt trên đùi, mắt mở nhìn tường đối diện, không nhúc nhích. Khang đứng nhìn mười giây. Ông ta không chớp mắt. Có thể đang ngủ mở mắt, có thể đang nghĩ, có thể đang không nghĩ gì cả. Dưới lòng đất, ba giờ sáng, trong phòng mười hai mét vuông, ranh giới giữa thức và ngủ mờ đi.

A-06 đến A-09: trống hoặc tối, cửa đóng, không thấy gì qua ô kính. A-10: phụ nữ trung niên, nằm nghiêng, mền kéo kín, chỉ thấy mái tóc xám bạc trên gối. A-11, A-12: trống. Tổng cộng mười hai phòng, bốn người. Trong năm mươi tư đối tượng cấp A mà Duy ghi nhận, bốn người ở đây, còn lại ở đâu? Có khu khác? Hay con số năm mươi tư đã bao gồm cả những người chết, những người biến mất, những người mà Thành Phố Thứ Hai không còn giữ hồ sơ?

Khu cách ly im lặng. Không tiếng la, không tiếng khóc, không tiếng gõ cửa. Im như bệnh viện sau giờ thăm, kiểu im lặng có kỷ luật, không phải im lặng vì sợ mà vì đã chấp nhận.

Cuối hành lang: phòng chung, cửa mở, bên trong có bàn dài, ghế, tủ sách, mấy tấm tranh vẽ tay trên tường (phong cảnh, hoa, mặt trời mà không ai ở đây thấy thật). Có bếp nhỏ, ấm nước, cốc. Phòng sinh hoạt chung cho người cách ly, nơi họ gặp nhau (cùng cấp A, ký ức lây nhau nhưng không gây hại mới vì tất cả đều mang tải ký ức tương đương, đúng như Duy viết trong bài báo).

Khang đứng giữa phòng chung, nhìn xung quanh. Sạch. Có người chăm sóc. Có sách, có bếp, có tranh. Không phải nhà tù. Không phải hầm giam. Là nơi ở, giới hạn, nhưng không phải hành hạ.

Tốt hơn tôi nghĩ. Tệ hơn tôi hy vọng.

Tốt hơn vì không có cảnh bị trói, bị nhốt tối, bị bỏ đói. Cư dân Thành Phố tự quản khu cách ly, canh gác, dọn dẹp, mang thức ăn, vì họ hiểu: người bên trong nguy hiểm, nhưng không ác. Nguy hiểm vì sinh học, không phải vì ý chí. Và cộng đồng đã sống cùng nhau đủ lâu để phân biệt.

Tệ hơn vì dù sạch, dù có sách, dù có tranh, vẫn là phòng mười mét vuông, vẫn là cửa đóng, vẫn là không bao giờ ra ngoài, vẫn là sống mà không có mặt trời, không có gió, không có đám đông, không có quán cà phê, không có bóng đá, không có bất kỳ thứ gì mà bốn tỷ người trên mặt đất coi là bình thường.

Cô Liên đọc sách lúc hai rưỡi sáng vì sách là thứ duy nhất cô có. Không phải vì cô thích đọc, mà vì tường trắng mười mét vuông không có gì khác để nhìn.

Khang quay ra. Người canh nhấc thanh chắn, không hỏi, không nói. Khang đi qua, dừng lại.

– Họ có ra phòng chung không?

– Ban ngày. Ăn cùng, nói chuyện, đọc sách. Tối về phòng riêng.

– Ai quyết định ai vào đây?

Người canh nhìn anh. Im lặng. Rồi:

– Họ tự quyết định. Phần lớn. Họ biết nếu ra ngoài, ở giữa cộng đồng, sẽ có người bị ảnh hưởng. Họ chọn ở đây. Chúng tôi canh không phải vì giữ họ, mà vì... có đêm, một vài người muốn ra. Không phải muốn ra vì khỏe. Muốn ra vì mệt quá. Mệt quá thì không còn kiểm soát được.

Khang gật. Hiểu. Người canh cổng không phải cai tù. Là hàng xóm canh cho nhau, kiểu cộng đồng tự quản mà không có luật pháp, không có tòa án, không có cảnh sát, chỉ có thỏa thuận giữa những người sống cùng nhau dưới lòng đất bốn mươi năm: chúng ta biết ai nguy hiểm, chúng ta bảo vệ nhau, chúng ta giữ họ không phải vì ghét mà vì sợ, và nỗi sợ đó không phải vô cớ.

– Cảm ơn.

Người canh gật. Ngồi lại ghế gấp, ôm cốc, nhìn hành lang trống. Khang quay đi, đi về phía nam, về đường An chờ.

An ngồi đúng chỗ. Gật khi thấy Khang. Không hỏi thấy gì. Đứng dậy, dẫn đường ngược lại, qua hành lang phụ, qua ga 13, 12, 11, qua cửa thép, qua tunnel phụ, lên ga 7.

Khang nhìn đồng hồ tay: bốn giờ mười lăm. Điện thoại bật: bảy giờ hai mươi. Chênh ba giờ năm phút. Tỷ lệ tương đương: gần hai giờ trên cho mỗi giờ dưới, đúng ước tính sơ bộ.

– An. Đêm mai. Một giờ ba mươi. Linh xuống. Tôi ở trên chờ.

– Em biết.

– Cô ấy sẽ hỏi đường đến khu phía đông. Dạy trẻ. Có một người tên Mai ở đó.

An nhìn Khang. Gật. Không hỏi thêm.

Khang lên mặt đất. Vỉa hè Hà Đông, đèn đường, trời sắp sáng. Đi bộ ra đường lớn, gọi xe.

Trên xe, anh nhìn ra cửa kính. Hà Nội thức dần, xe cộ thưa thớt, hàng phở mở cửa, hơi nước bốc từ nồi nước dùng. Thành phố trên mặt đất sống theo ánh sáng, theo mùa, theo giờ. Dưới chân thành phố, một thành phố khác sống theo đèn LED và chu kỳ do người tạo, và ở rìa phía bắc của thành phố đó, một cô gái ngồi đọc sách trong phòng mười mét vuông, vì tường trắng không có gì khác để nhìn, và cô không ra ngoài được, không phải vì ai khóa cửa mà vì nếu cô ra, ai đó sẽ nhớ nỗi đau muốn chết của cô, và ai đó có thể nhảy cầu.

Không phải tất cả là nạn nhân. Một số là giải pháp. Và đó là thứ khiến mọi thứ phức tạp gấp bội.

Xe đến ga Cát Linh. Khang trả tiền, lên căn hộ, đóng cửa. Ngồi xuống bàn. Mở sổ tay, trang hai cột hôm qua.

Gạch bỏ hai cột. Viết lại:

Không phải phơi bày hay không. Phải phơi bày. Nhưng phải có giải pháp cho 54 người trước khi phơi bày.

Đặt bút. Nhìn đồng hồ. Bảy giờ bốn mươi lăm sáng. Đêm mai, Linh xuống. An dẫn.

Và sau đó, không ai biết chuyện gì xảy ra, vì sau đó là Linh và Mai, là chị và em, là ký ức lây nhiễm và tình thương, là hai thứ mà không bảng phân tích rủi ro nào đo được.

Ch.54/91
2.365 từ