Dao động
Ghế nhựa cuối hành lang, lạnh, cứng. Ông Hùng ngồi đó, một mình, cốc nước giấy trên tay mà y tá đưa lúc nào ông không nhớ. Nước nguội, mặt nước phẳng, phản chiếu ánh đèn vàng trên trần, và ông nhìn vào cốc nước mà không uống, vì miệng ông khô nhưng không phải kiểu khô mà nước giải được.
Mười một giờ đêm. Hành lang tầng ba bệnh viện Bạch Mai vắng, chỉ có tiếng quạt thông gió kêu đều, tiếng bước chân y tá trực thỉnh thoảng đi qua, nhẹ, nhanh, tiếng máy theo dõi nhịp tim từ phòng bệnh nào đó bíp bíp xa xăm. Gió đêm qua cửa sổ cuối hành lang thổi mát, mang theo mùi lá bàng ướt, mùi bê tông tỏa hơi nóng ban ngày, mùi đêm Hà Nội mùa hè nồng và ẩm.
Mẹ chưa từng được sống.
Câu đó. Câu con trai nói. Ông nghe rõ, nghe từng chữ, nghe giọng Minh nhẹ mà nặng, nghe sự thật trong giọng đó, kiểu sự thật mà ông không thể nói con sai vì ông biết con không sai, nhưng ông cũng không thể nói bố sai vì sáu mươi ba năm ông chưa từng nói câu đó.
Ông đặt cốc nước lên ghế bên cạnh, tựa lưng vào tường, nhắm mắt. Không ngủ, chỉ nhắm, kiểu nhắm mà ông vẫn nhắm mỗi khi cần nghĩ, kiểu nhắm của người đàn ông quen xử lý mọi thứ bằng đầu, bằng lý trí, bằng phân tích, kiểu nhắm mà bao năm nay ông dùng để sắp xếp mọi vấn đề vào đúng ngăn, đúng hộp, đúng chỗ.
Nhưng tối nay, mọi ngăn đều mở. Mọi hộp đều rỗng. Và ông không biết xếp câu mẹ chưa từng được sống vào đâu.
Ông nghĩ đến Mai. Vợ ông. Người phụ nữ nằm trong phòng bệnh cách đây mười bước chân, mặt xanh, tay gầy, trầm cảm kéo dài. Bác sĩ nói trầm cảm, kiểu nói bình thản, kiểu nói bệnh viện, nhưng ông nghe chữ trầm cảm mà không hiểu, vì trầm cảm là thứ của người yếu đuối, của người nghĩ nhiều, của đàn bà nhạy cảm, và ông luôn tin rằng vợ ông nhạy cảm quá, nghĩ nhiều quá, lo lắng quá, vì ông đã lo hết rồi, ông đã quyết hết rồi, ông đã sắp xếp hết rồi, bà chỉ cần nghe theo thì mọi thứ sẽ ổn.
Nhưng mọi thứ không ổn. Vợ ông nằm bệnh viện. Và con trai ông vừa nói thứ mà ông chưa bao giờ nghĩ đến.
Mẹ không có bạn bè.
Ông nhíu mày. Bạn bè. Ông cố nhớ. Mai có bạn không? Cô Hương, cô bạn thời đi làm, ông nhớ mặt, nhớ lần cô ấy đến nhà ăn cơm, ông nhận xét gì đó, gì nhỉ, tốt nhưng hay nói, hay kiểu người xốc nổi, ông không nhớ chính xác, nhưng ông nhớ sau lần đó Mai ít mời bạn về nhà hơn. Rồi cô Thanh, bạn hàng xóm, ông nói cô ấy tò mò quá, rồi Mai cũng không qua nhà cô Thanh nữa. Rồi dần dần, ông không nhớ lần cuối vợ ông có ai đến thăm, lần cuối bà gọi điện cho bạn, lần cuối bà kể chuyện ai đó ngoài gia đình.
Bà ấy không có bạn sao? Ông tự hỏi, và câu hỏi đó lạ, vì ông chưa bao giờ hỏi, chưa bao giờ nghĩ rằng đó là vấn đề, vì bà có gia đình, có chồng, có con, có nhà, cần bạn bè làm gì khi đã có đủ.
Nhưng bây giờ, trong bóng tối hành lang, ông nhớ ra: danh bạ điện thoại của Mai gần trống. Bà gọi ai khi buồn? Bà kể chuyện gì với ai? Bà nói thôi, không có gì, mẹ quên mất rồi bao nhiêu lần, và mỗi lần, ông bảo kể thì kể cho trọn, và mẹ im, và ông quên, và ngày mai lại thế.
Mẹ không có sở thích.
Ông nghĩ. Sở thích. Mai thích gì? Ông cố nhớ, nhíu mày, tay nắm vào nhau trước ngực, kiểu nắm mà ông vẫn nắm khi đọc báo cáo ở cơ quan, kiểu nắm tập trung, phân tích. Mai thích gì?
Nấu ăn. Bà hay nấu ăn. Nhưng đó có phải sở thích không, hay đó là việc phải làm? Ông nhớ lần bà nấu canh chua miền Nam, ông nói lạ quá, nấu kiểu bình thường đi, bà gật, xin lỗi, và từ đó không bao giờ nấu món đó nữa. Ông nhớ lần bà trồng mấy chậu lan trên sân thượng, ông nói bận bận, vừa nấu ăn vừa trồng hoa lúc nào cho hết, bà dọn chậu đi. Ông nhớ lần bà đọc sách, cuốn sách bìa xanh, ông hỏi đọc gì đấy, tiểu thuyết à, phí thời gian, bà gập sách, cất đi, và ông không thấy cuốn sách đó nữa bao giờ.
Mỗi lần, ông chỉ nói một câu. Một câu nhẹ, không quát, không la, chỉ nhận xét, chỉ góp ý, chỉ nói thế thôi, và mỗi câu nhẹ đó, mỗi góp ý đó, mỗi nhận xét đó, bà đều nghe. Đều gật. Đều xin lỗi. Đều bỏ. Và ông quên, vì ông không bao giờ nghĩ một câu nhẹ có thể nặng, không bao giờ nghĩ góp ý có thể là tước đoạt, không bao giờ nghĩ mỗi lần bà gật thì bà mất thêm một mảnh của chính mình.
Nhưng ta chỉ muốn tốt cho bà ấy.
Câu đó hiện lên trong đầu ông, quen thuộc, ấm áp, kiểu câu mà ông đã dùng cả đời để giải thích mọi thứ mình làm. Muốn tốt. Ông muốn tốt cho Mai. Thật lòng. Ông muốn bà khỏe, muốn nhà ngăn nắp, muốn con cái đàng hoàng, muốn gia đình mẫu mực. Và ông đã được tất cả, nhà ngăn nắp, con trai giỏi, gia đình được khen, tất cả đúng kế hoạch, đúng trật tự, đúng như ông muốn.
Nhưng muốn tốt cho bà ấy hay muốn tốt cho mình?
Câu hỏi đó hiện lên, và ông giật mình, nhẹ, vì ông chưa bao giờ hỏi câu đó, chưa bao giờ phân biệt, vì trong đầu ông, tốt cho bà và tốt cho mình là một, luôn là một, vì ông quyết tốt nhất, ông biết tốt nhất, ông lo tốt nhất.
Ông nhớ lần Mai xếp vali đi Sầm Sơn. Năm hai nghìn mười hai. Vali xanh đậm, vải, quai hơi lỏng, khóa kéo sờn. Bà xếp quần áo vào, cẩn thận, gấp gọn, mấy bộ áo hoa mà ông nhớ bà mua lâu rồi mà ít khi mặc. Bà hỏi ông đi không, giọng nhẹ, giọng hy vọng, kiểu giọng mà bây giờ ông nhớ lại mới nghe ra hy vọng. Ông nói bận. Không giải thích bận gì, vì không cần giải thích, vì ông nói bận thì là bận, và bà gật, dỡ vali, cất lại, khóa kéo kéo ngược lại, quần áo gấp lại vào tủ, và chiếc vali đó từ đó nằm trên nóc tủ, phủ bụi, không bao giờ được mang đi đâu nữa.
Ông không nhớ mình đã nghĩ gì lúc đó. Có lẽ không nghĩ gì. Có lẽ chỉ nghĩ bận, rồi quên, vì chuyến đi Sầm Sơn của vợ không nằm trong danh sách ưu tiên của ông, không nằm trong kế hoạch của ông, và những gì không nằm trong kế hoạch của ông Hùng thì không tồn tại.
Nhưng tối nay, ngồi đây, trong hành lang bệnh viện, ông nhớ chiếc vali xanh đậm, nhớ khóa kéo kéo ngược, nhớ quần áo gấp lại, và ông tự hỏi: lần cuối bà ấy muốn đi đâu là khi nào? Và bao lâu rồi bà ấy không muốn gì nữa?
Ông mở mắt. Nhìn hành lang trống, dài, đèn vàng nhạt, bóng ông ngồi trên ghế kéo dài trên sàn gạch. Yên lặng. Chỉ có tiếng quạt, tiếng gió, tiếng đêm.
Ông cố nhớ nụ cười vợ. Cố nhớ lần cuối Mai cười thật sự, cười kiểu sáng mặt, cười kiểu trước kia, cười kiểu ngày xưa, kiểu trước khi lấy ông. Ông cố nhớ, nhíu mày, lục trong sáu mươi ba năm ký ức, và ông tìm thấy: Mai cười khi Minh tốt nghiệp đại học, cười khi con đi làm, cười khi Lan đến nhà. Nhưng những nụ cười đó, ông nhìn kỹ, trong ký ức, nhìn kỹ hơn bao giờ hết, và nhận ra: đó là nụ cười vì người khác. Vì con. Vì khách. Không phải vì bà.
Bà ấy có khi nào cười vì mình không? Ông tự hỏi. Cười vì bà muốn cười, vì bà vui, vì bà hạnh phúc. Không phải vì ai khác.
Ông không nhớ. Cố lắm, cố nhớ ba mươi năm, cố tìm trong từng bữa cơm, từng buổi tối, từng ngày nghỉ, một nụ cười mà Mai cười vì Mai, chỉ vì Mai, và ông không tìm thấy. Chỉ thấy nụ cười gượng, nụ cười nhẹ nhõm khi ông khen, nụ cười cúi mặt khi ông chê, nụ cười thôi, không sao đâu mỗi khi ai hỏi bà có vui không.
Cốc nước trên ghế bên cạnh, nguội từ lâu. Ông cầm lên, nhìn mặt nước phẳng, thấy phản chiếu mờ khuôn mặt mình trong đó: nếp nhăn, tóc bạc, trán rộng, và đôi mắt mà ông không nhận ra, vì đôi mắt đó mệt, buồn, hoang mang, kiểu mắt mà ông chưa bao giờ thấy trong gương, vì ông không quen nhìn gương lâu, không quen nhìn vào mắt mình, không quen hỏi mình có ổn không, giống như ông không quen hỏi vợ có ổn không.
Ông đặt cốc xuống. Tựa lưng tường. Nhắm mắt lại.
Ta chỉ muốn tốt cho gia đình.
Câu đó vẫn ở đó. Vẫn vang. Nhưng tối nay, lần đầu tiên, nó nghe không chắc. Nghe rỗng. Nghe như chiếc cốc trên tay, đầy mà không giải được khát.
Ông ngồi đến khuya. Không ngủ. Không đi. Không vào phòng bệnh. Không gọi Minh. Chỉ ngồi, trong bóng tối hành lang, một mình.
Một lúc, y tá đi qua, cô gái trẻ, tóc buộc cao, nhìn ông, hỏi nhẹ: bác có cần gì không ạ. Ông lắc đầu, nói cảm ơn cháu, và cô gái đi, bước nhẹ, nhanh, và ông nhìn cô đi mà nghĩ: Mai cũng từng trẻ thế. Mai cũng từng tóc buộc cao, cũng từng đi nhanh, cũng từng cười như thế, cười tự nhiên, cười vì muốn cười. Ông nhớ, mờ mờ, Mai ngày xưa cũng cười kiểu đó, nhưng lâu rồi, lâu đến mức ông không chắc đó là ký ức hay tưởng tượng. Ông chỉ nhớ nụ cười gượng, nụ cười dạ vâng, nụ cười sau mỗi lần ông nhận xét.
Lần đầu tiên trong sáu mươi ba năm, ông Hùng không chắc mình đúng.